|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Năm, ngày 05 tháng 06, 2025
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
******
Chấp
thủ, dù đối với bất cứ điều gì,
đều là nhân sanh khổ. Chấp thủ
khởi sự từ sự thích thú hay dục.
Sự thích thú khác biệt tuỳ mỗi
cá nhân như có người thích ăn
nhậu cũng có người thích làm
thơ. Chính sự sai biệt nầy tạo
nên nhu cầu quán chiếu khác biệt
tương ứng với thị dục của mỗi cá
nhân. Đức Phật có rất nhiều
hướng dẫn về sự thực hành. Phật
Pháp là con đường chuyển hoá chứ
không phải chỉ là tín ngưỡng tôn
giáo.
KINH VĂN
168. Dục đối với cái Vô thường
(Nội xứ)
1.
“Này các Tỳ khưu, các thầy nên
từ bỏ dục đối với bất cứ gì là
vô thường. Và cái gì là vô
thường? [149] Mắt là vô thường …
Ý là vô thường; các thầy nên từ
bỏ dục đối với nó. Này các Tỳ
khưu, các thầy nên từ bỏ dục đối
với bất cứ gì là vô thường.”
169. Ái đối với cái Vô thường
(Nội xứ)
1.
“Này các Tỳ khưu, các thầy nên
từ bỏ ái đối với bất cứ gì là vô
thường. Và cái gì là vô thường?
Mắt là vô thường … Ý là vô
thường; các thầy nên từ bỏ ái
đối với nó.”
170. Dục và Ái đối với cái Vô
thường (Nội xứ)
1.
“Này các Tỳ khưu, các thầy nên
từ bỏ dục và ái đối với bất cứ
gì là vô thường. Và cái gì là vô
thường? Mắt là vô thường … Ý là
vô thường; các thầy nên từ bỏ
dục và ái đối với nó.”
171–173. Dục đối với cái Khổ
(Nội xứ), v.v.
1.
“Này các Tỳ khưu, các thầy nên
từ bỏ dục đối với bất cứ gì là
khổ … nên từ bỏ ái đối với bất
cứ gì là khổ … nên từ bỏ dục và
ái đối với bất cứ gì là khổ. Và
cái gì là khổ? Mắt là khổ … Ý là
khổ; các thầy nên từ bỏ dục và
ái đối với nó.” [150]
174–176. Dục đối với cái Vô ngã
(Nội xứ), v.v.
1.
“Này các Tỳ khưu, các thầy nên
từ bỏ dục đối với bất cứ gì là
vô ngã … nên từ bỏ ái đối với
bất cứ gì là vô ngã … nên từ bỏ
dục và ái đối với bất cứ gì là
vô ngã. Và cái gì là vô ngã? Mắt
là vô ngã … Ý là vô ngã; các
thầy nên từ bỏ dục và ái đối với
nó.”
177–179. Dục đối với cái Vô
thường (Ngoại xứ), v.v.
1.
“Này các Tỳ khưu, các thầy nên
từ bỏ dục đối với bất cứ gì là
vô thường … nên từ bỏ ái … nên
từ bỏ dục và ái đối với nó. Và
cái gì là vô thường? Các sắc là
vô thường … Cảnh pháp là vô
thường; các thầy nên từ bỏ dục
và ái đối với chúng.”
180–182. Dục đối với cái Khổ
(Ngoại xứ), v.v.
1.
“Này các Tỳ khưu, các thầy nên
từ bỏ dục đối với bất cứ gì là
khổ … nên từ bỏ ái … nên từ bỏ
dục và ái đối với nó. Và cái gì
là khổ? Các sắc là khổ … Cảnh
pháp là khổ; các thầy nên từ bỏ
dục và ái đối với chúng.” [151]
183–185. Dục đối với cái Vô ngã
(Ngoại xứ), v.v.
1.
“Này các Tỳ khưu, các thầy nên
từ bỏ dục đối với bất cứ gì là
vô ngã … nên từ bỏ ái … nên từ
bỏ dục và ái đối với nó. Và cái
gì là vô ngã? Các sắc là vô ngã
… Cảnh pháp là vô ngã; các thầy
nên từ bỏ dục và ái đối với
chúng.”
186. Quá khứ là Vô thường (Nội
xứ)
1.
“Này các Tỳ khưu, Mắt … Ý của
quá khứ là vô thường. Thấy như
vậy, vị Thánh đệ tử có học hiểu
sanh tâm nhàm chán đối với Mắt …
đối với Ý. Khi đã chán lìa, vị
ấy ly tham. Nhờ ly tham, [Ý]
được giải thoát. Khi đã giải
thoát, có trí tuệ biết rằng: ‘Đã
được giải thoát.’ Vị ấy hiểu
rằng: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã
thành, việc nên làm đã làm xong,
không còn trở lui trạng thái
hiện hữu này nữa.’”
187. Tương lai là Vô thường (Nội
xứ)
1.
“Này các Tỳ khưu, Mắt … Ý của
tương lai sẽ là vô thường. Thấy
như vậy, vị Thánh đệ tử có học
hiểu sanh tâm nhàm chán đối với
Mắt … đối với Ý. Vị ấy hiểu
rằng: ‘… không còn trở lui trạng
thái hiện hữu này nữa.’”
188. Hiện tại là Vô thường (Nội
xứ)
1.
“Này các Tỳ khưu, Mắt … Ý của
hiện tại là vô thường. Thấy như
vậy, vị Thánh đệ tử có học hiểu
sanh tâm nhàm chán đối với Mắt …
đối với Ý. Vị ấy hiểu rằng: ‘…
không còn trở lui trạng thái
hiện hữu này nữa.’” [152]
189–191. Quá khứ, v.v. là Khổ
(Nội xứ)
1.
“Này các Tỳ khưu, Mắt … Ý của
quá khứ … của tương lai … của
hiện tại là khổ. Thấy như vậy …
Vị ấy hiểu rằng: ‘… không còn
trở lui trạng thái hiện hữu này
nữa.’”
192–194. Quá khứ, v.v. là Vô ngã
(Nội xứ)
1.
“Này các Tỳ khưu, Mắt … Ý của
quá khứ … của tương lai … của
hiện tại là vô ngã. Thấy như vậy
… Vị ấy hiểu rằng: ‘… không còn
trở lui trạng thái hiện hữu này
nữa.’”
195–197. Quá khứ, v.v. là Vô
thường (Ngoại xứ)
1.
“Này các Tỳ khưu, các sắc … cảnh
pháp của quá khứ … của tương lai
… của hiện tại là vô thường.
Thấy như vậy … Vị ấy hiểu rằng:
‘… không còn trở lui trạng thái
hiện hữu này nữa.’”
198–200. Quá khứ, v.v. là Khổ
(Ngoại xứ)
1.
“Này các Tỳ khưu, các sắc … cảnh
pháp của quá khứ … của tương lai
… của hiện tại là khổ. Thấy như
vậy … Vị ấy hiểu rằng: ‘… không
còn trở lui trạng thái hiện hữu
này nữa.’” [153]
201–203. Quá khứ, v.v. là Vô ngã
(Ngoại xứ)
1.
“Này các Tỳ khưu, các sắc … cảnh
pháp của quá khứ … của tương lai
… của hiện tại là vô ngã. Thấy
như vậy … Vị ấy hiểu rằng: ‘…
không còn trở lui trạng thái
hiện hữu này nữa.’”
204. Cái Vô thường của Quá khứ
(Nội xứ)
1.
“Này các Tỳ khưu, Mắt … Ý của
quá khứ là vô thường. Cái gì vô
thường là khổ. Cái gì là khổ là
vô ngã. Cái gì là vô ngã nên
được thấy đúng như thật với
chánh trí như sau: ‘Cái này
không phải của tôi, cái này
không phải là tôi, cái này không
phải tự ngã của tôi.’ Thấy như
vậy … Vị ấy hiểu rằng: ‘… không
còn trở lui trạng thái hiện hữu
này nữa.’”
205. Cái Vô thường của Tương lai
(Nội xứ)
1.
“Này các Tỳ khưu, Mắt … Ý của
tương lai sẽ là vô thường. Cái
gì vô thường là khổ. Cái gì là
khổ là vô ngã. Cái gì là vô ngã
nên được thấy đúng như thật với
chánh trí như sau: ‘Cái này
không phải của tôi, cái này
không phải là tôi, cái này không
phải tự ngã của tôi.’ Thấy như
vậy … Vị ấy hiểu rằng: ‘… không
còn trở lui trạng thái hiện hữu
này nữa.’”
206. Cái Vô thường của Hiện tại
(Nội xứ)
1.
“Này các Tỳ khưu, Mắt … Ý của
hiện tại là vô thường. Cái gì vô
thường là khổ. Cái gì là khổ là
vô ngã. Cái gì là vô ngã nên
được thấy đúng như thật với
chánh trí như sau: ‘Cái này
không phải của tôi, cái này
không phải là tôi, cái này không
phải tự ngã của tôi.’ Thấy như
vậy … Vị ấy hiểu rằng: ‘… không
còn trở lui trạng thái hiện hữu
này nữa.’” [154]
207–209. Cái là Khổ của Quá khứ,
v.v. (Nội xứ)
1.
“Này các Tỳ khưu, Mắt … Ý của
quá khứ … của tương lai … của
hiện tại là khổ. Cái gì là khổ
là vô ngã. Cái gì là vô ngã nên
được thấy đúng như thật với
chánh trí như sau: ‘Cái này
không phải của tôi, cái này
không phải là tôi, cái này không
phải tự ngã của tôi.’ Thấy như
vậy … Vị ấy hiểu rằng: ‘… không
còn trở lui trạng thái hiện hữu
này nữa.’”
210–212. Cái là Vô ngã của Quá
khứ, v.v. (Nội xứ)
1.
“Này các Tỳ khưu, Mắt … Ý của
quá khứ … của tương lai … của
hiện tại là vô ngã. Cái gì là vô
ngã nên được thấy đúng như thật
với chánh trí như sau: ‘Cái này
không phải của tôi, cái này
không phải là tôi, cái này không
phải tự ngã của tôi.’ Thấy như
vậy … Vị ấy hiểu rằng: ‘… không
còn trở lui trạng thái hiện hữu
này nữa.’”
213–215. Cái Vô thường của Quá
khứ, v.v. (Ngoại xứ)
1.
“Này các Tỳ khưu, các sắc … cảnh
pháp của quá khứ … của tương lai
… của hiện tại là vô thường. Cái
gì vô thường là khổ. Cái gì là
khổ là vô ngã. Cái gì là vô ngã
nên được thấy đúng như thật với
chánh trí như sau: ‘Cái này
không phải của tôi, cái này
không phải là tôi, cái này không
phải tự ngã của tôi.’ Thấy như
vậy … Vị ấy hiểu rằng: ‘… không
còn trở lui trạng thái hiện hữu
này nữa.’” [155]
216–218. Cái là Khổ của Quá khứ,
v.v. (Ngoại xứ)
1.
“Này các Tỳ khưu, các sắc … cảnh
pháp của quá khứ … của tương lai
… của hiện tại là khổ. Cái gì là
khổ là vô ngã. Cái gì là vô ngã
nên được thấy đúng như thật với
chánh trí như sau: ‘Cái này
không phải của tôi, cái này
không phải là tôi, cái này không
phải tự ngã của tôi.’ Thấy như
vậy … Vị ấy hiểu rằng: ‘… không
còn trở lui trạng thái hiện hữu
này nữa.’”
219–221. Cái là Vô ngã của Quá
khứ, v.v. (Ngoại xứ)
1.
“Này các Tỳ khưu, các sắc … cảnh
pháp của quá khứ … của tương lai
… của hiện tại là vô ngã. Cái gì
là vô ngã nên được thấy đúng như
thật với chánh trí như sau: ‘Cái
này không phải của tôi, cái này
không phải là tôi, cái này không
phải tự ngã của tôi.’ Thấy như
vậy … Vị ấy hiểu rằng: ‘… không
còn trở lui trạng thái hiện hữu
này nữa.’”
222. Các Căn là Vô thường (Nội
xứ)
1.
“Này các Tỳ khưu, Mắt là vô
thường … Ý là vô thường. Thấy
như vậy … Vị ấy hiểu rằng: ‘…
không còn trở lui trạng thái
hiện hữu này nữa.’”
223. Các Căn là Khổ (Nội xứ)
1.
“Này các Tỳ khưu, Mắt là khổ … Ý
là khổ. Thấy như vậy … Vị ấy
hiểu rằng: ‘… không còn trở lui
trạng thái hiện hữu này nữa.’”
[156]
224. Các Căn là Vô ngã (Nội xứ)
1.
“Này các Tỳ khưu, Mắt là vô ngã
… Ý là vô ngã. Thấy như vậy … Vị
ấy hiểu rằng: ‘… không còn trở
lui trạng thái hiện hữu này
nữa.’”
225. Các Căn là Vô thường (Ngoại
xứ)
1.
“Này các Tỳ khưu, các sắc là vô
thường … cảnh pháp là vô thường.
Thấy như vậy … Vị ấy hiểu rằng:
‘… không còn trở lui trạng thái
hiện hữu này nữa.’”
226. Các Căn là Khổ (Ngoại xứ)
1.
“Này các Tỳ khưu, các sắc là khổ
… cảnh pháp là khổ. Thấy như vậy
… Vị ấy hiểu rằng: ‘… không còn
trở lui trạng thái hiện hữu này
nữa.’”
227. Các Căn là Vô ngã (Ngoại
xứ)
1.
“Này các Tỳ khưu, các sắc là vô
ngã … cảnh pháp là vô ngã. Thấy
như vậy … Vị ấy hiểu rằng: ‘…
không còn trở lui trạng thái
hiện hữu này nữa.’” [157]
Chú Thích
Xem Sớ Giải với những điểm cần
lưu ý
Sớ Giải
“168–227. Tadanantaro saṭṭhipeyyālo
nāma hoti, so uttānatthova. Yāni
panettha saṭṭhi
suttāni vuttāni, tāni ‘chando
pahātabbo’ti evaṃ
tassa tasseva padassa vasena
bujjhanakānaṃ
ajjhāsayavasena vuttāni. Iti
sabbāni tāni pāṭiyekkena
puggalajjhāsayavasena kathitāni.
Ekekasuttapariyosāne cettha saṭṭhi
saṭṭhi
bhikkhū arahattaṃ
pattā”ti.
168–227.
Phần tiếp theo được gọi là
Saṭṭhipeyyāla — tức là loạt
có sáu mươi pháp thoại,
và ý nghĩa
đã được trình bày rõ
ràng. Sáu mươi bài kinh được nói
ra ở đây đều xoay quanh cùng một
cụm từ chính: “Dục nên được từ
bỏ”, được giảng dạy tùy theo
khuynh hướng của người có thể
thấu hiểu mỗi cụm từ ấy. Như
vậy, tất cả các bài kinh ấy đều
được trình bày riêng biệt theo
căn cơ
của từng người. Và vào
cuối mỗi bài kinh, có sáu mươi
vị Tỳ kheo chứng đắc A-la-hán
quả.
Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu
II. Phẩm Sáu Mươi Lược Thuyết
167. I. Do Dục Niệm (18
kinh) (1) (S.iv,148)
1-2) ...
3) -- Này các Tỷ-kheo, cái gì vô
thường, ở đấy, các Ông cần phải
đoạn trừ lòng dục. Và này các
Tỷ-kheo, cái gì là vô thường?
(Như kinh 161, chỉ khác, Thế
Tôn nói với các Tỷ-kheo).
II. Do Dục Niệm (2)
(Như kinh trên, chỉ thế tham (ràga)
cho dục niệm).
III. Do Dục Niệm (3)
(Như kinh trên, chỉ thế dục
và tham cho dục niệm)...
168. IV-VI. Do Dục Niệm (4),
(5), (6). (S.iv,149)
1-2) ...
3) -- Cái gì khổ, này các
Tỷ-kheo, ở đấy các Ông cần phải
đoạn trừ lòng dục... lòng
tham... lòng dục và tham... Và
này các Tỷ-kheo, cái gì là khổ?
4) Mắt là khổ, này các Tỷ-kheo,
ở đấy các Ông cần phải đoạn trừ
lòng dục... lòng tham... lòng
dục và tham...
5-8) Tai... Mũi... Lưỡi...
Thân...
9) Ý là khổ, ở đấy các Ông cần
phải đoạn trừ lòng dục... lòng
tham... lòng dục và tham...
10) Cái gì là khổ, này các
Tỷ-kheo, ở đấy các Ông cần phải
đoạn trừ lòng dục... lòng
tham... lòng dục và tham.
169. VII-IX. Do Lòng Dục (7),
(8), (9), (S.iv,150)
1-2) ...
3) -- Cái gì vô ngã, này các
Tỷ-kheo, ở đấy các Ông cần phải
đoạn trừ lòng dục... lòng
tham... lòng dục và tham... Và
này các Tỷ-kheo, cái gì là vô
ngã?
4) Mắt, này các Tỷ-kheo, là vô
ngã, ở đấy các Ông cần phải đoạn
trừ lòng dục... lòng tham...
lòng dục và tham...
5-8) Tai... Mũi... Lưỡi...
Thân...
9) Ý là vô ngã, ở đấy các Ông
cần phải đoạn trừ lòng dục...
lòng tham... lòng dục và tham.
10) Cái gì là vô ngã, này các
Tỷ-kheo, ở đấy các Ông cần phải
đoạn trừ lòng dục... lòng
tham... lòng dục và tham.
170. X-XII. Do Lòng Dục (10),
(11), (12) (S,iv,150)
1-2) ...
3) -- Cái gì vô thường, này các
Tỷ-kheo, ở đấy các Ông cần phải
đoạn trừ lòng dục... lòng
tham... lòng dục và tham. Và này
các Tỷ-kheo, cái gì là vô
thường?
4) Các sắc là vô thường, này các
Tỷ-kheo, ở đấy các ông cần phải
đoạn trừ lòng dục... lòng
tham... lòng dục và tham...
5-8) Các tiếng... Các hương...
Các vị... Các xúc...
9) Các pháp là vô thường, này
các Tỷ-kheo, ở đấy các Ông cần
phải đoạn trừ lòng dục... lòng
tham... lòng dục và tham...
10) Cái gì vô thường, này các
Tỷ-kheo, ở đấy các Ông cần phải
đoạn trừ lòng dục... lòng
tham... lòng dục và tham.
171. XIII-XV. Do Lòng Dục (13),
(14), (15) (S.iv,150)
1-2) ...
3) -- Cái gì khổ, này các
Tỷ-kheo, ở đấy các Ông cần phải
đoạn trừ lòng dục... lòng
tham... lòng dục và tham... Và
này các Tỷ-kheo, cái gì là khổ?
4) Các sắc, này các Tỷ-kheo, là
khổ, ở đấy các Ông cần phải đoạn
trừ lòng dục... lòng tham...
lòng dục và tham...
5-8) Các tiếng... Các hương...
Các vị... Các xúc...
9) Các pháp là khổ, này các
Tỷ-kheo, ở đấy các Ông cần phải
đoạn trừ lòng dục... lòng
tham... lòng dục và tham...
10) Cái gì khổ, này các Tỷ-kheo,
ở đấy các Ông cần phải đoạn trừ
lòng dục... lòng tham... lòng
dục và tham...
172. XVI-XVIII. Do Lòng Dục (16),
(17), (18) (S.iv,151)
1-2) ...
3) -- Cái gì vô ngã, này các
Tỷ-kheo, ở đấy các Ông cần phải
đoạn trừ lòng dục... lòng
tham... lòng dục và tham... Và
này các Tỷ-kheo, cái gì là vô
ngã?
4) Các sắc, này các Tỷ-kheo, là
vô ngã, ở đấy các Ông cần phải
đoạn trừ lòng dục... lòng
tham... lòng dục và tham...
5-8) Các tiếng... Các hương...
Các vị... Các xúc...
9) Các pháp, này các Tỷ-kheo, là
vô ngã, ở đấy các Ông cần phải
đoạn trừ lòng dục... lòng
tham... lòng dục và tham...
10) Cái gì là vô ngã, này các
Tỷ-kheo, ở đấy các Ông cần phải
đoạn trừ lòng dục... lòng
tham... lòng dục và tham...
173. XIX. Thuộc Quá Khứ (1)(9
kinh) (S.iv,151)
1-2) ...
3-9) -- Mắt, này các Tỷ-kheo, là
vô thường, thuộc quá khứ. Tai...
Mũi... Lưỡi... Thân... Ý là vô
thường, thuộc quá khứ.
10) Thấy vậy, này các Tỷ-kheo,
vị Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán
đối với mắt, nhàm chán đối với
tai, nhàm chán đối với mũi, nhàm
chán đối với lưỡi, nhàm chán đối
với thân, nhàm chán đối với ý.
Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do
ly tham, vị ấy được giải thoát.
Trong sự giải thoát, trí khởi
lên biết rằng: "Ta đã được giải
thoát". Vị ấy biết rõ: "Sanh đã
tận, Phạm hạnh đã thành, những
việc nên làm đã làm, không còn
trở lui trạng thái này nữa".
XX. Thuộc Quá Khứ (2)
1-2) ...
3-8) -- Mắt, này các Tỷ-kheo, là
vô thường, thuộc vị lai...
Tai... Mũi... Lưỡi... Thân... Ý
là vô thường, thuộc vị lai.
9) Thấy vậy... "... không còn
trở lui trạng thái này nữa".
XXI. Thuộc Quá Khứ (3)
1-2) ...
3-8) Mắt, này các Tỷ-kheo, là vô
thường, thuộc hiện tại. Tai...
Mũi... Lưỡi... Thân... Ý là vô
thường, thuộc hiện tại...
9) Thấy vậy... "... không còn
trở lui trạng thái này nữa".
174. XXII-XXIV. Thuộc Quá Khứ
, (4),
(5), (6), (S.iv,152)
1-2) ...
3-8) -- Mắt, này các Tỷ-kheo, là
khổ, thuộc quá khứ... thuộc vị
lai... thuộc hiện tại... Tai...
Mũi... Lưỡi... Thân... Ý là khổ,
thuộc quá khứ... thuộc vị lai...
thuộc hiện tại...
9) Thấy vậy... "... không còn
trở lui trạng thái này nữa".
175. XXV-XXVII. Thuộc Quá Khứ (7),
(8), (9), (S.iv,152)
1-2) ...
3-8) -- Mắt, này các Tỷ-kheo, là
vô ngã, thuộc quá khứ... thuộc
vị lai... thuộc hiện tại...
Tai... Mũi... Lưỡi... Thân... Ý
là vô ngã, thuộc quá khứ...
thuộc vị lai... thuộc hiện
tại...
9) Thấy vậy... "... không còn
trở lui trạng thái này nữa".
176. XXVIII-XXX. Thuộc Quá Khứ
(9 kinh)
(10), (11), (12) (S.iv,152)
1-2) ...
3-8) -- Các sắc, này các
Tỷ-kheo, là vô thường, thuộc quá
khứ... thuộc vị lai... thuộc
hiện tại... Các tiếng... Các
hương.... Các vị... Các xúc...
Các pháp là vô thường, thuộc quá
khứ... thuộc vị lai... thuộc
hiện tại...
9) Thấy vậy... "... không còn
trở lui trạng thái này nữa".
177. XXXI-XXXIII. Thuộc Quá Khứ (13),
(14), (15) (S.iv,152)
1-2) ...
3-8) -- Các sắc, này các
Tỷ-kheo, là khổ, thuộc quá
khứ... thuộc vị lai... thuộc
hiện tại... Các tiếng... Các
hương.... Các vị... Các xúc...
Các pháp là khổ, thuộc quá
khứ... thuộc vị lai... thuộc
hiện tại...
9) Thấy vậy... "... không còn
trở lui trạng thái này nữa".
178. XXXIV-XXXVI. Thuộc Quá Khứ (16),
(17), (18) (S.iv,152)
1-2) ...
3-8) -- Các sắc, này các
Tỷ-kheo, là vô ngã, thuộc quá
khứ... thuộc vị lai... thuộc
hiện tại... Các tiếng... Các
hương.... Các vị... Các xúc...
Các pháp là vô ngã, thuộc quá
khứ... thuộc vị lai... thuộc
hiện tại...
9) Thấy vậy... "... không còn
trở lui trạng thái này nữa".
179. XXXVII. Cái Gì Vô Thường (18
kinh) (1)(S.iv,152)
1-2) ...
3) -- Mắt, này các Tỷ-kheo, là
vô thường, thuộc quá khứ. Cái gì
vô thường, cái ấy là khổ. Cái gì
khổ, cái ấy là vô ngã. Cái gì vô
ngã, cái ấy không phải là của
tôi, cái ấy không phải là tôi,
cái ấy không phải là tự ngã của
tôi. Như vậy, cần phải như thật
quán cái ấy với chánh trí tuệ.
4-7) Tai là vô thường... Mũi là
vô thường... Lưỡi là vô
thường... Thân là vô thường...
8) Ý là vô thường, thuộc quá
khứ. Cái gì vô thường, cái ấy là
khổ. Cái gì khổ, cái ấy là vô
ngã. Cái gì vô ngã, cái ấy không
phải là của tôi, cái ấy không
phải là tôi, cái ấy không phải
là tự ngã của tôi. Như vậy, cần
phải như thật quán cái ấy với
chánh trí tuệ.
9) Thấy vậy... "... không còn
trở lui trạng thái này nữa".
XXXVIII. Cái Gì Vô Thường (2)
1-2) ...
3) -- Mắt, này các Tỷ-kheo, là
vô thường, thuộc vị lai. Cái gì
vô thường là khổ... (như kinh
trên, chỉ khác đây thuộc vị
lai).
XXXIX. Cái Gì Vô Thường (3)
(Như kinh trên, chỉ khác đây
thuộc hiện tại)
180. XL-XLII. Cái Gì Vô Thường (4),
(5), (6), (S.iv,154)
1-2) ...
3) -- Mắt, này các Tỷ-kheo, là
khổ, thuộc quá khứ... thuộc vị
lai... thuộc hiện tại... Cái gì
khổ, cái ấy là vô ngã. Cái gì vô
ngã, cái ấy không phải là của
tôi, cái ấy không phải là tôi,
cái ấy không phải là tự ngã của
tôi. Như vậy, cần phải như thật
quán cái ấy với chánh trí tuệ.
4-7) Tai... Mũi... Lưỡi...
Thân...
8) Ý là khổ, thuộc quá khứ...
thuộc vị lai... thuộc hiện
tại... Cái gì khổ, cái ấy là vô
ngã. Cái gì vô ngã, cái ấy không
phải là của tôi, cái ấy không
phải là tôi, cái ấy không phải
là tự ngã của tôi. Như vậy, cần
phải như thật quán cái ấy với
chánh trí tuệ.
9) Thấy vậy... "... không còn
trở lui trạng thái này nữa".
181. XLIII-XLV. Cái Gì Vô Thường (7),
(8), (9) (S,iv,154)
1-2) ...
3) -- Mắt, này các Tỷ-kheo, là
vô ngã, thuộc quá khứ... thuộc
vị lai... thuộc hiện tại... Cái
gì vô ngã, cái ấy không phải là
của tôi, cái ấy không phải là
tôi, cái ấy không phải là tự ngã
của tôi... (như trên)...
182. XLVI - XLVIII. Cái Gì Vô
Thường (10),
(11), (12) (S.iv,154)
1-2) ...
3) -- Các sắc, này các Tỷ-kheo,
là vô thường, thuộc quá khứ...
thuộc vị lai... thuộc hiện
tại... Cái gì vô thường, cái ấy
là khổ. Cái gì khổ, cái ấy là vô
ngã. Cái gì vô ngã, cái ấy không
phải là của tôi, cái ấy không là
tôi, cái ấy không phải là tự ngã
của tôi. Như vậy, cần phải như
thật quán cái ấy với chánh trí
tuệ.
4-7) Các tiếng... Các hương...
Các vị... Các xúc...
8) Các pháp là vô thường, thuộc
quá khứ... thuộc vị lai... thuộc
hiện tại... Cái gì vô thường,
cái ấy là khổ. Cái gì khổ, cái
ấy là vô ngã. Cái gì vô ngã, cái
ấy không phải là của tôi, cái ấy
không phải là tôi, cái ấy không
phải là tự ngã của tôi. Như vậy,
cần phải như thật quán cái ấy
với chánh trí tuệ.
9) Thấy vậy... "... không còn
trở lui trạng thái này nữa".
183. XLIX-LI. Cái Gì Vô Thường (13),
(14), (15). (S.iv,155)
1-2) ...
3) -- Các sắc, này các Tỷ-kheo,
là khổ, thuộc quá khứ... thuộc
vị lai... thuộc hiện tại... Cái
gì khổ, cái ấy là vô ngã. Cái gì
vô ngã, cái ấy không phải là của
tôi, cái ấy không phải là tôi,
cái ấy không phải là tự ngã của
tôi. Như vậy, cần phải như thật
quán cái ấy với chánh trí tuệ.
4-7) Các pháp là khổ, thuộc quá
khứ... thuộc vị lai... thuộc
hiện tại... Cái gì khổ, cái ấy
là vô ngã. Cái gì vô ngã, cái ấy
không phải là của tôi, cái ấy
không phải là tôi, cái ấy không
phải là tự ngã của tôi. Như vậy,
cần phải như thật quán cái ấy
với chánh trí tuệ.
9) Thấy vậy... "... không còn
trở lui trạng thái này nữa".
184. LII-LIV. Cái Gì Vô Thường (16),
(17), (18) (S.iv,155)
1-2) ...
3) -- Các sắc, này các Tỷ-kheo,
là vô ngã, thuộc quá khứ...
thuộc vị lai... thuộc hiện
tại... Cái gì vô ngã, cái ấy
không phải là của tôi, cái ấy
không phải là tôi, cái ấy không
phải là tự ngã của tôi.
4-7) Các tiếng... Các hương...
Các vị... Các xúc...
8) Các pháp là vô ngã, thuộc quá
khứ... thuộc vị lai... thuộc
hiện tại... Cái gì vô ngã, cái
ấy không phải là của tôi, cái ấy
không phải là tôi, cái ấy không
phải là tự ngã của tôi. Như vậy,
cần phải như thật quán cái ấy
với chánh trí tuệ.
9) Thấy vậy... "... không còn
trở lui trạng thái này nữa".
185. LV. Nội (3
kinh) (1) (S.iv,155)
1-2) ...
3-8) -- Mắt, này các Tỷ-kheo, là
vô thường. Tai... Mũi... Lưỡi...
Thân... Ý là vô thường.
9) Thấy vậy... "... không còn
trở lui trạng thái này nữa".
LVI. Nội (2)
1-2) ...
3-8) -- Mắt, này các Tỷ-kheo, là
khổ. Tai... Mũi... Lưỡi...
Thân... Ý là khổ...
9) Thấy vậy... "... không còn
trở lui trạng thái này nữa".
LVII. Nội (3)
1-2) ...
3-8) Mắt, này các Tỷ-kheo, là vô
ngã... Tai... Mũi... Lưỡi...
Thân... Ý là vô ngã.
9) Thấy vậy... "... không còn
trở lui trạng thái này nữa".
186. LVIII. Ngoại (3
kinh) (1) (S.iv,156)
1-2) ...
3-8) -- Các sắc, này các
Tỷ-kheo, là vô thường. Các
tiếng... Các hương... Các vị...
Các xúc... Các pháp là vô
thường...
9) Thấy vậy... "... không còn
trở lui trạng thái này nữa".
LIX. Ngoại (2)
1-2) ...
3-8) -- Các sắc, này các
Tỷ-kheo, là khổ. Các tiếng...
Các hương... Các vị... Các
xúc... Các pháp là khổ...
LX. Ngoại (3)
1-2) ...
3-8) -- Các sắc, này các
Tỷ-kheo, là vô ngã. Các tiếng...
Các hương... Các vị... Các
xúc... Các pháp là vô ngã...
9) Thấy vậy... "... không còn
trở lui trạng thái này nữa". -ooOoo- |