BÀI HỌC HẰNG NGÀY

Thứ Năm, 15 tháng 06, 2023

MÔN HỌC PĀLI PHÁP CÚ

XI. PHẨM GIÀ (Jarāvagga)

Gồm 11 bài kệ với 9 duyên sự


 - Kệ số 7 (dhp 152)
 

7. Người ít nghe kém học
lớn già như bò đực
bắp thịt nó phát triển
trí tuệ không tăng trưởng.

Duyên sự:

Bài kệ nầy được đức Phật thuyết khi Ngài ngự tại Jetavana thành Sāvatthi, vì câu chuyện của trưởng lão Lāḷudāyi.

Tương truyền, trưởng lão Lāḷudāyi có tật nói pháp không đúng chỗ. Khi đến nhà cư sĩ đang làm lễ cát tường (maṅgala)  thỉnh nói pháp thì vị ấy lại nói kinh hồi hướng vong linh (avamaṅgala). Rồi khi đến những nhà gia chủ làm lễ hồi hướng vong linh, thì lại nói pháp cát tường như kinh Maṅgalasutta…v.v…chư tăng đi theo trưởng lão Lāḷudāyi ngồi nghe rất khó chịu và các cư sĩ gia chủ cũng không hoan hỷ.

Trưởng lão Lāḷudāyi không tự biết mình thuyết nói kinh trái ngược, không đúng chỗ; Riết rồi thành cố tật không sửa được.

Chư tỳ kheo đem việc trưởng lão Lāḷudāyi nói pháp thuyết kinh trái ngược như thế, bạch trình với đức Phật.

Đức Phật nói chẳng phải kiếp nầy Lāḷudāyi phát biểu không đúng việc, mà trong kiếp quá khứ Lāḷudāyi cũng đã lẩm cẩm phát ngôn rồi.

Theo lời thỉnh cầu của chư Tăng, đức Phật thuật lại bổn sanh Somadatta. Tiền thân của trưởng lão Lāḷudāyi là người bà la môn Aggidatta, cha của Somadatta. Bà la môn Aggidatta có nuôi hai con bò để cày ruộng, chẳng may bị chết một con. Người cha bảo người con vào triều xin vua cho nhà một con bò khác.

Bồ tát Somadatta là quan cận thần của vua, luôn hoàn thành trách nhiệm nên vua rất yêu mến. Bồ tát nghĩ tự mình xin xỏ vua ban thưởng thì không phải lẽ, nên bảo cha hãy đích thân vào triều xin vua cho con bò. Và bồ tát Somadatta dạy một bài kệ để cha xin bò. Nhưng người cha lẩm cẩm, thay vì nói:

Thần có hai con bò
dùng chúng mà cày ruộng
một con, nay đã chết
xin cho con thứ hai.

Ông bà la môn lại nói ngược:

Thần có hai con bò
dùng chúng mà cày ruộng
một con, nay đã chết
hãy lấy con thứ hai.

Đức vua nghe vậy mỉm cười quay sang cận thần Somadatta hỏi: “Nhà của khanh chắc nhiều bò lắm nhỉ?”_Bồ tát lanh trí đáp: “Tâu, bò được bệ hạ ban cho, sẽ có nhiều.”

Đức vua rất hài lòng với câu trả lời thông minh của bồ tát, nên ban cho mười sáu con bò và nhiều tặng phẩm.

Sau khi nhắc bổn sanh, đức Phật nhận diện: “Đức vua thời ấy là Ānanda, vị đại thần Somadatta là ta bây giờ, bà la môn Aggidatta nay là tỳ kheo Lāḷudāyi. Lāḷudāya đã quen lẩm cẩm nói lời trái ngược. Này chư tỳ kheo, người thiển cận ít học hỏi, trí tuệ không tăng trưởng mà chỉ phát triển bắp thịt thôi”.

Rồi, đức Phật nói lên bài kệ: Appassut’ āyaṃ puriso…paññā tassa na vaḍḍhatī’ti.

Cuối thời pháp, có nhiều vị tỳ kheo trú vào thánh quả.

Chánh văn:

(dhp 152)

7. Appassut’ āyaṃ puriso
balivaddo’ va jīrati
maṃsāni tassa vaḍḍhanti
paññā tassa na vaddhati.                      

Thích văn:

Appassut’ āyaṃ [ hợp âm “appassuto ayaṃ” ].
Appassuto [ chủ cách, số ít, nam tính, hợp thể tính từ appa + suta ( quá khứ phân từ của suṇāti) ] ít nghe, ít học, thiểu văn.
Ayaṃ [ chủ cách, số ít, nam tính, chỉ thị đại từ ima ] nầy, người nầy.
Puriso [ chủ cách, số ít, danh từ nam tính purisa ] người đàn ông; con người.
Balivaddo’ va [ hợp âm “balivaddo iva” ].
Balivaddo [ chủ cách, số ít, danh từ nam tính balivadda ] con bò đực.
Iva [ bất biến từ tỷ giảo ] ví như, như thể là.
Jīrati [ động từ biến hành cách, ngôi III, số ít, “căn jir + a” ] lớn già, già cả.
Maṃsāni [ chủ cách, số nhiều, danh từ trung tính maṃsa ] thịt, bắp thịt, cơ bắp.
Tassa [ sở thuộc cách, số ít, chỉ thị đại từ ta ] của nó, của người ấy.
Vaḍḍhanti [ động từ tiến hành cách, ngôi III, số nhiều. Vaḍḍhati ngôi III, số ít. “căn vaḍḍh + a” ] phát triển, tăng trưởng, lớn mạnh.
Paññā [ chủ cách, số ít, danh từ nữ tính paññā ] trí tuệ.

Việt văn:

(pc 152)

7. Người ít nghe kém học
lớn già như bò đực
bắp thịt nó phát triển
trí tuệ không tăng trưởng.

Chuyển văn:

Ayaṃ appassuto puriso balivaddo iva jīrati tassa maṃsāni vaḍḍhanti tassa paññā na vaḍḍhati.

Con người ít học lớn già như con bò, bắp thịt của nó lớn mạnh, nhưng trí tuệ của nó không tăng trưởng.

Lý giải:

Người ít học nầy ( Appassuto ayaṃ puriso ). Đức Phật dùng đại từ “ayaṃ” (nầy) là chỉ cho tỳ kheo Lāḷudāyi trong câu chuyện. Người ít học (appassuto puriso) là nói đến một vị tỳ kheo dốt Phật Pháp, không chịu học hỏi từ các vị thầy, không chịu nghe các vị đa văn thuyết giảng, không nắm được nghĩa lý của tam tạng hay một tạng giáo pháp, thậm chí một bài kinh cũng không biết. Đó gọi là người ít học.

Nhưng đối với một vị tỳ kheo có chú tâm nghe thầy tế độ hay thầy giáo thọ dạy cho một pháp môn hoặc một đề mục thiền, tỳ kheo ấy ghi nhớ và nổ lực hành trì, thì tỳ kheo ấy cũng gọi là người có học (Sutavā).

Người ít nghe ít học sống trong giáo pháo nầy chỉ lớn già như con bò phát triển bắp thịt, chứ trí tuệ không tăng trưởng.

Trí tuệ của bậc xuất gia cần phải tăng trưởng cả ba loại trí là trí văn (sutamayā paññā), trí tư (cintamayā paññā) và trí tu (bhāvanāmayā paññā).

Trí văn là trí tuệ do học hỏi, do nghe từ người khác.

Trí tư là trí tuệ do suy luận, do thẫm nghiệm.

Trí tu là trí tuệ sanh theo thiền chứng, trí tuệ đắc đạo quả.

Bài kệ nầy cũng có thể hiểu rộng, người sống trong cuộc đời nầy khác với loài thú vật ở chổ trí tuệ. Con người ít học dốt nát, họ trưởng thành thể xác nhưng không trưởng thành trí tuệ thì có khác gì loài thú vật đâu! Cũng chỉ là động vật có xương sống./.

 Biên soạn giáo trình: Tỳ kheo Tuệ Siêu.

@@@@@@@@@@@@@@@@@@

Hướng dẫn cách cài đặt và gõ chữ Pali

Quý vị vào link bên dưới để xem hướng dẫn cách cài đặt và cách thức gõ.

Gõ Pāli và Sanskrit trên Windows 10

https://tienvnguyen.net/a704/phong-chu-pali-unicode-unicode-pali-fonts

Gõ Tiếng Việt trên Windows 10

http://unikey.vn/vietnam/

 

 

-ooOoo- /span>