|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Hai, 10 tháng 06, 2024
MÔN HỌC PHẬT PHÁP CƠ BẢN
Phần III: Ứng Dụng Lời Phật Dạy
- TÁC PHƯỚC-
Tác phước hay tạo phước
là điểm quan trọng đối với người Phật tử
trong mọi lãnh vực từ xã hội, văn hoá, sinh
hoạt hằng ngày, cho đến sự tu tập. Nếu không
hiểu rõ về phước và việc tạo phước sẽ không
hiểu về văn hoá và xã hội của những vùng đất
mang ảnh hưởng Phật giáo.
Vì
là một phạm trù rộng lớn nên quan niệm về
“phước” thường có những dị biệt bất đồng
thậm chỉ những ngộ nhận mâu thuẫn.
Có ba trọng điểm được đề cập tại đây:
I.
Phước báu
II.
Phước nghiệp
III.
Phước thí
I.
PHƯỚC BÁU
Chữ phước là thuật ngữ
để dịch từ Phạn ngữ puñña là cách tạm dịch. Cách dùng
chữ “phước” theo quan niệm phổ thông có nhiều điểm bất
cập so với ý nghĩa của chữ puñña.
Trong cụm từ “phước, lộc, thọ” thì phước chỉ cho
“con đàn, cháu đống” hay đông đảo con cháu kế thừa.
Trong cụm từ “phước huệ song tu” thì phước được hiểu như
sự sung mãn hạnh phúc vật chất, danh tiếng, điạ vị,
quyến thuộc, nói chung là phước báu thế gian, đối lập
với trí tuệ giác ngộ giải thoát. Ngay cả cụm từ “phước
đức” thì cũng hàm ý sự sung mãn cuộc sống bên ngoài đối
lập với chất liệu tốt lành nội tâm (cũng gọi là âm đức).
Chữ puñña thật ra không
thể chuyển ngữ hoàn toàn chính xác bằng một danh từ.
Ngay cả một số định nghĩa trong Sớ giải Pāli như câu
"santanaṃ punāti visodheti – cái gì làm cho thanh tịnh
sự hiện hữu là phước"cũng chỉ nói lên một
khía cạnh. Cách tốt nhất để hiểu thuật ngữ nầy là
cái nhìn chung với nhiều phương diện được ghi trong Tam
Tạng.
Phước là
sự nâng đỡ hay duy trì sự tồn tại tốt đẹp.
Như một đoá hoa nở đẹp cần nước, nhiệt độ thích hợp… Khi
thiếu những tố chất thì hoa tàn. Hay như một toà nhà
đứng vững là do lực nâng đỡ của cấu trúc và vật liệu
tương thích.
Những tồn tại tốt đẹp trong cuộc sống như tiện nghi,
tình thương, thành công trong công việc đều có yếu tố
của phước báu.
Phước là
cái gì đối lập với quả của ác nghiệp.
Như khả năng đề kháng của thân giúp miễn nhiễm đối với
virus, phước báu giúp chúng sanh chống lại những xâm hại
của những “thế lực đen” gây thương tổn. Đây là một trong
những ý nghĩa gần nhất của chữ puñña.
Phước là
năng lực tạo nên sự bằng lòng toại ý.
Đây là điểm khiến đa số thấy hạnh phúc trong cuộc sống.
Làm được những gì mình muốn; gần với người mình thương,
tìm được cái mình mong cầu là vài thí dụ về điểm nầy.
Với một người không hiểu nhân quả nghiệp báo thì những
điều nầy thường được xem là “số hên” hay “sự may mắn”
Phước thể
hiện qua những thuận duyên, thuận cảnh.
Thí dụ người trên đường tạo dựng sự nghiệp gặp “quới
nhân” hay người đi tu gặp danh sư, thiện hữu hoặc người
có tài lại gặp thời như diều gặp gió. Có cố gắng mà
không thành tựu thì là do thiếu phước bổ trợ.
Phước
khiến người ta làm những quyết định chính xác, khôn
ngoan
như câu “phước chí tâm linh”.
Khi đối diện với hoàn cảnh phức tạp phải làm quyết định
hệ trọng, người có phước đôi khi có lựa chọn tốt không
phải tính toán tốt mà do “sự cảm ứng khó nói”. Trái lại
khi thiếu phước hay cho quả nghiệp ác chi phối thì “ma
đưa lối, quỷ đưa đường / Lại tìm những chốn đoạn trường
mà đi”
Phước tạo
nên tâm tánh tốt đẹp.
Đây là trường hợp người tái sinh bằng kiết sanh thức có
trí tuệ, có thọ hỷ, có sự nhậm lẹ. Sau kiết sanh thức là
tiềm thức (bhavaṅga) cũng mang tố chất tương tự. Chính
điều nầy tạo nên tâm tánh an lạc, lương thiện,
mẫn tiệp… Đối với
người tu tập thì những nền tảng tốt như tín căn, tấn
căn, niệm căn, định căn, tuệ căn cũng là phước từ thiện
nghiệp quá khứ.
Phước
chính là nguyên nhân sâu xa tạo nên cá tính đáng quý.
Cá tính (personality) theo
Phật Pháp là tập tính do thói quen tốt được huân tập do
thường tạo nghiệp lành trong quá khứ. Người sống đàng
hoàng, tính tình hào sảng. ưa thích thân cận bạn lành …
là một số thí dụ về cá tính tốt đẹp do thói quen trong
quá khứ như Thắng Pháp đề cập năng lực của “thường thân
y duyên”.
Phước báu
là mãnh lực dẫn tới sự tái sanh vào cõi an lạc.
Cảnh giới an lạc theo Phật Pháp gồm những “cõi vui dục
giới”, các cõi sắc giới, các cõi vô sắc giới. Cõi nhân
loại được xem là “cõi an lạc” nhưng cũng có nhiều dị
biệt do phước báu đa thiểu. Không phải người tạo thiện
nghiệp chắc chắn được sanh vào cõi an lạc nhưng nếu
thiện nghiệp trỗ quả thì cảng giới tái sanh chắc chắn là
cảnh giới tốt lành.
Phước báu
là yếu tố thiết yếu để đoạn tận nghiệp và giải thoát
sanh tử.
Phước báu vô lậu hay phước báu
ba la mật (pāramitā) có thể hiểu là “nghiệp lành dẫn tới
đoạn tận nghiệp lực”. Đây là phước báu do sự tu tập đưa
hành giả đến đích điểm “đoạn tận kiết sử, thành tựu
chánh trí, chứng ngộ niết bàn” hay quả vị siêu thế. Nói
nôm na nhưng người cố gắng học để rồi đạt tới chỗ không
cần học nữa.
Đây là hành trình được chư Phật vốn đã kinh qua, chứng
đạt, và truyền dạy.
Có rất nhiều bài kinh về
puñña được tìm thấy trong Tam Tạng. Bài kinh dưới đây là
đơn cử về ý nghĩa rộng lớn của phước báu. Chữ “công đức”
trong bài kinh nầy tương đồng với chữ phước báu.
Kinh Huân Tập
Công Ðức
Nidhikaṇḍasuttaṃ
Người chôn giấu
tài sản
Nidhi vā ṭhānā
cavati
Dù chôn sâu giấu
kín
Yassa dānena
sīlena
Ai bố thí trì giới
Asādhāraṇamaññesaṃ
Esa
devamanussānaṃ
Suvaṇṇatā
susaratā
Padesarajjaṃ
issariyaṃ
Người màu da tươi
sáng
Mānusikā ca
sampatti
Những hạnh phúc
trần gian
Mittasampadamāgamma
Người có được bạn
lành
Paṭisambhidā
vimokkhā ca
Bốn tuệ giác phân
tích
Evaṃ mahatthikā
esā
Bởi lợi lạc to lớn
(Chúng tôi, tỳ khưu Giác
Đẳng, khi dịch bản kinh nầy ban đầu dùng chữ “phước báu”
thay vì “công đức” nhưng bấy giờ do yêu cầu của
chư tăng duyệt y bản kinh tụng đề nghị nên dùng chữ khác
vì nhiều người hiểu “tu phước” tu thấp nên chúng tôi
thay thế bằng chữ công đức mang tính tương đối về mặt
ngữ nghĩa)
Nêu lưu ý
vài điểm về mặt từ vựng.
Phước báo và phước báu
có hai ý nghĩa khác nhau. Phước báu là quả tốt cao quý.
Phước báo là quả của nghiệp lành. Chữ “báo” ở đây
giống như “nghiệp báo”. Nghiệp là nhân, báo là quả.
Trong Anh ngữ chữ puñña
thường được dịch là merit như “hồi hướng phước” được
dịch là “sharing merit” nghe rất “lạ tai”. Chữ merit
trong Anh ngữ vốn có nguồn gốc từ Ki Tô Giáo có nghĩa là
sự tưởng thưởng cho kẻ xứng đáng (deserving) như kinh
cầu “xin Chúa bội hậu cho chúng con..” do vậy “sự ban
phước tha tội” là sự đãi ngộ cho một người làm điều tốt
lành gì đó. Người Trung Hoa dịch chữ merit là công đức
hay “công quả”
theo ý nghĩa “công thưởng, tội trừ”. Người Phật
tử sử dụng với phân biệt cẩn trọng. (Một số từ vựng tôn
giáo đương đại ở Trung Quốc vốn do ảnh hưởng Ki Tô Giáo
được dùng rộng rãi như Giáo Hội, hành hương, tuyên uý…
cũng cần “chính danh” khi người Phật tử sử dụng)
Bài
học ngày 3.6.2024
II.
PHƯỚC NGHIỆP
Phước nghiệp là những
hạnh lành tác thành phước báu. Tại các quốc gia Phật
giáo, người ta thường dùng chữ “làm phước” hay “tạo
phước” hơn là chữ “cầu phước” vì quan niệm phước báu là
cái gì được tạo chứ không phải từ sự van vái cầu xin.
Ba nền
tảng của phước hạnh là bố thí, trì giới, và tu tập tâm
ý.
Bố thí -dāna- là sự ban
bố, cống hiến, cúng dường, chia sẻ những gì bản thân có
được. Bố thí mang đặc tính xả tài, xả kỷ. Bố thí đúng
nghĩa là chia sẻ cái mình có để tạo lợi lạc cho chúng
sanh khác. Có rất nhiều hình thức của bố thí. Biết cho
là một nghệ thuật sống. Chính pháp bố thí giúp bào mòn
sự ích kỷ, bỏn sẻn. Nên lưu ý chữ “bố thí” trong Phật
pháp mang ý nghĩa rộng hơn cách dùng thường thức.
Trì giới – sīla – là
sống với những nguyên tắc hiền thiện vốn là những học
giới được Đức Phật truyền dạy như ngũ giới, bát quan
trai giới…Trì giới tạo nên sự vững tâm với khả năng tự
chủ. Đặc điểm của trì giới là giúp tránh không tạo những
ác nghiệp.
Tu tập tâm ý – bhavana –
là sự huân tu nội tại như tu chánh niệm, tu bốn vô lượng
tâm, niệm Phật, niệm Pháp…Đây là sự chuyển hoá tâm thức
với những sự tu tập thường xuyên, bền bỉ, thay đối tập
tính thói quen. Nền tảng nầy không hẳn chỉ có thiền chỉ
(samatha) hay thiền quán (vipassana) như Ngài
Buddhaghosa giải thích một người huân tu chánh kiến của
nằm trong bhavana.
Người tu Phật khi áp
dụng ba điều nầy trong nhiều trường hợp như giữ giới
không sát sanh là “tránh ác”, bố thí thức ăn là “làm
lành”, giữ tâm không vui thích đối với những nghiệp sát
như không vui thích với sát nghiệp là “thanh tịnh hoá
tâm ý”. Cả ba đều y cứ trên nên tảng bố thí, trì giới,
và tu tập tâm ý.
Dưới đây là một bài kinh
ngắn nói về ba nền tảng của phước hạnh trích từ Kinh
Phật Thuyết Như Vậy (It. 51) Bản dịch của Hoà
thượng Thích Minh Châu.
Ðiều này đã được Thế Tôn
nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được
nghe:
Này các Tỷ-kheo, có ba
phước nghiệp sự này. Thế nào là ba? Phước nghiệp sự do
bố thí tác thành, phước nghiệp sự do giới tác thành, và
phước nghiệp do sự tu tập tác thành. Này các Tỷ-kheo, có
ba phước nghiệp sự này. Hãy để cho người ấy, Học tập làm công đức, Hướng dẫn đến tương lai Ðem lại căn an lạc. Hãy tu tập bố thí, Tập sở hành an tịnh, Và tu tập từ tâm, Tu xong ba pháp ấy, Những pháp khởi lạc thọ. Bậc Hiền trí được sanh, Tại thế giới an lạc, Không phiền não hận thù. Ý nghĩa này đã được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.
Phước hạnh
được hiểu là lối sống hiền thiện và lợi lạc.
Điều nầy có thể hàm chứa rất nhiều thiện pháp dẫn tới
hạnh phúc đời nầy và đời sau. Kinh Điềm Lành là một thí dụ cụ thể về tánh bao quát
của những phước hạnh trong đời sống. Dưới đây là bản
dịch Kinh Điềm Lành với tựa đề là Kinh Hạnh Phúc trích
trong Nghi Thức Tụng Niệm.
Kinh Hạnh Phúc
Maṅgalasutta
Evaṃ me sutaṃ: Ekaṃ samayaṃ bhagavā sāvatthiyaṃ viharati
jetavane anāthapiṇḍikas-saārāme. Atha kho aññatarā
devatā abhik-kantāya rattiyā abhikkantavaṇṇā
kevalakappaṃ jetavanaṃ obhāsetvā yena bhagavā
tenupasaṅkami upasaṅkamitvā bhagavantaṃ abhivādetvā
ekamantaṃ aṭṭhāsi. Ekamantaṃ ṭhitā kho sā devatā
bhagavantaṃ gāthāya ajjhabhāsi
Như vầy tôi nghe
Bahū devā manussā ca
Chư thiên và nhân loại
Asevanā ca bālānaṃ
Không gần gũi kẻ ác
Paṭirūpadesavāso ca
Ở trú xứ thích hợp
Bāhusaccañ ca sippañca
Ða văn nghề nghiệp giỏi
Mātāpitu upaṭṭhānaṃ
Hiếu thuận bậc sanh thành
Dānañca dhammacariyā ca
Bố thí hành đúng Pháp
Āratī viratī pāpā
Xả ly tâm niệm ác
Gāravo ca nivāto ca
Biết cung kính khiêm nhường
Nhẫn nhục tánh thuần hóa
Tapo ca brahmacariyañca
Thiền định sống phạm hạnh
Phuṭṭhassa lokadhammehi
Khi xúc chạm việc đời
Etādisāni katvāna
Những sở hành như vậy
Phước
nghiệp cũng được hiểu là hạnh lành mang lại quả phước.
Bàn về điểm nầy thật sự có rất
nhiều kinh văn trong Tam Tạng.
Ở đây chỉ trích một đoạn trong Tíểu Kinh Phân
Tích Về Nghiệp (Trung Bộ kinh số 135) qua lược dịch của
Ngài Narada với bản Việt dịch của cư sĩ Phạm Kinh Khánh.
Thuở Đức Phật còn tại tiền, có chàng thanh
niên tên Sudha, thắc mắc trước trạng huống bất đồng giữa
loài người, muốn tìm chân lý, đến gần Ngài và bạch rằng:
"Bạch Đức Thế Tôn, vì lý do nào và nguyên
nhân nào trong đời có người yểu (appayuka) và có người
thọ (dighayuka), người bệnh hoạn (bavhabadha) và người
khoẻ mạnh (appabadha), người xấu xa (dubbanna) và người
đẹp đẽ (vannavanta), có hạng người làm gì cũng không ai
làm theo, nói chi cũng không ai nghe (appesakka) và hạng
người có thế lực, làm gì cũng có người theo, nói chi
cũng có người nghe (mahesakka), có người nghèo khổ
(appabhopga) và người giàu sang (mahabhoga), có người
sanh trưởng trong gia đình bần tiện (nicakulina) và có
người dòng dõi cao sang (uncakulina), có người dốt
(duppanna) và có người trí tuệ (pannavanta)?
Đức Phật trả lời vắn tắt như thế nầy:
"Tất cả chúng sanh đều mang theo cái Nghiệp
(Kamma) của chính mình như một di sản, như vật di
truyền, như người chí thân, như chỗ nương tựa. Chính vì
cái nghiệp riêng của mỗi người mỗi khác nên mới có cảnh
dị đồng giữa chúng sanh."
Rồi Đức Phật giải thích cho Subha nghe từng
trường hợp:
"Nếu người kia trọn đời chỉ biết sát sanh,
người thợ săn chẳng hạn, bàn tay luôn luôn đẩm máu, hằng
ngày sống trong sự giết chóc và gây thương tích không
chút xót thương. Do tính hiếu sát ấy, nếu tái sanh trong
cảnh người, người ấy sẽ là một người có mạng "yểu".
"Nếu người kia luôn luôn thận trọng, không
hề xác phạm đến tính mạng của ai, sống xa gươm đao, giáo
mác và các loại khí giới, lấy lòng tứ ái đối với tất cả
chúng sanh.Do sự không sát sanh (Tâm Từ) ấy, nếu tái
sanh trong cảnh người, người ấy sẽ trường " thọ".
"Nếu người kia độc ác, luôn luôn tìm cách
hại người, luôn luôn dùng đấm đá và gươm đao đối sử với
mọi người. Do nết hung dữ, nếu tái sanh trong cảnh
người, người ấy sẽ ươn yếu bệnh hoạn.
"Nếu người kia không bao giờ làm tổn thương
ai khác. Do đức tánh hiền lương nhu hòa, nếu tái sanh
trong cảnh người, người ấy sẽ được mạnh khỏe.
"Nếu người kia thô lỗ, cộc cằn, luôn luôn
giận dữ, chưởi mắng, nguyền rủa kẻ khác.Do hậu quả của
sự thô lỗ, cộc cằn ấy, nếu tái sanh trong cảnh người,
người ấy sẽ xấu.
"Nếu người kia thanh tao nhã nhặn, dầu ai
có chưởi mắng thậm tệ cũng không hề oán giận và tìm cách
trả thù. Do hậu quả của phong thái thanh nhã ấy, nếu tái
sanh trong cảnh người, người ấy sẽ đẹp đẽ.
"Nếu người kia có tánh đố kỵ, thèm thuồng,
ham muốn lợi danh của kẻ khác, không biết tôn kính người
đáng kính, luôn luôn chứa chấp lòng ganh tỵ. Do hậu quả
của tính tật đố ganh ấy, nếu tái sanh trong cảnh người,
sẽ là người có ảnh hưởng, nói gì không ai nghe, làm gì
không ai theo.
"Nếu người kia không có tánh đố kỵ, không
thèm ham muốn lợi danh của người khác, biết tôn trọng
người đáng kính, không chứa chấp lòng ganh tỵ. Do ảnh
hưởng của tâm không ganh tỵ ấy, nếu tái sanh trong cảnh
người, sẽ là người có thế lực, nói gì cũng có người
nghe, làm gì cũng có người theo.
"Nếu người kia không bao giờ biết bố thí
vật gì. Do tánh keo kiết, bám níu vào tài sản sự nghiệp
của mình, nếu tái sanh trong cảnh người, sẽ là người
nghèo nàn thiếu thốn.
"Nếu người kia giàu lòng quảng đại, tánh ưa
bố thí. Do lòng quảng đại rộng rãi ấy, nếu tái sanh
trong cảnh người, sẽ là người giàu có dư dã.
"Nếu người kia không biết phục thiện, tánh
ưa kiêu hãnh, không tôn trọng người đáng kính. Do tánh
ngạo mạn và vô lễ ấy, nếu tái sanh trong cảnh người, sẽ
là người đê tiện thấp hèn.
"Nếu người kia biết phục thiện, tánh không
kiêu hãnh, biết tôn trọng người đáng kính. Do đức tính
biết phục thiện và có lễ độ ấy, nếu tái sanh trong cảnh
người, sẽ là người sang trọng quyền quý.
"Nếu người kia không chịu gần người có tài
đức để học hỏi điều hay lẽ phải và phân biệt chánh tà.
Do sự kém học ấy, nếu tái sanh trong cảnh người, sẽ là
người dốt.
"Nếu người kia cố công tìm đến người có tài
đức để học hỏi. Do sự học hỏi chánh đáng ấy, nếu tái
sanh trong cảnh người, sẽ là người thông minh trí tuệ."
Nên lưu ý những gì Đức Phật trả lời dựa trên câu
hỏi chứ không bao gồm toàn bộ nghiệp thiện, nghiệp bất
thiện.
Bài học ngày 10.6.2024
Phước thí được biết với các nói “chia phước” hay “cho
phưóc” là khái niệm rất quen thuộc trong Đạo Phật nhưng
không phải dễ hiểu theo lý nhân quả nghiệp báo. Có lập
luận cho rằng đúng theo nghiệp báo thì “phước ai nấy
hưởng” thì chuyện đem phước lành của người nầy cho người
kia là không hợp lý. Nói như vậy thoạt nghe có vẻ thuyết
phục nhưng thật ra rất phiến diện.
Nếu xét kỹ, bảo
rằng “ai ăn nấy no” là điều tuyệt đối đúng thì có phần
cực đoan.
Những cảm nhận trừu tượng có thể được san sẻ.
Người ta có thể cho tiền, cho thức ăn thì cũng có thể
chia sẻ kiến thức hoặc chia phước nếu đối tượng nhận
không bị chướng duyên lớn ngăn ngại. Có thể lấy thí dụ
là trong đời sống hằng ngày không ai có thể học dùm cho
người khác nhưng có thể chia sẻ những kiến thức. Đây là
nền tảng caủ giáo dục. Không ai khiến người khác hoàn
toàn hạnh phúc nếu đương sự là người kém phước nhưng
người ta trong cách thức tương đối có thể tạo niềm vui
cho nhau. Phước báu cũng vậy, những người tạo phước lành
có thể chia sẻ tới người khác qua nhiều phương cách.
Trong Túc Sanh Truyện (Jataka), có rất nhiều câu chuyện
mà qua đó một người sống sáng suốt hiền thiện không phải
chỉ tạo phước lành cho bản thân mà còn tạo nên lợi lạc
cho những người chung quanh, cho quyến thuộc, cho chư
thiên và nhân loại.
Phước lành tạo nên bởi thiện tâm, do vậy, tuỳ hỷ phước
cũng là nguồn sanh phước.
Tuỳ hỷ phước là một trong mười phước nghiệp sự
(puññakiriyavatthu). Vui với nghiệp lành là tâm lành.
Tâm lành luôn tạo phước lành. Ở những xứ thấm nhuần Phật
Pháp người ta thường nói tới chữ “tuỳ hỷ phước –
anumodanā” qua lời “sādhu”. Điều nầy hoàn toàn y cứ trên
giáo lý nhân quả. Vui với điều thiện sẽ hướng thiện và
tác thành thiện nghiệp. Ngược lại xu hướng theo điều ác
cũng dẫn đến chỗ bất hạnh. Rất khó tin là trong nhiều
trường hợp người tuỳ hỷ phước cũng tạo phước như chính
người làm phước sự.
Phải hiểu mãnh lực của nghiệp có ảnh hưởng đến người
khác. Mặc
dù “mỗi chúng sanh có nghiệp riêng” nhưng cũng có “cộng
nghiệp”. Một vị vua hay người lãnh đạo quốc gia có thể
ảnh hưởng cả quốc độ với tâm đức của mình. Sống gần
người có nhiều phước cũng được hưởng lây. (Người lại
sống chung với người nặng ác nghiệp cũng bị ảnh hưởng).
Trong Sớ Giải Kinh Pháp Cú ghi nhiều ảnh hưởng trực tiếp
như câu chuyện Tôn giả Sāriputta vịn tay vào bình bát
cho người đệ tử có bữa ăn đầy đủ trước khi viên tịch
niết bàn (…). Ảnh hưởng của nghiệp là điều rất phức tạp.
Không nên võ đoán với những lập luận quá đơn giản. Phước
và đức của một cá nhân có ảnh hưởng lớn đến những người
liên đới.
Chia phước hay cho phước cũng đi với năng lực của từ tâm
hay tình thương.
Tâm mong mỏi chúng sanh được thêm vui bớt khổ là tâm từ
bi. Tâm từ, tâm bi luôn có năng lực nhất định. Đặc biệt
là gia quyến với tình thương đối với thân nhân. Như định
luật tự nhiên “lá rụng về cội”, chúng sanh sống trong
khổ cảnh thường nghĩ tới quyến thuộc. Hồi hướng phước
lành là thể hiện tâm từ, tâm bi. Chính vì điều nầy nên
khi hồi hướng phước nên có sự hướng nguyện của thân nhân
quyến thuộc. Nói đến nghiệp báo không thể phủ nhận sự
chiêu cảm của tâm, mà qua đó, tình thương đóng vai trò
quan trọng.
Hồi hướng phước không phải là phong tục mà được Đức Phật
dạy qua nhiều bài kinh trong Tam Tạng.
Trong lúc lời cầu nguyện suông được xem là “không lợi
ích như cầu nguyện tảng đá được nổi khi ném xuống nước”
thì hồi hướng phước là điều hoàn toàn khác.
Hồi hướng phước
(pattānuppadāna) là một trong mười nguồn sanh phước.
Trong kinh Singalovada (Trường Bộ), Đức Phật dạy một
trong năm điều người con nên làm đối với cha mẹ là tạo
phước hồi hướng sau khi cha mẹ quá vãng. Trong kinh
“Tirokudda – Ngoài Bức Tường”, Đức Phật dạy rất rõ về
điều nên làm đối với thân nhân quá vãng là hồi hướng
phước báu với câu “Idam
me / vo ñātinam hōtu sukhitā hontu ñātayo – Nguyện quyến
thuộc an vui do phước lành đã tạo”. Tỳ kheo Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình. |