|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Hai, ngày 02 tháng 06, 2025
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
******
Không
phải chỉ nhìn thấy là đã biết
được sự thật. Cảm nhận về một
bông hoa tuỳ thuộc rất nhiều vào
trình độ, văn hoá, quá khứ trải
nghiệm riêng biệt của mỗi các
nhân. Sự tu tập vipassana (thiền
minh sát) là tập nhìn tỉnh táo
bền bỉ đối với dòng hiện hữu của
thân tâm. Có nhìn rõ và bền bỉ
thì sẽ nhận ra sự biến đổi liên
tục qua hiện tượng sanh diệt.
Vô thường là bản chất
thật của vạn hữu. Ai sống thường
thấy được sự biến đổi tự nhiên
thì sẽ vượt thoát những tư kiến,
định kiến và sống với cái nhìn
“sự thật thế nào thì thấy biết
như vậy”
KINH VĂN
160. ekaṃ samayaṃ bhagavā
rājagahe viharati jīvakambavane.
tatra kho bhagavā bhikkhū
āmantesi — “bhikkhavo”ti ... pe
... “samādhiṃ, bhikkhave,
bhāvetha. samāhitassa,
bhikkhave, bhikkhuno yathābhūtaṃ
okkhāyati. kiñca yathābhūtaṃ
okkhāyati? cakkhuṃ aniccanti
yathābhūtaṃ okkhāyati, rūpā
aniccāti yathābhūtaṃ okkhāyati,
cakkhuviññāṇaṃ aniccanti
yathābhūtaṃ okkhāyati,
cakkhusamphasso aniccoti
yathābhūtaṃ okkhāyati, yampidaṃ
cakkhusamphassapaccayā uppajjati
vedayitaṃ sukhaṃ vā dukkhaṃ vā
adukkhamasukhaṃ vā tampi
aniccanti yathābhūtaṃ okkhāyati
... pe ... jivhā aniccāti
yathābhūtaṃ okkhāyati ... pe ...
mano aniccoti yathābhūtaṃ
okkhāyati, dhammā aniccāti
yathābhūtaṃ okkhāyati ... pe ...
yampidaṃ manosamphassapaccayā
uppajjati vedayitaṃ sukhaṃ vā
dukkhaṃ vā adukkhamasukhaṃ vā
tampi aniccanti yathābhūtaṃ
okkhāyati. samādhiṃ, bhikkhave,
bhāvetha. samāhitassa,
bhikkhave, bhikkhuno yathābhūtaṃ
okkhāyatī”ti. pañcamaṃ.
160. Một thuở, Đức Thế Tôn ngự
tại Rājagaha (Vương Xá), trong
khu vườn xoài của Jīvaka. Tại
đó, Thế Tôn gọi các tỳ khưu:
“Này chư Tỳ khưu!” … (phần đầu
được lược)...
“Này chư Tỳ khưu, hãy tu tập
thiền định. Với người có thiền
định, thì sẽ hiển bày chân
tướng. Hiển bày chân tướng cái
gì?
—Hiển bày chân tướng mắt là vô
thường. Hiển bày chân tướng cảnh
sắc là vô thường. Hiển bày chân
tướng nhãn thức là vô thường.
Hiển bày chân tướng nhãn xúc là
vô thường. Hiển bày chân tướng
cảm thọ sanh do nhãn xúc là vô
thường
Hiển bày chân tướng tai là vô
thường…
Hiển bày chân tướng mũi là vô
thường…
Hiển bày chân tướng lưỡi là vô
thường…
Hiển bày chân tướng thân là vô
thường…
Hiển bày chân tướng ý là vô
thường. Hiển bày chân tướng cảnh
pháp là vô thường. Hiển bày chân
tướng nhãn thức là vô thường.
Hiển bày chân tướng ý xúc là vô
thường. Hiển bày chân tướng cảm
thọ sanh do ý xúc là vô thường
Này các Tỳ khưu, hãy tu tập
thiền định. Với người có thiền
định, sẽ Hiển bày chân tướng.”.
CHÚ THÍCH
Chữ samādhi là một thuật ngữ
Phật học mang nhiều ý
nghĩa và phạm trù đặc
biệt. cần hiểu theo ngữ cảnh.
Nguyên nghĩa samādhi có thể hiểu
“đặt tâm vào một chỗ”, “hướng
tâm một cách ổn định”, hay “định
tâm”, tức là trạng thái tâm nhất
quán, vững chãi, không bị phân
tán. Ba phạm trù thường dùng là:
a.
Tập trung tâm ý theo thông
thường như cách nói định thần,
chú mục…
b.
Tâm định được phát triển cao độ
áp đảo được sự vọng móng tham
dục như thiền chi và nếu đầy đủ
là thiền chứng được gọi là tam
muội định (tam muội là Phạn âm
của samādhi). Phạm trù nầy
thường được chia thành hai là
cận định (upacāra samādhi): tâm
gần với trạng thái định sâu; và
an chỉ định (appanā samādhi) tức
hoàn toàn an trú trong định
c.
Định học tăng thượng trong tam
học (giới, định, tuệ) chỉ cho sự
chuyên tâm tu tập tâm ý với
chánh tinh tấn, chánh niệm,
chánh định. Định ở đây bao gồm
cả chỉ và quán. Là cách nói
chung là chuyên chú tu tập nội
tại.
Chữ samādhi trong bài kinh nầy
chỉ cho phạm trù thứ ba kể trên.
Và được dịch là “thiền định”
theo cách hiểu thông thường
nghĩa là có sự tập chú tu tập
nội tâm với hai yếu tố niệm
(quán sát tỉnh táo) và định
(liên tục bền bỉ).
Cụm từ yathābhūtaṃ okkhāyati -
hiển bày thực tướng – là một
khái niệm rất quan trọng trong
Phật học. Hầu hết những nhận
thức của chúng sanh đều bị chi
phối bởi sanh loại, văn hóa, ký
ức. Cùng sống trong một thành
phố nhưng mỗi người có cảm nhận
khác nhau do trình độ, văn hoá
…sai biệt. Cái nhìn do thành
kiến, định kiến là đương nhiên
trong tất cả chúng sanh.
Yathābhūtaṃ thường được
dịch là như thật, như nhiên có
nghĩa là bản chất thế nào thì
thấy như vậy. (bản dịch tránh
chữ “thấy như thật” vì có thể bị
hiểu là là “như thật chứ không
hẳn là thật” theo cách nói bình
thường). Từ chính xác nhất là
“như nhiên” nghĩa là sự thật thế
nào thì thấy biết như vậy.
Thấy được hai hiện tượng sanh và
diệt hay vô thường là hai khía
cạnh khách quan nhất đối với các
pháp hành vì sanh diệt là hiện
tượng khách quan nhất.
SỚ GIẢI
160-161. pañcamaṃ
samādhivikalānaṃ, chaṭṭhaṃ
paṭisallānavikalānaṃ
cittekaggatañca kāyavivekañca
labhantānaṃ etesaṃ kammaṭṭhānaṃ
phātiṃ gamissatīti ñatvā
kathitaṃ. tattha okkhāyatīti
(paccakkhāyati) paññāyati
pākaṭaṃ hoti. iti dvīsupi etesu
saha vipassanāya cattāro maggā
kathitā.
160–161. Phẩm thứ năm: nói về
những người không thành tựu
thiền định,
Trong đó, từ “okkhāyati” có
nghĩa là “hiện rõ ra trước mắt
(paccakkhāyati)”, tức là được
thấy bằng trí tuệ, trở nên hiển
bày rõ ràng.
Như vậy, trong cả hai đoạn kinh
này, bốn Thánh đạo (cattāro
maggā) được giảng dạy cùng với
tuệ quán (vipassanā).
Bản dịch của Hoà thượng Thích
Minh Châu
35.160. Trong Vườn Xoài Jivaka
(1)
Một thời Thế Tôn ở Rājagaha, tại
vườn xoài Jiivaka.
Tại đấy, Thế Tôn gọi các
Tỷ-kheo:
—Này các Tỷ-kheo, hãy tu tập
Thiền định. Này các Tỷ-kheo,
Tỷ-kheo có tâm định tĩnh, sự vật
như thật hiển hiện. Và sự vật gì
như thật hiển hiện?
Mắt vô thường như thật hiển
hiện. Các sắc vô thường như thật
hiển hiện. Nhãn thức vô thường
như thật hiển hiện. Nhãn xúc vô
thường như thật hiển hiện. Phàm
duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ
gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất
lạc; cảm thọ ấy vô thường như
thật hiển hiện.
Tai … Mũi … Lưỡi … Thân …
Ý vô thường như thật hiển hiện.
Các pháp vô thường như thật hiển
hiện. Ý thức vô thường như thật
hiển hiện. Ý xúc vô thường như
thật hiển hiện. Phàm duyên ý xúc
khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ,
hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy
vô thường như thật hiển hiện.
Này các Tỷ-kheo, hãy tu tập
Thiền định. Tỷ-kheo có tâm định
tĩnh, sự vật như thật hiển hiện. -ooOoo- |