|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Ba, ngày 04 tháng 06, 2024
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
****** ![]()
Theo Phật Pháp thì sự tầm cầu
dục lạc ở năm uẩn là biểu hiện
của tập đế hay nhân sanh khổ.
Chúng ta tìm kiếm hạnh phúc ở
năm uẩn vì không biết có thứ
hạnh phúc khác hơn là hạnh phúc
của diệt đế. Chính sự truy cầu
hạnh phúc ở những nền tảng bị vô
thường, khổ não, vô ngã nên kết
quả là sầu, bi, khổ, ưu, ai.
Không ai có thể xây dựng lâu đài
bền vững trên bãi cát. Cũng
chẳng ai có thể chay theo đau
khổ mà tìm thấy hạnh phúc chân
thực.
Sāvatthinidānaṃ.
Atha kho aññataro bhikkhu …pe… ekamantaṃ nisinno kho so bhikkhu
bhagavantaṃ etadavoca: “sādhu
me, bhante, bhagavā saṅkhittena
dhammaṃ desetu …pe… ātāpī
pahitatto vihareyyan”ti.
Tôi được nghe như vầy,
Một thuở Đức Thế Tôn ngự ở Sāvatthi (Xá-vệ),
Jetavana (Kỳ-đà Lâm), ngôi già
lam của
ông
Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc) (dâng
cúng).
Bấy giờ có một
vị tỳ khưu đi đến đảnh lễ Đức
Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Vì tỳ khưu ấy bạch rằng:
—Bạch Đức Thế
Tôn, tốt lành thay Đức Thế Tôn
thuyết pháp cô đọng súc tích cho
con! Sau khi nghe thuyết pháp,
con sẽ sống một mình, tịnh cư,
nhiệt tâm, tinh cần, không xao
lãng.
“Abhinandamāno kho, bhikkhu, baddho mārassa; anabhinandamāno
mutto pāpimato”ti.
“Aññātaṃ, bhagavā, aññātaṃ, sugatā”ti.
—Này Tỳ khưu,
người
tầm cầu vui sướng bị trói buộc
bởi Ác ma; người không tầm cầu
vui sướng giải thoát khỏi Ác ma
.
—Bạch Đức Thế
Tôn, con đã hiểu. Bạch Thiện
Thệ, con đã hiểu.
“Yathā kathaṃ pana tvaṃ, bhikkhu, mayā saṅkhittena bhāsitassa
vitthārena atthaṃ ājānāsī”ti?
“Rūpaṃ kho, bhante, abhinandamāno baddho mārassa; anabhinandamāno
mutto pāpimato. Vedanaṃ … saññaṃ
… saṅkhāre … viññāṇaṃ
abhinandamāno baddho mārassa;
anabhinandamāno mutto pāpimato.
Imassa khvāhaṃ, bhante, bhagavatā saṅkhittena bhāsitassa evaṃ
vitthārena atthaṃ ājānāmī”ti.
—Này Tỳ khưu,
Thầy hiểu ý nghĩa một cách rộng
rãi điều Ta nói một cách ngắn
gọn như thế nào?
—Bạch Đức Thế Tôn, ai tầm cầu
vui sướng ở sắc bị trói buộc bởi
Ác ma; ai không tầm cầu vui
sướng giải ở sắc thoát khỏi Ác
ma. Ai tầm cầu vui sướng ở thọ
bị trói buộc bởi Ác ma; ai không
tầm cầu vui sướng thọ giải thoát
khỏi Ác ma. Ai tầm cầu vui sướng
ở tưởng bị trói buộc bởi Ác ma;
ai không tầm cầu vui sướng ở
tưởng giải thoát khỏi Ác ma. Ai
tầm cầu vui sướng ở hành bị trói
buộc bởi Ác ma; ai không tầm cầu
vui sướng ở hành giải thoát khỏi
Ác ma.
Ai tầm cầu vui sướng ở
thức bị trói buộc bởi Ác ma; ai
không tầm cầu vui sướng ở thức
giải thoát khỏi Ác ma.
Bạch Thế Tôn,
với lời
nói cô đọng của Đức Thế Tôn, con
hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi
như vậy.
“Sādhu sādhu, bhikkhu. Sādhu kho
tvaṃ, bhikkhu, mayā saṅkhittena
bhāsitassa vitthārena atthaṃ
ājānāsi.
Rūpaṃ kho, bhikkhu,
abhinandamāno baddho mārassa;
anabhinandamāno mutto pāpimato.
Vedanaṃ … saññaṃ … saṅkhāre …
viññāṇaṃ abhinandamāno baddho
mārassa; anabhinandamāno mutto
pāpimato.
—Tốt lắm, tốt
lắm, này Tỳ khưu với lời nói cô
đọng của Ta, Thầy đã hiểu ý
nghĩa một cách rộng rãi.
Ai tầm cầu vui sướng ở sắc bị
trói buộc bởi Ác ma; ai không
tầm cầu vui sướng ở giải thoát
khỏi Ác ma. Ai tầm cầu vui sướng
ở thọ bị trói buộc bởi Ác ma; ai
không tầm cầu vui sướng ở thọ
giải thoát khỏi Ác ma. Ai tầm
cầu vui sướng ở tưởng bị trói
buộc bởi Ác ma; ai không tầm cầu
vui sướng ở tưởng giải thoát
khỏi Ác ma. Ai tầm cầu vui sướng
ở hành bị trói buộc bởi Ác ma;
ai không tầm cầu vui sướng ở
hành giải thoát khỏi Ác ma.
Ai tầm cầu vui sướng ở
thức bị trói buộc bởi Ác ma; ai
không tầm cầu vui sướng ở thức
giải thoát khỏi Ác ma.
Này Tỳ khưu như
vậy với lời nói cô đọng này của
Ta, Thầy đã hiểu một cách rộng
rãi.
Imassa kho, bhikkhu, mayā saṅkhittena bhāsitassa evaṃ vitthārena
attho daṭṭhabbo”ti …pe…
aññataro ca pana so bhikkhu arahataṃ ahosīti.
Rồi vị tỳ khưu ấy, sau khi hoan
hỷ tín thọ lời dạy của Đức Thế
Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy, thân
phía phải hướng về Ngài rồi ra
đi.
Và vị tỳ khưu ấy sống một mình,
tịnh cư, nhiệt tâm, tinh cần,
không xao lãng, không bao lâu
chứng được mục đích mà một thiện
gia nam tử chân chánh xuất gia,
từ bỏ thế tục, sống không gia
đình hướng đến là vô thượng cứu
cánh phạm hạnh. Vị ấy ngay trong
hiện tại, tự mình với thắng trí,
chứng ngộ, chứng đạt và an trú.
Vị ấy biết: “Sanh đã tận, phạm
hạnh đã thành, những việc nên
làm đã làm, không còn trở lui
trạng thái này nữa”.
Vị tỳ khưu ấy đã trở thành một
trong những vị vô sanh ứng cúng.
Chú Thích
Chữ
abhinandamāno
từ động từabhinandati
có nghĩa là vui theo, chập nhận,
tìm cầu vui sướng. Thí dụ một
người nghiện cờ bạc luôn có ý
hướng tìm cảm giác sung sướng
tại các sòng bạc. Ở đây chỉ cho
sự tìm kiếm cảm giác thích thú ở
sắc, thọ, tưởng, hành, thức.
Cũng như nhiều bài kinh khác
trong Phẩm A La Hán nầy, một vị
tỳ khưu được Đức Phật khai thị
trong sự quán chiếu năm uẩn.
Khía cạnh Đức Phật đề cập khế
hợp với căn cơ của vị nầy nên
nhanh chóng lãnh hội và chứng
ngộ quả vị giải thoát. Tỳ kheo Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình.
-ooOoo- |