|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Tư, ngày 07 tháng 06, 2023 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 75-84. LẤY CÁI HỮU HẠN ĐỂ HIỂU CÁI VÔ LƯỢNG. .
Trọn phẩm Minh Kiến gồm 10 bài kinh có ý nghĩa giống nhau
với những thí dụ khác biệt. Đức Phật dùng nhiều thí dụ qua
sự đơn cử cái nhỏ bé trước mắt để so sánh với những cái vô
cùng tận vượt tầm nhìn. Từ những thí dụ nầy Đức Phật dạy về
cái khổ dư sót của vị thánh tu đà huờn với khổ hải đã đoạn
tận trong dòng sanh tử.
Chúng ta thường
nhận biết sự vật qua cái trước mắt. Nhưng những cái trong
tầm nhìn không phải là tất cả của hiện tượng giới. Những thứ
hiển hiện thật ra quá bé nhỏ so với bao đại thể trong hoàn
vũ. Tuy vậy bằng cách tỷ giảo tương đối chúng ta có thể hiểu
phần nào tỷ lệ chênh lệch khôn cùng giữa những gì đã biết so
với cái không biết. Đức Phật đã dùng rất nhiều dụ ngôn để
dạy về khổ hải so với cái khổ dư sót của bậc chứng sơ quả.
Lãnh hội áo nghĩa nầy tuỳ ở căn tính mà thành tựu được động
lực vượt thoát của nỗi trầm thống trong kiếp nhân sinh.
Kinh Hồ Nước (Pokkharaṇīsuttaṃ)
Tập II – Thiên Nhân Duyên
Chương II. Tương Ưng Minh Kiến (S.ii, 133)
Evaṃ me sutaṃ – ekaṃ samayaṃ bhagavā sāvatthiyaṃ viharati
jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme. Atha kho bhagavā parittaṃ
nakhasikhāyaṃ paṃsuṃ āropetvā bhikkhū āmantesi – ‘‘taṃ kiṃ
maññatha, bhikkhave, katamaṃ nu kho bahutaraṃ, yo vāyaṃ
dutiyasuttādīsu pana vāsaddoyeva dissati] mayā paritto
nakhasikhāyaṃ paṃsu āropito, ayaṃ vā mahāpathavī’’ti?
‘‘Etadeva, bhante, bahutaraṃ, yadidaṃ pokkharaṇiyā udakaṃ.
Appamattakaṃ kusaggena udakaṃ ubbhataṃ. Neva satimaṃ kalaṃ
upeti na sahassimaṃ kalaṃ upeti na satasahassimaṃ kalaṃ
upeti pokkharaṇiyā udakaṃ upanidhāya kusaggena udakaṃ
ubbhata’’nti. ‘‘Evameva kho, bhikkhave, ariyasāvakassa
diṭṭhisampannassa puggalassa abhisametāvino etadeva
bahutaraṃ dukkhaṃ yadidaṃ parikkhīṇaṃ pariyādiṇṇaṃ;
appamattakaṃ avasiṭṭhaṃ. Neva satimaṃ kalaṃ upeti na
sahassimaṃ kalaṃ upeti na satasahassimaṃ kalaṃ upeti purimaṃ
dukkhakkhandhaṃ parikkhīṇaṃ pariyādiṇṇaṃ upanidhāya, yadidaṃ
sattakkhattuṃparamatā. Evaṃ mahatthiyo kho, bhikkhave,
dhammābhisamayo; evaṃ mahatthiyo dhammacakkhupaṭilābho’’ti.
Dutiyaṃ.
Tại
Sàvatthi….
-- Này chư Tỳ khưu,
ví như có một hồ nước bề dài 50 yojana , bề
ngang 50 yojana với với đầy nước mà con quạ đứng trên bờ hồ
có thể uống được. Và một người dùng ngọn cỏ tranh nhúng nước
từ hồ ấy. Các ngươi nghĩ một ít nước trên ngọn cỏ tranh so
với nước trong hồ thì cái nào nhiều hơn?
-- Bạch Đức Thế Tôn, nước
trên đầu ngọn cỏ tranh thì ít ỏi và nước trong hồ nhiều hơn.
Chút ít nước trên đầu ngọn cỏ tranh không bằng một phần
trăm, một phần ngàn, một phần phần trăm ngàn so với nước
trong hồ.
-- Này chư Tỳ khưu,
cũng giống như vậy, một vị thánh đệ tử đã thành tựu được
kiến cụ túc, đã liễu ngộ thì sự đau khổ đã tận diệt thật to
lớn so với cái khổ chút ít còn lại. Cái dư sót không bằng
một phần trăm, một phần ngàn, một phần phần trăm ngàn so với
cái khổ đã chấm dứt, đã diệt tận bởi vì tối đa là bảy kiếp
tái sanh (trong cõi dục). Này
chư Tỳ khưu, như
vậy là lợi lạc to lớn của sự liễu ngộ pháp, của sự chứng đắc
pháp nhãn.
Chú Thích
Theo
Ngài Bodhi thì 1 yojana – hay âm là “do tuần” - khoảng 10
cây số. Những đơn vị đo lường thời cổ đại rất khó biết chính
xác. Có những dị biệt giữa các học giả trong những ước tính
về phương diện nầy.
Thành ngữ
kākapeyya – con quạ
có thể uống nước – trong văn hoá Ấn chỉ cho sự đầy tràn. Như
một hồ nước có bờ đê xây chung quanh có con quạ đứng trên bờ
đề chỉ cúi xuống là uống được như vậy là mặt nước ngang mặt
thành của đê bao bọc.
Kinh
Nước Chỗ Hợp Lưu
(Sambhejjaudakasuttaṃ)
‘‘Etadeva, bhante, bahutaraṃ yadidaṃ sambhejjaudakaṃ;
appamattakāni dve vā tīṇi vā udakaphusitāni ubbhatāni. Neva
satimaṃ kalaṃ upenti na sahassimaṃ kalaṃ upenti na
satasahassimaṃ kalaṃ upenti sambhejjaudakaṃ upanidhāya dve
vā tīṇi vā udakaphusitāni ubbhatānī’’ti. ‘‘Evameva kho,
bhikkhave...pe... dhammacakkhupaṭilābho’’ti. Tatiyaṃ.
Tại
Sàvatthi…
-- Này chư Tỳ khưu,
ví như có một chỗ hợp lưu của các sông như
sông Gangà (sông
Hằng), sông Yamunā, sông Aciravati, sông Sarabhu, sông Mahi.
Rồi một người lấy đi vài ba giọt nước. Các ngươi nghĩ vài ba
giọt nước so với nước tại chỗ hợp lưu thì cái nào nhiều hơn?
-- Bạch Đức Thế Tôn, vài ba
giọt nước đã lấy lên thì ít ỏi và nước tại chỗ hợp lưu nhiều
hơn . Vài ba giọt nước đã lấy lên không bằng một phần trăm,
một phần ngàn, một phần phần trăm ngàn so với nước chỗ hợp
lưu của các con sông.
-- Này chư Tỳ khưu,
cũng giống như vậy, một vị thánh đệ tử đã thành tựu
được kiến cụ túc, đã liễu ngộ thì sự đau khổ đã tận diệt
thật to lớn so với cái khổ chút ít còn lại. Cái dư sót không
bằng một phần trăm, một phần ngàn, một phần phần trăm ngàn
so với cái khổ đã chấm dứt, đã diệt tận bởi vì tối đa là bảy
kiếp tái sanh (trong cõi dục).
Này chư Tỳ khưu,
như vậy là lợi lạc to lớn của sự liễu ngộ pháp, của
sự chứng đắc pháp nhãn.
Kinh
Nước Chỗ Hợp Lưu
II
(Dutiyasambhejjaudakasuttaṃ)
Tập II – Thiên Nhân Duyên Chương II. Tương Ưng Minh Kiến (S.ii, 134)
Sāvatthiyaṃ viharati...pe... ‘‘seyyathāpi, bhikkhave,
yatthimā mahānadiyo saṃsandanti samenti, seyyathidaṃ – gaṅgā
yamunā aciravatī sarabhū mahī, taṃ udakaṃ parikkhayaṃ
pariyādānaṃ gaccheyya ṭhapetvā dve vā tīṇi vā
udakaphusitāni. Taṃ kiṃ maññatha, bhikkhave, katamaṃ nu kho
bahutaraṃ, yaṃ vā sambhejjaudakaṃ parikkhīṇaṃ pariyādiṇṇaṃ
yāni vā dve vā tīṇi vā udakaphusitāni avasiṭṭhānī’’ti?
‘‘Etadeva, bhante, bahutaraṃ sambhejjaudakaṃ yadidaṃ
parikkhīṇaṃ pariyādiṇṇaṃ; appamattakāni dve vā tīṇi vā
udakaphusitāni avasiṭṭhāni. Neva satimaṃ kalaṃ upenti na
sahassimaṃ kalaṃ upenti na satasahassimaṃ kalaṃ upenti
sambhejjaudakaṃ parikkhīṇaṃ pariyādiṇṇaṃ upanidhāya dve vā
tīṇi vā udakaphusitāni avasiṭṭhānī’’ti. ‘‘Evameva kho,
bhikkhave...pe... dhammacakkhupaṭilābho’’ti. Catutthaṃ.
Tại
Sàvatthi….
-- Này chư Tỳ khưu,
ví như có một chỗ hợp lưu của các sông như
sông Gangà (sông
Hằng), sông Yamunā, sông Aciravati, sông Sarabhu, sông Mahi.
Rồi các con sông ấy khô cạn chỉ còn vài ba giọt nước. Các
ngươi nghĩ vài ba giọt nước so với nước tại chỗ hợp lưu
(trước đó) thì cái nào nhiều hơn?
-- Bạch Đức Thế Tôn, vài ba giọt nước còn lại thì ít ỏi và
nước tại chỗ hợp lưu (trước đó) nhiều hơn. Vài ba giọt nước
còn lại không bằng một phần trăm, một phần ngàn, một phần
phần trăm ngàn so với nước chỗ hợp lưu của các con sông
(trước đó).
-- Này chư Tỳ khưu,
cũng giống như vậy, một vị thánh đệ tử đã thành tựu
được kiến cụ túc, đã liễu ngộ thì sự đau khổ đã tận diệt
thật to lớn so với cái khổ chút ít còn lại. Cái dư sót không
bằng một phần trăm, một phần ngàn, một phần phần trăm ngàn
so với cái khổ đã chấm dứt, đã diệt tận bởi vì tối đa là bảy
kiếp tái sanh (trong cõi dục).
Này chư Tỳ khưu,
như vậy là lợi lạc to lớn của sự liễu ngộ pháp, của
sự chứng đắc pháp nhãn.
Kinh
Đất (Pathavīsuttaṃ)
Tập II – Thiên Nhân Duyên Chương II. Tương Ưng Minh Kiến (S.ii, 135)
Sāvatthiyaṃ viharati...pe... ‘‘seyyathāpi, bhikkhave, puriso
mahāpathaviyā satta kolaṭṭhimattiyo guḷikā upanikkhipeyya.
Taṃ kiṃ maññatha, bhikkhave, katamaṃ nu kho bahutaraṃ, yā vā
satta kolaṭṭhimattiyo guḷikā upanikkhittā ayaṃ vā
mahāpathavī’’ti?
‘‘Etadeva, bhante, bahutaraṃ, yadidaṃ mahāpathavī;
appamattikā satta kolaṭṭhimattiyo guḷikā upanikkhittā. Neva
satimaṃ kalaṃ upenti na sahassimaṃ kalaṃ upenti na
satasahassimaṃ kalaṃ upenti mahāpathaviṃ upanidhāya satta
kolaṭṭhimattiyo guḷikā upanikkhittā’’ti. ‘‘Evameva kho,
bhikkhave... pe... dhammacakkhupaṭilābho’’ti. Pañcamaṃ.
Tại
Sàvatthi….
-- Này chư Tỳ khưu,
ví như có một người đặt 7 cục đất lớn bằng hạt táo
trên mặt đất. Các ngươi nghĩ 7 cục đất lớn bằng hạt táo so
với trái đất thì cái nào lớn hơn?
-- Bạch Đức Thế Tôn, 7 cục
đất lớn bằng hạt táo thì ít ỏi và quả đất lớn hơn. 7 cục đất
lớn bằng hạt táo không
bằng một phần trăm, một phần ngàn, một phần phần trăm ngàn
so với trái đất.
-- Này chư Tỳ khưu,
cũng giống như vậy, một vị thánh đệ tử đã thành tựu
được kiến cụ túc, đã liễu ngộ thì sự đau khổ đã tận diệt
thật to lớn so với cái khổ chút ít còn lại. Cái dư sót không
bằng một phần trăm, một phần ngàn, một phần phần trăm ngàn
so với cái khổ đã chấm dứt, đã diệt tận bởi vì tối đa là bảy
kiếp tái sanh (trong cõi dục).
Này chư Tỳ khưu,
như vậy là lợi lạc to lớn của sự liễu ngộ pháp, của
sự chứng đắc pháp nhãn.
Chú Thích
Chữ kolaṭṭhi -
hạt táo - ở đây là “táo Tàu” (như thường có trong thuốc Bắc)
chứ không phải là táo Tây (apple)/
Kinh
Đất II (Dutiyapathavīsuttaṃ)
Tập II – Thiên Nhân Duyên Chương II. Tương Ưng Minh Kiến (S.ii, 136)
Sāvatthiyaṃ viharati...pe... ‘‘seyyathāpi, bhikkhave,
mahāpathavī parikkhayaṃ pariyādānaṃ gaccheyya, ṭhapetvā
satta kolaṭṭhimattiyo guḷikā. Taṃ kiṃ maññatha, bhikkhave,
katamaṃ nu kho bahutaraṃ, yaṃ vā mahāpathaviyā parikkhīṇaṃ
pariyādiṇṇaṃ yā vā satta kolaṭṭhimattiyo guḷikā
avasiṭṭhā’’ti?
‘‘Etadeva bhante, bahutaraṃ, mahāpathaviyā, yadidaṃ
parikkhīṇaṃ pariyādiṇṇaṃ; appamattikā satta kolaṭṭhimattiyo
guḷikā avasiṭṭhā. Neva satimaṃ kalaṃ upenti na sahassimaṃ
kalaṃ upenti na satasahassimaṃ kalaṃ upenti mahāpathaviyā
parikkhīṇaṃ pariyādiṇṇaṃ upanidhāya satta kolaṭṭhimattiyo
guḷikā avasiṭṭhā’’ti. ‘‘Evameva kho, bhikkhave...pe...
dhammacakkhupaṭilābho’’ti. Chaṭṭhaṃ.
Tại
Sàvatthi….
-- Này chư Tỳ khưu, ví như trái đất bị huỷ diệt chỉ còn lại
7 cục đất lớn bằng hạt táo. Các ngươi nghĩ trái đất bị huỷ
diệt so với 7 cục đất lớn bằng hạt táo cái nào lớn hơn?
-- Bạch Đức Thế Tôn, 7
cục đất lớn bằng hạt táo còn dư sót thì ít ỏi và quả đất lớn
đã bị huỷ diệt lớn hơn nhiều . 7 cục đất lớn bằng hạt táo
không bằng một phần
trăm, một phần ngàn, một phần phần trăm ngàn so với trái
đất.
-- Này chư Tỳ khưu,
cũng giống như vậy, một vị thánh đệ tử đã thành tựu
được kiến cụ túc, đã liễu ngộ thì sự đau khổ đã tận diệt
thật to lớn so với cái khổ chút ít còn lại. Cái dư sót không
bằng một phần trăm, một phần ngàn, một phần phần trăm ngàn
so với cái khổ đã chấm dứt, đã diệt tận bởi vì tối đa là bảy
kiếp tái sanh (trong cõi dục).
Này chư Tỳ khưu,
như vậy là lợi lạc to lớn của sự liễu ngộ pháp, của
sự chứng đắc pháp nhãn.
Kinh
Biển (Samuddasuttaṃ)
Tập II – Thiên Nhân Duyên Chương II. Tương Ưng Minh Kiến (S.ii, 136)
Sāvatthiyaṃ viharati...pe... ‘‘seyyathāpi, bhikkhave, puriso
mahāsamuddato dve vā tīṇi vā udakaphusitāni uddhareyya. Taṃ
kiṃ maññatha, bhikkhave, katamaṃ nu kho bahutaraṃ, yāni vā
dve vā tīṇi vā udakaphusitāni ubbhatāni yaṃ vā mahāsamudde
udaka’’nti?
‘‘Etadeva, bhante, bahutaraṃ, yadidaṃ mahāsamudde udakaṃ;
appamattakāni dve vā tīṇi vā udakaphusitāni ubbhatāni. Neva
satimaṃ kalaṃ upenti na sahassimaṃ kalaṃ upenti na
satasahassimaṃ kalaṃ upenti mahāsamudde udakaṃ upanidhāya
dve vā tīṇi vā udakaphusitāni ubbhatānī’’ti. ‘‘Evameva kho,
bhikkhave...pe... dhammacakkhupaṭilābho’’ti. Sattamaṃ.
Tại
Sàvatthi….
-- Này chư Tỳ khưu,
ví như có một người lấy lên vài ba giọt nước từ biển
cả. Các ngươi nghĩ
nước từ đại dương so với vài ba giọt nước được lấy lên cái
nào nhiều hơn?
-- Bạch Đức Thế Tôn, vài ba giọt nước được lấy lên thì ít ỏi
và nước đại dương thì nhiều hơn. Vài ba giọt nước
không bằng một phần
trăm, một phần ngàn, một phần phần trăm ngàn so với nước đại
dương.
-- Này chư Tỳ khưu,
cũng giống như vậy, một vị thánh đệ tử đã thành tựu
được kiến cụ túc, đã liễu ngộ thì sự đau khổ đã tận diệt
thật to lớn so với cái khổ chút ít còn lại. Cái dư sót không
bằng một phần trăm, một phần ngàn, một phần phần trăm ngàn
so với cái khổ đã chấm dứt, đã diệt tận bởi vì tối đa là bảy
kiếp tái sanh (trong cõi dục).
Này chư Tỳ khưu,
như vậy là lợi lạc to lớn của sự liễu ngộ pháp, của
sự chứng đắc pháp nhãn.
Kinh
Biển II (Dutiyasamuddasuttaṃ)
Tập II – Thiên Nhân Duyên Chương II. Tương Ưng Minh Kiến (S.ii, 137)
Sāvatthiyaṃ viharati...pe... ‘‘seyyathāpi, bhikkhave,
mahāsamuddo parikkhayaṃ pariyādānaṃ gaccheyya, ṭhapetvā dve
vā tīṇi vā udakaphusitāni. Taṃ kiṃ maññatha, bhikkhave,
katamaṃ nu kho bahutaraṃ, yaṃ vā mahāsamudde udakaṃ
parikkhīṇaṃ pariyādinnaṃ yāni vā dve vā tīṇi vā
udakaphusitāni avasiṭṭhānī’’ti?
‘‘Etadeva, bhante, bahutaraṃ mahāsamudde udakaṃ, yadidaṃ
parikkhīṇaṃ pariyādiṇṇaṃ; appamattakāni dve vā tīṇi vā
udakaphusitāni avasiṭṭhāni. Neva satimaṃ kalaṃ upenti na
sahassimaṃ kalaṃ upenti na satasahassimaṃ kalaṃ upenti
mahāsamudde udakaṃ parikkhīṇaṃ pariyādiṇṇaṃ upanidhāya dve
vā tīṇi vā udakaphusitāni avasiṭṭhānī’’ti. ‘‘Evameva kho
bhikkhave...pe... dhammacakkhupaṭilābho’’ti. Aṭṭhamaṃ.
Tại
Sàvatthi….
-- Này chư Tỳ khưu,
ví như biển cả khô cạn chỉ còn lại vài ba giọt nước.
Các ngươi nghĩ nước
từ đại dương (trước đó) đã khô cạn so với vài ba giọt nước
dư sót cái nào
nhiều hơn?
-- Bạch Đức Thế Tôn, vài ba giọt nước dư sót
thì ít ỏi và nước đại dương (trước đó) đã khô cạn
thì nhiều hơn. Vài ba
giọt nước không bằng
một phần trăm, một phần ngàn, một phần phần trăm ngàn so với
nước đại dương.
-- Này chư Tỳ khưu,
cũng giống như vậy, một vị thánh đệ tử đã thành tựu
được kiến cụ túc, đã liễu ngộ thì sự đau khổ đã tận diệt
thật to lớn so với cái khổ chút ít còn lại. Cái dư sót không
bằng một phần trăm, một phần ngàn, một phần phần trăm ngàn
so với cái khổ đã chấm dứt, đã diệt tận bởi vì tối đa là bảy
kiếp tái sanh (trong cõi dục).
Này chư Tỳ khưu,
như vậy là lợi lạc to lớn của sự liễu ngộ pháp, của
sự chứng đắc pháp nhãn.
Kinh
Núi
(Pabbatasuttaṃ)
Tập II – Thiên Nhân Duyên Chương II. Tương Ưng Minh Kiến (S.ii, 138)
Sāvatthiyaṃ viharati...pe... ‘‘seyyathāpi, bhikkhave, puriso
himavato pabbatarājassa satta sāsapamattiyo pāsāṇasakkharā
upanikkhipeyya. Taṃ kiṃ maññatha, bhikkhave, katamaṃ nu kho
bahutaraṃ, yā vā satta sāsapamattiyo pāsāṇasakkharā
upanikkhittā yo vā himavā pabbatarājā’’ti?
‘‘Etadeva, bhante, bahutaraṃ yadidaṃ himavā pabbatarājā;
appamattikā satta sāsapamattiyo pāsāṇasakkharā upanikkhittā.
Neva satimaṃ kalaṃ upenti na sahassimaṃ kalaṃ upenti na
satasahassimaṃ kalaṃ upenti himavantaṃ pabbatarājānaṃ
upanidhāya satta sāsapamattiyo pāsāṇasakkharā
upanikkhittā’’ti. ‘‘Evameva kho...pe...
dhammacakkhupaṭilābho’’ti. Navamaṃ.
Tại
Sàvatthi….
-- Này chư Tỳ khưu,
ví như có một người đặt 7 viên sỏi bằng hạt cải trên
núi Hy mã lạp – núi vua các núi . Các ngươi nghĩ 7 viên sỏi
bằng hạt cải so với núi Hy mã lạp thì cái nào lớn hơn?
-- Bạch Đức Thế Tôn, 7 viên sỏi bằng hạt cải thì ít ỏi và
núi Hy mã lạp – núi vua các núi -
lớn hơn. 7 viên sỏi
bằng hạt cải không
bằng một phần trăm, một phần ngàn, một phần phần trăm ngàn
so với núi Hy mã lạp.
-- Này chư Tỳ khưu,
cũng giống như vậy, một vị thánh đệ tử đã thành tựu
được kiến cụ túc, đã liễu ngộ thì sự đau khổ đã tận diệt
thật to lớn so với cái khổ chút ít còn lại. Cái dư sót không
bằng một phần trăm, một phần ngàn, một phần phần trăm ngàn
so với cái khổ đã chấm dứt, đã diệt tận bởi vì tối đa là bảy
kiếp tái sanh (trong cõi dục).
Này chư Tỳ khưu,
như vậy là lợi lạc to lớn của sự liễu ngộ pháp, của
sự chứng đắc pháp nhãn.
Chú Thích
Chữ
pabbatarājā
– núi vua các núi – nghĩa là dãy núi lớn nhất trên trái đất.
Ở đây không dịch là “vua núi” vì có thể hiểu lầm là một con
người nào đó làm vua. Môn địa lý ngày nay cũng xác định là
Hy mã lạp sơn là dãy núi lớn nhất trên trái đất.
Kinh
Núi
II
(Dutiyapabbatasuttaṃ)
Tập II – Thiên Nhân Duyên Chương II. Tương Ưng Minh Kiến (S.ii, 138)
Sāvatthiyaṃ viharati...pe... ‘‘seyyathāpi, bhikkhave, himavā
pabbatarājā parikkhayaṃ pariyādānaṃ gaccheyya, ṭhapetvā
satta sāsapamattiyo pāsāṇasakkharā. Taṃ kiṃ maññatha,
bhikkhave, katamaṃ nu kho bahutaraṃ, yaṃ vā himavato
pabbatarājassa parikkhīṇaṃ pariyādiṇṇaṃ yā vā satta
sāsapamattiyo pāsāṇasakkharā avasiṭṭhā’’ti?
Etadeva, bhante, bahutaraṃ himavato pabbatarājassa yadidaṃ
parikkhīṇaṃ pariyādiṇṇaṃ; appamattikā satta sāsapamattiyo
pāsāṇasakkharā avasiṭṭhā. Neva satimaṃ kalaṃ upenti na
sahassimaṃ kalaṃ upenti na satasahassimaṃ kalaṃ upenti
himavato pabbatarājassa parikkhīṇaṃ pariyādiṇṇaṃ upanidhāya
satta sāsapamattiyo pāsāṇasakkharā avasiṭṭhā’’ti.
‘‘Evameva kho, bhikkhave, ariyasāvakassa diṭṭhisampannassa
puggalassa abhisametāvino etadeva bahutaraṃ dukkhaṃ yadidaṃ
parikkhīṇaṃ pariyādiṇṇaṃ; appamattakaṃ avasiṭṭhaṃ. Neva
satimaṃ kalaṃ upeti na sahassimaṃ kalaṃ upeti na
satasahassimaṃ kalaṃ upeti purimaṃ dukkhakkhandhaṃ
parikkhīṇaṃ pariyādiṇṇaṃ upanidhāya yadidaṃ
sattakkhattuṃparamatā. Evaṃ mahatthiyo kho, bhikkhave,
dhammābhisamayo, evaṃ mahatthiyo dhammacakkhupaṭilābho’’ti.
Dasamaṃ.
Tại
Sàvatthi….
-- Này chư Tỳ khưu,
núi Hy mã lạp bị huỷ diệt chỉ còn lại 7 viên sỏi bằng
hạt cải. Các ngươi nghĩ 7 viên sỏi bằng hạt cải so với núi
Hy mã lạp – núi vua các núi -
thì cái nào lớn hơn?
-- Bạch Đức Thế Tôn, 7 viên sỏi bằng hạt cải thì ít ỏi và
núi Hy mã lạp – núi vua các núi - (trước đó) đã bị huỷ diệt
lớn hơn. 7 viên sỏi bằng hạt cải
không bằng một phần
trăm, một phần ngàn, một phần phần trăm ngàn so với núi Hy
mã lạp.
-- Này chư Tỳ khưu,
cũng giống như vậy, một vị thánh đệ tử đã thành tựu
được kiến cụ túc, đã liễu ngộ thì sự đau khổ đã tận diệt
thật to lớn so với cái khổ chút ít còn lại. Cái dư sót không
bằng một phần trăm, một phần ngàn, một phần phần trăm ngàn
so với cái khổ đã chấm dứt, đã diệt tận bởi vì tối đa là bảy
kiếp tái sanh (trong cõi dục).
Này chư Tỳ khưu,
như vậy là lợi lạc to lớn của sự liễu ngộ pháp, của
sự chứng đắc pháp nhãn. Kinh Núi III (Tatiyapabbatasuttaṃ) Tập II – Thiên Nhân Duyên Chương II. Tương Ưng Minh Kiến (S.ii, 138)
Sāvatthiyaṃ viharati...pe... ‘‘seyyathāpi, bhikkhave, puriso
sinerussa pabbatarājassa satta muggamattiyo pāsāṇasakkharā
upanikkhipeyya. Taṃ kiṃ maññatha, bhikkhave, katamaṃ nu kho
bahutaraṃ, yā vā satta muggamattiyo pāsāṇasakkharā
upanikkhittā yo vā sineru pabbatarājā’’ti?
‘‘Etadeva, bhante, bahutaraṃ yadidaṃ sineru pabbatarājā;
appamattikā satta muggamattiyo pāsāṇasakkharā upanikkhittā.
Neva satimaṃ kalaṃ upenti na sahassimaṃ kalaṃ upenti na
satasahassimaṃ kalaṃ upenti sineruṃ pabbatarājānaṃ
upanidhāya satta muggamattiyo pāsāṇasakkharā
upanikkhittā’’ti. ‘‘Evameva kho, bhikkhave, ariyasāvakassa
diṭṭhisampannassa puggalassa adhigamaṃ upanidhāya
aññatitthiyasamaṇabrāhmaṇaparibbājakānaṃ adhigamo neva
satimaṃ kalaṃ upeti na sahassimaṃ kalaṃ upeti na
satasahassimaṃ kalaṃ upeti. Evaṃ mahādhigamo, bhikkhave,
diṭṭhisampanno puggalo, evaṃ mahābhiñño’’ti.
Tại
Sàvatthi….
-- Này chư Tỳ khưu,
ví như có một người đặt 7 viên sỏi bằng hạt đậu trên
núi Tu di – núi vua các núi . Các ngươi nghĩ 7 viên sỏi bằng
hạt đậu so với núi Tu di thì cái nào lớn hơn?
-- Bạch Đức Thế Tôn, 7 viên sỏi bằng hạt đậu thì ít ỏi và
núi Tu di – núi vua các núi -
lớn hơn. 7 viên sỏi bằng hạt đậu
không bằng một phần
trăm, một phần ngàn, một phần phần trăm ngàn so với núi Tu
di.
-- Này chư Tỳ khưu,
cũng giống như vậy, một vị thánh đệ tử đã thành tựu
được kiến cụ túc, đã liễu ngộ thì sự đau khổ đã tận diệt
thật to lớn so với cái khổ chút ít còn lại. Cái dư sót không
bằng một phần trăm, một phần ngàn, một phần phần trăm ngàn
so với cái khổ đã chấm dứt, đã diệt tận bởi vì tối đa là bảy
kiếp tái sanh (trong cõi dục).
Này chư Tỳ khưu,
như vậy là lợi lạc to lớn của sự liễu ngộ pháp, của
sự chứng đắc pháp nhãn.
Chú Thích
Theo Phật học và văn hoá Ấn thì núi Tu Di –
Sineru – là núi lớn nhất trong hệ thống thế giới mà chúng ta
đang sống. Núi Tu Di
thuộc sắc tế không thể thấy bằng nhục nhãn. Trên đỉnh
Tu Di là cõi trời Đao Lợi. Tỳ kheo Giác Đẳng soạn dịch.
-ooOoo- |