|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Tư, ngày 19 tháng 06, 2024
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
****** ![]()
Trong mức độ tận cùng của đệ
nhất nghĩa đế thì tất cả pháp
hữu vì đều vô thường, bất toại,
vô ngã. Chính sự đồng nhất nầy
là thiền án giúp hành giả vượt
thoát chấp thủ. Tâm không chấp
thủ là tâm vô phân biệt. Tạo nền
tảng cho sự an tịnh và giải
thoát. Sự giải thoát đúng nghĩa
trong Phật Pháp không ở ngoại
cảnh mà đến từ tâm giải thoát,
Tâm giải thoát đến từ tuệ giác
nên được gọi là khéo giải thoát.
Sāvatthinidānaṃ.
Atha kho āyasmā surādho bhagavantaṃ etadavoca:
“kathaṃ nu kho, bhante, jānato kathaṃ passato imasmiñca
saviññāṇake kāye bahiddhā ca
sabbanimittesu
ahaṅkāramamaṅkāramānāpagataṃ
mānasaṃ hoti, vidhā
samatikkantaṃ santaṃ
suvimuttan”ti?
Nhân duyên ở
Sāvatthi.
Bấy giờ Tôn giả
Surādha
đi đến Đức Thế Tôn. Sau khi đến
… bạch hỏi Thế Tôn:
—Bạch Đức Thế
Tôn, làm thế nào để biết, làm
thế nào để thấy
đối
với xác thân có thức này, và đối
với tất cả ngoại tướng, không có
tư tưởng: “Ngã kiến, ngã sở
kiến, ngã mạn tùy miên”;
vượt
khỏi phân biệt, an tịnh. khéo
giải thoát?
“Yaṃ kiñci, surādha, rūpaṃ
atītānāgatapaccuppannaṃ …pe… yaṃ
dūre santike vā, sabbaṃ rūpaṃ:
‘netaṃ mama, nesohamasmi, na
meso attā’ti evametaṃ
yathābhūtaṃ sammappaññāya disvā
anupādāvimutto hoti.
—Này
Surādha,
phàm sắc
gì
quá khứ, vị lai, hiện tại, nội
giới hay ngoại ngoại, thô hay
tế, hạ liệt hay thù thắng, xa
hay gần; tất cả sắc cần được
thấy như nhiên với chánh trí là:
“Cái này không phải của ta, cái
này không phải là ta, cái này
không phải tự ngã của ta”; vị ấy
giải thoát bởi không chấp thủ.
Yā
kāci vedanā … yā kāci saññā … ye
keci saṅkhārā … yaṃ kiñci
viññāṇaṃ atītānāgatapaccuppannaṃ
ajjhattaṃ vā bahiddhā vā
oḷārikaṃ vā sukhumaṃ vā hīnaṃ vā
paṇītaṃ vā yaṃ dūre santike vā,
sabbā vedanā …pe… sabbā saññā …
sabbe saṅkhārā … sabbaṃ
viññāṇaṃ: ‘netaṃ mama,
nesohamasmi, na meso attā’ti
evametaṃ yathābhūtaṃ
sammappaññāya disvā
anupādāvimutto hoti.
Phàm thọ gì …
Phàm thức gì quá khứ, vị lai,
hiện tại, nội giới hay ngoại
ngoại, thô hay tế, hạ liệt hay
thù thắng, xa hay gần; tất cả
sắc cần được thấy như nhiên với
chánh trí là: “Cái này không
phải của ta, cái này không phải
là ta, cái này không phải tự ngã
của ta”; vị ấy giải thoát bởi
không chấp thủ.
Evaṃ kho, surādha, jānato evaṃ
passato imasmiñca saviññāṇake
kāye, bahiddhā ca sabbanimittesu
ahaṅkāramamaṅkāramānāpagataṃ
mānasaṃ hoti vidhā samatikkantaṃ
santaṃ suvimuttan”ti
…pe…aññataro ca panāyasmā
surādho arahataṃ ahosīti.
Này Surādha, do
biết vậy, do thấy vậy, đối với
xàc thân có thức này, và đối với
tất cả ngoại tướng, không có tư
tưởng: “Ngã
kiến, ngã sở kiến, mạn tùy miên”;
vượt khỏi phân biệt, an tịnh.
khéo giải thoát.
.. Tôn giả
Surādha đã trở thành một trong
những vị vô sanh ứng cúng.
Chú Thích
Tôn giả Surādha là em ruột của
Tôn giả Rādha được đề cập trong
bài kinh trước. Xuất thân từ một
gia đình Bà la môn tại Rājagaha.
Kinh sách ghi lại là Tôn giả
Rādha xuất gia trong thời lão
niên (…) nhưng không ghi là
người em ruột tức Tôn giải
Surādha xuất gia lúc bao nhiêu
tuổi..
Bài kinh nầy có ý nghĩa phần lớn
giống bài kinh trước, chỉ khác
là có thêm ba điểm liên quan tới
sự giải thoát.
Cụm từ vidhāsamatikkanta - vượt
thoát khỏi sự phân biệt – hay
thấy được tính đồng nhất của năm
uẩn bất luận sai biệt thời gian,
không gian, thứ loại.
Chữ santa nghĩ là an tịnh chỉ
cho tâm toại ý, không còn phiền
não.
Chữ suvimutta – khéo giải thoát
– là sự khai phóng bằng tuệ
giác. Tỳ kheo Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình.
-ooOoo- |