BÀI HỌC HẰNG NGÀY

Chủ Nhật, 11 tháng 06, 2023

MÔN HỌC PĀLI PHÁP CÚ

XI. PHẨM GIÀ (Jarāvagga)

Gồm 11 bài kệ với 9 duyên sự


 - Kệ số 6 (dhp 151)
 

Duyên sự:

Bài kệ nầy đức Phật thuyết khi Ngài trú tại Jetavana ở thành Sāvatthi, vì chuyện hoàng hậu Mallikā băng hà khiến đức vua Pasenadi ưu sầu.

Hoàng hậu Mallikā là một cận sự nữ của đức Phật, bà có tâm mộ đạo nhiệt thành. Bà là người khôn khéo trí tuệ, một trợ lý đắc lực của vua Pasenadi, bà đã nhiều phen gỡ rối cho nhà vua tránh được những việc làm ác nghiệp như việc tế thần lữa…v.v...Và bà cố vấn cho vua thực hiện lễ cúng dường vô song thí (asadisadāna). Vua Pasenadi rất quí hoàng hậu.

Mặc dù đã làm nhiều thiện sự như vậy nhưng lúc lâm chung hoàng hậu Mallikā không nhớ đến việc thiện đã làm mà lại nhớ ác nghiệp bà đã dối gạt phu quân là vua Pasenadi, một người thật thà. Do tâm ray rức, hoàng hậu Mallikā chết sanh vào địa ngục.

Hoàng hậu Mallikā chết, nhà vua rất đau khổ vì trong số các người vợ, vua Pasenadi sũng ái hoàng hậu Mallikā nhất.

Đức vua có ý định sau lễ hoả táng hoàng hậu, sẽ đến chùa hỏi đức Phật về cảnh giới tái sanh của hoàng hậu.

Hôm sau vua ngự giá đến chùa Jetavana, vào đảnh lễ đức Thế tôn. Đức Phật khiến nhà vua quên hỏi chuyện tái sanh của hoàng hậu Mallikā.

Ngày thứ hai vua cũng quên hỏi, cho đến ngày thứ bảy vua đến chùa cũng quên hỏi. Vì sao đức Phật khiến nhà vua quên hỏi? Vì đức Phật biết hoàng hậu Mallikā sanh vào địa ngục có bảy ngày thôi, ngày thứ tám hoàng hậu sẽ tái sanh lên cõi trời Đâu Suất (tusita), nếu trong bảy ngày vua hỏi và đức Phật cho biết hoàng hậu tái sanh cõi địa ngục thì vua sẽ khởi tà kiến, mất niềm tin tạo phước và có thể phỉ báng tam bảo nữa, nên Ngài đã khiến vua mỗi ngày đến chùa quên hỏi chuyện tái sanh của hoàng hậu.

Qua ngày thứ tám, đức Phật biết hoàng hậu Mallikā đã thoát khỏi địa ngục và sanh về cõi trời Đâu Suất. Sáng hôm ấy đức Phật vào thành khất thực, Ngài ngự đến hoàng cung. Đức vua Pasenadi nghe quân báo tin, liền thân hành đến đón tiếp đức Phật, rước bình bát của Ngài và thỉnh vào nội cung. Đức Phật tỏ ý muốn ngồi nơi nhà xe hoàng gia. Vua hội ý, bèn thỉnh Ngài ngự toạ trong nơi trang trọng ấy, rồi cho người dâng cúng đức Phật thức ăn điểm tâm.

Đức vua đảnh lễ Phật và ngồi xuống một bên, bạch rằng: “Trẫm ý định hỏi Thế tôn về cõi tái sanh của hoàng hậu Mallikā nhưng suốt bảy ngày qua, khi đến chùa trẫm đều quên hỏi. Bạch Thế tôn, hiện nay hoàng hậu Mallikā tái sanh cảnh giới nào?”.

“Thưa đại vương, lịnh bà sanh lên cõi trời Đâu Suất”

Vua Pasenadi nghe vậy rất hài lòng, bạch với đức Phật về công hạnh và trí tuệ của hoàng hậu; Hoàng hậu xứng đáng sanh về cõi trời ấy.

Đức vua cũng nói thêm: “Bạch Thế tôn, từ khi nàng mệnh chung, lòng trẫm đau khổ, thân thể bất an”.

Đức Phật bèn an ủi nhà vua:

“Đại vương chớ nên ưu sầu, sanh tử là lẽ thường đối với tất cả chúng sanh”.

Rồi đức Phật chỉ vào chiếc long xa cũ kỹ, hỏi: “xe nầy của ai?”.

Vua đáp: “Bạch Thế tôn, chiếc xe nầy của Tiên vương trẫm; còn xe nầy là của phụ vương trẫm; còn xe nầy là của trẫm”.

Đức Phật nói với vua: “Xe vua dù lộng lẫy nhưng qua thời gian sữ dụng cũng phải hư cũ, xe của tiên đế cũ hơn xe của phụ thân đại vương, xe của phụ thân đại vương cũ hơn xe của đại vương. Vật chất còn phải già cũ huống chi là xác thân tứ đại.

Nói xong, đức Phật thuyết bài kệ: Jīranti ve rājarathā sucitta…santo have sabbhi pavedayantī’ti.

Đức vua nghe pháp xong dứt nỗi ưu phiền, và những người có mặt nơi ấy cũng được nhiều lợi ích.

Chánh văn:

(dhp 151)

6. Jīranti ve rājarathā sucittā
Atho rarīrampi jaraṃ upeti
Satañca dhammo na jaraṃ upeti
Santo have sabbhi pavedayanti.

Thích văn:

Jīranti [ động từ tiến hành cách, ngôi III, số nhiều, “căn jir  + a” ] già, cũ kỹ, hao mòn.
Ve [ bất biến từ ] quả thật, thật vậy.
Rājarathā [ chủ cách, số nhiều, nam tính, hợp thể danh từ rāja + ratha ] những chiếc long xa, những cỗ xe của vua.
Sucittā [ chủ cách, số nhiều, nam tính, hợp thể tính từ Su + citta ] khéo trang trí, khéo vẽ vời, lộng lẫy, đẹp rực rở.
Atho [ bất biến từ ] thế thì, rồi thì.
Sarīsampi [ hợp âm “ sarīraṃ api” ]
Sarīraṃ [ chủ cách, số ít, danh từ trung tính sarīra ] thân thể, thân xác.
Api [ bất biến từ ] cũng, cũng là.
Jaraṃ [ đối cách, số ít, danh từ nữ tính jarā ] sự già nua, sự cũ kỹ, sự tàn tạ.
Upeti [ động từ tiến hành cách, ngôi III, số ít, “upa + căn i  + a” ] tiến đến, đến gần, đi đến.
Satañca [ hợp âm “sataṃ ca” ]
Sataṃ [ sở thuộc cách, số nhiều, danh từ nam tính biệt ngữ santa ] của các bậc tịnh giã, của các bậc thánh đức.
Dhammo [ chủ cách, số ít, danh từ nam tính dhamma ] pháp, giáo pháp, pháp cốt lõi.
Santo [ chủ cách, số nhiều, danh từ nam tính biệt ngữ santa ] bậc tịnh giã, bậc thánh đức.
Have [ bất biến từ ] thật vậy, quả thật.
Sabbhi [ sở dụng cách, số nhiều, danh từ nam tính biệt ngữ santa ] với các bậc tịnh giã, với các bậc thánh đức.
Pavedayanti [động từ tiến hành cách, ngôi III, số nhiều. “pa + căn vid  + e/aya”] tuyên bố, tuyên thuyết.

Việt văn:

(pc 151)

6. Xe vua đẹp cũng tàn
thân xác cũng già nua
Pháp Thánh đức không cũ
Bậc Thánh truyền bậc thánh.

Chuyển văn:

Sucittā rājarathā ve jīranti atho sarīraṃ api jaraṃ upeti sataṃ dhammo ca jaraṃ na upeti santo sabbhi have pavedayanti.

Xe vua có trang trí đẹp rồi cũng tàn tạ, thân xác rồi cũng bị già nua. Chỉ có pháp cũa bậc Thánh đức là không hư cũ, các bậc thánh đức với các bậc thánh đức cứ truyền thừa.

Lý giải:

Bài kệ nầy có ý nghĩa khá đặc biệt.

Ở hai câu đầu của bài kệ, đức Phật thuyết vì đức vua Pasenadi, an ủi nhà vua, giúp nhà vua giải toã sầu muộn thương tiếc hoàng hậu khả ái. Đức Phật đang ngự trong phòng lưu giữ hiện vật các long xa của những đời vua trước, Ngài chỉ cho vua thấy chiếc xe của tiên đế bây giờ đã hư cũ tàn tạ mặc dù xưa kia cũng được trang trí lộng lẫy, lần lượt tới chiếc long xa của vua thế hệ kế tục cũng dần hư mòn, đến xe của vua hiện tại rồi cũng sẽ tàn, đức Phật thí dụ cho thấy thân chúng sanh rồi cũng phải già và chết.

Ở hai câu sau của bài kệ, đức Phật chuyển qua một ý nghĩa khác để trợ duyên cho vua Pasenadi. Nghe rằng vua Pasenadi Kosala trong tương lai sẽ thành bậc Chánh đẳng Giác có hiệu danh Dhammarājamuni, vị thứ ba trong mười vị Phật tương lai, sẽ đắc đạo trong quả địa cầu sau.

Chỉ có pháp bậc Thánh là không hư cũ ( Satañca dhammo na jaraṃ upeti ) _ Pháp ( dhammo ) ở đây là chín pháp siêu thế, pháp ( navavidho lokuttaradhammo ) tức bốn đạo, bốn quả và níp bàn _ của bậc thánh đức ( satañca ) là của chư Phật (buddhānaṃ). Vạn vật trong đời phải già cũ hư mòn theo thời gian, nhưng pháp giải thoát thì không già cũ, hể còn có người hành đúng chánh đạo thì chứng đạo quả níp bàn dù thời gian nào.

Bậc thánh đức với bậc thánh đức cứ truyền thừa ( santo have sabbhi pavedayanti), chư Phật ba đời, hết thời Phật nầy đến thời Phật khác đều tuyên thuyết giáo pháp cho chúng sanh hữu trí thức hành đạt đến đạo quả chứng ngộ níp bàn để chấm dứt khổ luân hồi./.

 

 Biên soạn giáo trình: Tỳ kheo Tuệ Siêu.

@@@@@@@@@@@@@@@@@@

Hướng dẫn cách cài đặt và gõ chữ Pali

Quý vị vào link bên dưới để xem hướng dẫn cách cài đặt và cách thức gõ.

Gõ Pāli và Sanskrit trên Windows 10

https://tienvnguyen.net/a704/phong-chu-pali-unicode-unicode-pali-fonts

Gõ Tiếng Việt trên Windows 10

http://unikey.vn/vietnam/

 

 

-ooOoo- /span>