|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Năm, 29 tháng 06, 2023 MÔN HỌC PĀLI PHÁP CÚ XII. PHẨM TỰ THÂN (Attavagga) Gồm 10 bài kệ với 10 duyên sự - Kệ số 1 (dhp 157)
Duyên sự:
Bài kệ nầy đức Phật thuyết cho vương tử Bodhi nghe.
Khi đức Phật trú tại Bhesakaḷā. Vương tử Bodhi cho thợ mộc
kiến tạo một lâu đài bằng gỗ thật tinh xảo.
Vào ngày lễ lạc thành ngôi lâu đài, vương tử Bodhi đã thĩnh
đức Thế tôn và chúng tỳ kheo đến dự lễ.
Vương tử Bodhi cho trang hoàng toà lâu đài rực rỡ và trải
thảm từ trong ra đến cổng ngoài để nghinh đón đức Phật.
Lúc đức Phật ngự đến, vương tử thân hành ra ngoài cổng đón
rước đức Phật. Vương tử Bodhi và vợ ông ta không có con,
vương tử rất mong có được một mụn dù trai hay gái cũng được.
Bởi thế vương tử trải thảm rước đức Phật với ước nguyện
rằng: “Nếu ta sẽ có con nối dõi thì đức Thế tôn sẽ bước lên
thảm lót mà đi vào lâu đài”. Đức Phật biết được ước nguyện
của vương tử Bodhi và Ngài cũng biết được vương tử sẽ tuyệt
tự vì hai vợ chồng đã tạo ác nghiệp bất thiện trong quá khứ.
Do đó đức Phật đứng lại không bước lên thảm, Ngài đưa mắt
nhìn tôn giã Ānanda. Tôn giã hiểu ý đức Phật, liền bảo vương
tử Bodhi: “Đức Thế tôn nhìn thấy việc quá khứ và tương lai,
Ngài không muốn bước lên tấm thảm trải nầy. Xin vương tử hãy
cho cuốn dẹp tấm thảm ấy đi!”.
Vương tử thất vọng nhưng cũng cho người dẹp cất thảm trải,
rồi thỉnh đức Phật vào toà lâu đài. Vương tử cúng dường cháo
và bánh ngọt cho đức Phật và chư tăng điểm tâm; xong, ngồi
xuống một bên và bạch với đức Phật rằng:
“Bạch Thế tôn, con là một cận sự nam đã qui y tam bảo, và hộ
độ Thế tôn. Thế mà Ngài chẳng niệm tình bước đi trên thảm
trải?”.
Đức Phật hỏi vương tử:
“Ông đã suy nghĩ gì, khi cho trải đường với tấm thảm ấy?”
“Bạch Thế tôn, con suy nghĩ, nếu mình sẽ có con trai hoặc
con gái thì bậc Đạo sư sẽ ngự đi trên thảm trải”.
“Vậy ông hãy hiểu vì sao Như Lai không bước đi trên tấm thảm
trải ấy!”
“Bạch Thế tôn, nếu thế thì nghĩa là con bị tuyệt tự sao?”.
“Thật sự như vậy, thưa vương tử”.
Vương tử bạch hỏi đức Thế tôn, tại nguyên nhân gì mình tuyệt
tự? Đức Phật liền giải về tiền nghiệp của vợ chồng vương tử
Bodhi:
Thuở quá khứ, có hai vợ chồng người thương buôn dùng thuyền
buồm theo đường biển vận chuyển hàng hoá. Một ngày nọ, chiếc
thương thuyền bị gió bão đánh đắm, mọi người đều chết, chỉ
còn hai vợ chồng ấy sống sót nhờ bám vào tấm ván thuyền,
sóng xô đẩy họ trôi dạt voà một hoang đảo. Hoang đảo ấy có
rất nhiều loài chim cư trú. Hai vợ chồng lấy trứng chim làm
thức ăn mà sống; hết trứng chim, họ bắt những chim non mà
ăn; rồi đến chim lớn trong hoang đảo. Họ sống bằng vật thực
như vậy cho đến khi già chết. Do ác nghiệp nầy họ bị quả
báo, từ đó sanh làm người đều bị tuyệt tự, không thể có con
cái nối dõi.
Sau khi giải tiền nghiệp của vợ chồng vương tử Bodhi, đức
Phật đã thuyết bài kệ: Attānañce piyaṃ jaññā…paṭijaggeyya
paṇḍito’ ti.
Dứt pháp thoại, vương tử Bodhi đắc quả Tu đà hườn, thính
chúng có mặt nơi ấy cũng thành tựu nhiều lợi ích do thính
pháp.
Chánh văn: (dhp 157)
1.Attānañce piyaṃ jaññā Thích văn:
Attānañce [ hợp âm “attānaṃ
ce” ] Việt văn: (pc 157)
1. Nếu biết yêu tự thân
Chuyển văn:
Sace attānaṃ piyaṃ jaññā naṃ surakkhitaṃ rakkheyya, paṇḍito
tinnaṃ aññtaraṃ yāmaṃ paṭijaggeyya.
Nếu biết yêu chính mình thì nên bảo vệ một cách khôn ngoan;
Bậc hiền trí phải tỉnh thức mọi thời trong ba canh.
Lý giải:
Đời người có ba canh, canh đầu, canh giữa và canh cuối. Canh
đầu cuộc đời là thời niên thiếu, canh cuối cuộc đời là thời
trung niên, và canh chót cuộc đời là thời lão niên. Đức Phật
thuyết bài kệ nầy, Ngài dùng từ ba canh đêm (tiṇṇaṃ yāmānam)
là ám chỉ ba thời kỳ của đời người.
Gọi là biết yêu tự thân (attānaṃ piyaṃ jaññā) nghĩa là mình
thương mình. Chữ atta không có nghĩ là tự ngã, bản ngã, mà
từ nầy trong bài kệ có ý nghĩa là chính mình, bản thân, cá
nhân, tự mình, tự bản thân…
Chúng sanh trong đời ai cũng yêu bản thân nhưng họ sống
chiều theo sở thích dục vọng, hành các ác hạnh. Đó không
phải thương mình mà là ghét mình vì tự hại mình khổ đời nầy,
khổ đời sau.
Biết thương mình phải bảo vệ mình, người nào tránh thức ăn
thức uống độc hại để không bệnh tật, đó là thương mình bảo
vệ mình; Lại nữa, không làm điều phạm pháp để khỏi bị phạt
vạ tù đày, đó là thương mình bảo vệ mình; Một người tránh
làm các ác nghiệp để không bị cảm thọ quả khổ địa ngục, ngạ
quĩ, súc sanh, A tu la, để không bị thọ khổ khi sanh làm
người kiếp sau…đó gọi là thương mình khéo bảo vệ mình (naṃ
surakkhitaṃ).
Sâu sắc hơn nữa, đức Phật dạy, là người trí phải sống tỉnh
thức trong ba thời kỳ cuộc đời, thời niên thiếu sống tỉnh
thức, thời trung niên sống tỉnh thức, thời lão niên sống
tỉnh thức.
Nếu được sống tỉnh thức luôn cả ba thời thì quá tốt, bằng
như bỏ qua thời niên thiếu, đến thời trung niên và thời lão
niên mới sống tỉnh thức, như vậy cũng tốt. Hoặc trễ lắm thì
đến thời lão niên, nên thức tỉnh tu hành, dù sao cũng đỡ hơn
là không có tỉnh thức trong thời nào.
Sống tỉnh thức (paṭijaggeyya), nếu là người cư sĩ có trí thì
sống lương thiện, thu hoạch tài sản đúng pháp, hiếu dưỡng
cha mẹ, biết bố thí trì giới, sống đạo đức, thấy được sự
nguy hiểm của dục lạc, biết sống xuất ly các dục. Đó gọi là
người cư sĩ sống tỉnh thức.
Đối với bậc xuất gia thì chuyên tâm học pháp và hành pháp,
tức là ôn nhuần kinh điển và hành thiền định, là tròn phận
sự sa_môn. Xuất gia thời thiếu niên thì làm phận sự sa môn
trong ba thời. Nếu xuất gia trung niên thì làm phận sự sa
môn trong hai thời. Nếu xuất gia lão niên thì hành sa môn
pháp một thời lão niên. Đó gọi là bậc xuất gia sống tỉnh
thức.
Người trí sống tỉnh
thức trong ba canh cuộc đời, gọi là người bảo vệ mình và là
người biết thương mình./. @@@@@@@@@@@@@@@@@@ Hướng dẫn cách cài đặt và gõ chữ Pali
Quý vị vào link bên dưới để
xem hướng dẫn cách cài đặt và cách thức gõ.
Gõ Pāli và Sanskrit trên Windows 10
https://tienvnguyen.net/a704/phong-chu-pali-unicode-unicode-pali-fonts
Gõ Tiếng Việt trên Windows 10
http://unikey.vn/vietnam/
-ooOoo- /span> |