|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Bảy, ngày 01 tháng 06, 2024
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
****** ![]()
Sống trong cuộc đời mấy ai không
nghĩ về tương lai. Một sự thật
phải nhìn nhận là chúng ta thật
không biết rõ ngày mai ra sao.
Đối với hành giả, những suy diễn
về sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn,
hành uẩn, thức uẩn sẽ thế nào ở
tương lai chỉ là dệt mộng. Càng
nghĩ mình thế nầy, không là thế
kia thì tất cả chỉ là hư cấu.
Phải có cái nhìn thực tiễn mới
nhận ra giá trị của chánh niệm:
thở vô biết rõ đang thở vô, thở
ra biết rõ đang thở ra.
Đó là sự phân định rõ
thực và mộng.
Sāvatthinidānaṃ.
Atha kho aññataro bhikkhu …pe…
ekamantaṃ nisinno kho so bhikkhu
bhagavantaṃ etadavoca: “sādhu
me, bhante, bhagavā saṅkhittena
dhammaṃ desetu …pe… ātāpī
pahitatto vihareyyan”ti.
Tôi được nghe như vầy,
Một thuở Đức Thế Tôn ngự ở Sāvatthi (Xá-vệ),
Jetavana (Kỳ-đà Lâm), ngôi già
lam của
ông
Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc) (dâng
cúng).
Bấy giờ có một
vị tỳ khưu đi đến đảnh lễ Đức
Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Vì tỳ khưu ấy bạch rằng:
—Bạch Đức Thế
Tôn, tốt lành thay Đức Thế Tôn
thuyết pháp cô đọng súc tích cho
con! Sau khi nghe thuyết pháp,
con sẽ sống một mình, tịnh cư,
nhiệt tâm, tinh cần, không xao
lãng.
“Maññamāno kho, bhikkhu, baddho mārassa; amaññamāno mutto
pāpimato”ti.
“Aññātaṃ, bhagavā, aññātaṃ, sugatā”ti.
—Này Tỳ khưu,
người
suy diễn bị trói buộc bởi Ác ma;
người không suy diễn giải thoát
khỏi Ác ma .
—Bạch Đức Thế
Tôn, con đã hiểu. Bạch Thiện
Thệ, con đã hiểu.
“Yathā kathaṃ pana tvaṃ,
bhikkhu, mayā saṅkhittena
bhāsitassa vitthārena atthaṃ
ājānāsī”ti?
“Rūpaṃ kho, bhante, maññamāno
baddho mārassa; amaññamāno mutto
pāpimato. Vedanaṃ … saññaṃ …
saṅkhāre … viññāṇaṃ maññamāno
baddho mārassa; amaññamāno mutto
pāpimato.
Imassa khvāhaṃ, bhante,
bhagavatā saṅkhittena bhāsitassa
evaṃ vitthārena atthaṃ
ājānāmī”ti.
—Này Tỳ khưu,
Thầy hiểu ý nghĩa một cách rộng
rãi điều Ta nói một cách ngắn
gọn như thế nào?
—Bạch Đức Thế Tôn, ai suy diễn
sắc bị trói buộc bởi Ác ma; ai
không suy diễn giải thoát khỏi
Ác ma. Ai suy diễn thọ bị trói
buộc bởi Ác ma; ai không suy
diễn thọ giải thoát khỏi Ác ma.
Ai suy diễn tưởng bị trói buộc
bởi Ác ma; ai không suy diễn
tưởng giải thoát khỏi Ác ma. Ai
suy diễn hành bị trói buộc bởi
Ác ma; ai không suy diễn hành
giải thoát khỏi Ác ma.
Ai suy diễn thức bị trói
buộc bởi Ác ma; ai không suy
diễn thức giải thoát khỏi Ác ma.
Bạch Thế Tôn,
với lời
nói cô đọng của Đức Thế Tôn, con
hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi
như vậy.
“Sādhu sādhu, bhikkhu. Sādhu kho
tvaṃ, bhikkhu, mayā saṅkhittena
bhāsitassa vitthārena atthaṃ
ājānāsi.
Rūpaṃ kho, bhikkhu, maññamāno
baddho mārassa; amaññamāno mutto
pāpimato. Vedanaṃ … saññaṃ …
saṅkhāre … viññāṇaṃ maññamāno
baddho mārassa; amaññamāno mutto
pāpimato.
—Tốt lắm, tốt
lắm, này Tỳ khưu với lời nói cô
đọng của Ta, Thầy đã hiểu ý
nghĩa một cách rộng rãi.
Ai suy diễn sắc bị trói buộc bởi
Ác ma; ai không suy diễn giải
thoát khỏi Ác ma. Ai suy diễn
thọ bị trói buộc bởi Ác ma; ai
không suy diễn thọ giải thoát
khỏi Ác ma. Ai suy diễn tưởng bị
trói buộc bởi Ác ma; ai không
suy diễn tưởng giải thoát khỏi
Ác ma. Ai suy diễn hành bị trói
buộc bởi Ác ma; ai không suy
diễn hành giải thoát khỏi Ác ma.
Ai suy diễn thức bị trói
buộc bởi Ác ma; ai không suy
diễn thức giải thoát khỏi Ác ma.
Này Tỳ khưu như
vậy với lời nói cô đọng này của
Ta, Thầy đã hiểu một cách rộng
rãi. Imassa
kho, bhikkhu, mayā saṅkhittena
bhāsitassa evaṃ vitthārena attho
daṭṭhabbo”ti …pe…aññataro ca pana so bhikkhu
arahataṃ ahosīti.
Rồi vị tỳ khưu ấy, sau khi hoan
hỷ tín thọ lời dạy của Đức Thế
Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy, thân
phía phải hướng về Ngài rồi ra
đi.
Và vị tỳ khưu ấy sống một mình,
tịnh cư, nhiệt tâm, tinh cần,
không xao lãng, không bao lâu
chứng được mục đích mà một thiện
gia nam tử chân chánh xuất gia,
từ bỏ thế tục, sống không gia
đình hướng đến là vô thượng cứu
cánh phạm hạnh. Vị ấy ngay trong
hiện tại, tự mình với thắng trí,
chứng ngộ, chứng đạt và an trú.
Vị ấy biết: “Sanh đã tận, phạm
hạnh đã thành, những việc nên
làm đã làm, không còn trở lui
trạng thái này nữa”.
Vị tỳ khưu ấy đã trở thành một
trong những vị vô sanh ứng cúng.
Chú Thích
Chữ maññamāna
từ động từ maññati có nghĩa là
tưởng tượng, ảo tưởng về điều gì
đó. Bản Anh ngữ của ngài Bodhi
dùng chữ conceiving nghĩa là
thai nghén hay ấp ủ một điều gì
đó. Bản dịch của Hoà thượng
Thích Minh Châu dùng chữ “suy
tưởng”. Bản dịch nầy nầy dùng
chữ “suy diễn”
chỉ cho toan tính năm uẩn
sẽ như thế nầy, đừng như thế
kia. Sự suy diễn như vậy vốn
không thực tế mà phần lớn dựa
trên ảo tưởng. Tỳ kheo Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình.
-ooOoo- |