|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Ba, ngày 10 tháng 06, 2025
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
******
Khi người ta khổ, nhất là khi
quá khổ, thường than trời trách
đất cho số phận nghiệt ngã. Đức
Phật dạy rõ khổ đau tồn tại vì
chúng sanh bị khổ mà không chán
khổ. Chính những đeo mang ài
chấp khiến khổ càng them khổ. Vị
ngọt của kiếp trầm luân khiến
chúng sanh cả đời đi tìm thứ
hạnh phúc mà “vị ngọt luôn đi
chung với hiểm nạn”.
Rất ít người đủ hung tâm
thắng trí buông bỏ cái khổ đã
đeo mang từ muôn kiếp tử sinh.
KINH VĂN
229. “samuddo, samuddo’ti,
bhikkhave, assutavā puthujjano
bhāsati. neso, bhikkhave,
ariyassa vinaye samuddo. mahā
eso, bhikkhave, udakarāsi
mahāudakaṇṇavo. santi,
bhikkhave, cakkhuviññeyyā rūpā
iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā
kāmūpasaṃhitā rajanīyā. ayaṃ
vuccati, bhikkhave, ariyassa
vinaye samuddo. etthāyaṃ
sadevako loko samārako
sabrahmako sassamaṇabrāhmaṇī
pajā sadevamanussā yebhuyyena
samunnā tantākulakajātā
kulagaṇṭhikajātā
{guḷāguṇṭhikajātā (sī.),
kulaguṇḍikajātā (syā. kaṃ.),
guṇaguṇikajātā (pī.),
kulāguṇḍikajātā (ka.)}
muñjapabbajabhūtā, apāyaṃ
duggatiṃ vinipātaṃ saṃsāraṃ
nātivattati ... pe ....
“santi, bhikkhave,
jivhāviññeyyā rasā ... pe ...
santi, bhikkhave, manoviññeyyā
dhammā iṭṭhā kantā manāpā
piyarūpā kāmūpasaṃhitā rajanīyā.
ayaṃ vuccati, bhikkhave,
ariyassa vinaye samuddo.
etthāyaṃ sadevako loko samārako
sabrahmako sassamaṇabrāhmaṇī
pajā sadevamanussā yebhuyyena
samunnā tantākulakajātā
kulagaṇṭhikajātā
muñjapabbajabhūtā apāyaṃ
duggatiṃ vinipātaṃ saṃsāraṃ
nātivattatī”ti.
“yassa rāgo ca doso ca,
229.
“Này chư Tỳ khưu, phàm phu thiếu
hiểu biết thường nói: ‘biển cả,
biển cả’. Nhưng điều ấy không
phải là biển cả theo pháp và
luật của bậc Thánh; đó chỉ là
đại dương, là một khối nước lớn,
một vùng nước mênh mông.
Này chư Tỳ khưu, có những sắc
được nhận biết bằng mắt đáng
yêu, thú vị, ưng ý, hấp dẫ, khơi
dậy dục vọng, làm say đắm lòng
người. Chính đó, này chư Tỳ
khưu, được gọi là biển cả trong
pháp luật của bậc Thánh . Ở đấy,
chúng sanh gồm chư thiên, Ma
vương, Phạm thiên, các Sa-môn,
Bà-la-môn và loài người — phần
lớn — bị cuốn hút, bị rối rắm
như tơ vò, như giống cây lau rễ
bện xoắn, khiến kẻ trở thành kẻ
xuất gia trở thành hữu danh vô
thực, không thể vượt khỏi khổ
cảnh, ác thú, đọa xứ, và luân
hồi...
,,,,,,,,
Cũng vậy, này chư Tỳ khưu, có
những vị ngọt được nhận biết
bằng lưỡi...
Có những cảnh pháp được nhận
biết bằng ý — đáng yêu, thú vị,
ưng ý, hấp dẫ, khơi dậy dục
vọng, làm say đắm lòng người.
Chính đó, này chư Tỳ khưu, được
gọi là biển cả trong pháp luật
của bậc Thánh . Ở đấy, chúng
sanh gồm chư thiên, Ma vương,
Phạm thiên, các Sa-môn,
Bà-la-môn và loài người — phần
lớn — bị cuốn hút, bị rối rắm
như tơ vò, như giống cây lau rễ
bện xoắn, khiến kẻ trở thành kẻ
xuất gia trở thành hữu danh vô
thực, không thể vượt khỏi khổ
cảnh, ác thú, đọa xứ, và luân
hồi...
Ai đoạn tận tham, sân
Cắt triền phược, thủ đắc
Chú Thích
Bài kinh trước nói về sáu nội xứ
ví như biển. Bài kinh nầy nói về
sáu trần cảnh là biển. Vi vô
minh, trần cảnh khiến nội tâm có
những trận “bão laòng” với biết
bao phong ba, hiểm nạn.
Hai kệ ngôn cuối bài kinh là một
mô tả hàm xúc về quả vị viên
giác tức chư vị a la hán.
Đau khổ là vấn nạn lớn của kiếp
nhân sinh. Hành giả có thể dung
khổ đau để từ bỏ tham luyến đối
với trần cảnh.
Sớ Giải
"Dutiye samuddoti samuddanaṭṭhena
samuddo, kiledanaṭṭhena
temanaṭṭhenāti
vuttaṃ
hoti."
Như vậy, “biển cả” không chỉ là
nước, mà là ẩn dụ cho sự trôi
lăn trong dục và phiền não.
"Yebhuyyenāti ṭhapetvā
ariyasāvake."
Tức là, đa số chúng sinh đều bị
chìm đắm trong dục trần, chỉ trừ
những ai đã đạt Thánh đạo, Thánh
quả.
"Samunnāti kilinnā tintā
nimuggā."
Hình ảnh ví von cho chúng sinh
bị nhuộm đẫm bởi tham dục, chìm
trong biển trần.
"Tantākulakajātāti-ādi heṭṭhā
vitthāritameva."
Những hình ảnh như tơ rối, chỉ
thắt nút, lau sậy rối là ẩn dụ
cho tâm trí bị phiền não ràng
buộc.
"Maccujahoti tayo maccū jahitvā
ṭhito."
"Nirupadhīti tīhi upadhīhi
anupadhi."
1.
Kāma-upadhi – chấp vào dục,
2.
Bhava-upadhi – chấp vào hữu,
3.
Diṭṭhi-upadhi – chấp vào kiến.
Đây là trạng thái của bậc
A-la-hán: hoàn toàn không còn
ràng buộc.
"Apunabbhavāyāti nibbānatthāya."
"Amohayī maccurājanti yathā
tassa gatiṃ na jānāti, evaṃ
maccurājānaṃ mohetvā gato."
Ẩn dụ cho vị đã chứng Niết-bàn,
không còn dấu tích, không bị
sinh tử chi phối.
"Tatiyaṃ vuttanayameva."
Bản dịch của Hoà thượng Thích
Minh Châu
188. II. Biển (2)(S.iv,157)
1) ...
2) -- "Biển, biển", này các
Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu nói
như vậy. Cái ấy, này các
Tỷ-kheo, không phải là biển
trong giới luật của bậc Thánh.
Cái ấy (của kẻ phàm phu) là một
khối nước lớn, một dòng nước
lớn.
3-5) Này các Tỷ-kheo, có những
sắc do mắt nhận thức khả lạc,
khả hỷ, khá ý, khả ái, liên hệ
đến dục, hấp dẫn. Này các
Tỷ-kheo, đây không gọi là biển
trong giới luật của bậc Thánh. Ở
đây, thế giới này với Thiên
giới, với Ma giới, với Phạm
thiên giới, với quần chúng
Sa-môn, Bà-la-môn, với chư Thiên
và loài Người, phần lớn chìm đắm
trong ấy, bị rối ren như cuộn
chỉ, bị bao trùm như cuộn dây,
thành như sợi dây bện bằng cỏ,
không thể vượt qua cõi dữ, ác
thú, đọa xứ, luân hồi!
6-7) Này các Tỷ-kheo, có những
tiếng do tai nhận thức... có
những hương do mũi nhận thức...
có những vị do lưỡi nhận thức...
có những xúc do thân nhận
thức...
8) Này các Tỷ-kheo, có những
pháp do ý nhận thức khả lạc, khả
hỷ, khả ái, khả ý, liên hệ đến
dục, hấp dẫn. Này các Tỷ-kheo,
đây không gọi là biển trong giới
luật của bậc Thánh. Ở đây, thế
giới này với Thiên giới, với Ma
giới, với Phạm thiên giới, với
quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn,
với chư Thiên và loài Người,
phần lớn chìm đắm trong ấy, bị
rối ren như cuộn chỉ, bị bao
trùm như cuộn dây, thành như sợi
dây bện bằng cỏ, không thể vượt
qua cõi dữ, ác thú, đọa xứ, luân
hồi! -ooOoo- |