BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Tư, ngày 11 tháng 06, 2025

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập III – Chương 35. Tương Ưng Sáu Xứ - Phẩm Biển Cả- SN 35.229.
Học lại Bài 434. TỬ SANH ĐẠI MỘNG- Kinh Biển Cả II (Dutiyasamudda Sutta).
****** http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-434.jpg








http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png

Khi người ta khổ, nhất là khi quá khổ, thường than trời trách đất cho số phận nghiệt ngã. Đức Phật dạy rõ khổ đau tồn tại vì chúng sanh bị khổ mà không chán khổ. Chính những đeo mang ài chấp khiến khổ càng them khổ. Vị ngọt của kiếp trầm luân khiến chúng sanh cả đời đi tìm thứ hạnh phúc mà “vị ngọt luôn đi chung với hiểm nạn”.  Rất ít người đủ hung tâm thắng trí buông bỏ cái khổ đã đeo mang từ muôn kiếp tử sinh.

KINH VĂN

229. “samuddo, samuddo’ti, bhikkhave, assutavā puthujjano bhāsati. neso, bhikkhave, ariyassa vinaye samuddo. mahā eso, bhikkhave, udakarāsi mahāudakaṇṇavo. santi, bhikkhave, cakkhuviññeyyā rūpā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṃhitā rajanīyā. ayaṃ vuccati, bhikkhave, ariyassa vinaye samuddo. etthāyaṃ sadevako loko samārako sabrahmako sassamaṇabrāhmaṇī pajā sadevamanussā yebhuyyena samunnā tantākulakajātā kulagaṇṭhikajātā {guḷāguṇṭhikajātā (sī.), kulaguṇḍikajātā (syā. kaṃ.), guṇaguṇikajātā (pī.), kulāguṇḍikajātā (ka.)} muñjapabbajabhūtā, apāyaṃ duggatiṃ vinipātaṃ saṃsāraṃ nātivattati ... pe ....  “santi, bhikkhave, jivhāviññeyyā rasā ... pe ... santi, bhikkhave, manoviññeyyā dhammā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṃhitā rajanīyā. ayaṃ vuccati, bhikkhave, ariyassa vinaye samuddo. etthāyaṃ sadevako loko samārako sabrahmako sassamaṇabrāhmaṇī pajā sadevamanussā yebhuyyena samunnā tantākulakajātā kulagaṇṭhikajātā muñjapabbajabhūtā apāyaṃ duggatiṃ vinipātaṃ saṃsāraṃ nātivattatī”ti.

“yassa rāgo ca doso ca,
avijjā ca virājitā.
so imaṃ samuddaṃ sagāhaṃ sarakkhasaṃ, saūmibhayaṃ duttaraṃ accatari. “saṅgātigo maccujaho nirupadhi, pahāsi dukkhaṃ apunabbhavāya.  atthaṅgato so na puneti {na pamāṇameti (sī. syā. kaṃ. pī.)}, amohayī, maccurājanti brūmī”ti. dutiyaṃ.


229. “Này chư Tỳ khưu, phàm phu thiếu hiểu biết thường nói: ‘biển cả, biển cả’. Nhưng điều ấy không phải là biển cả theo pháp và luật của bậc Thánh; đó chỉ là đại dương, là một khối nước lớn, một vùng nước mênh mông.

Này chư Tỳ khưu, có những sắc được nhận biết bằng mắt đáng yêu, thú vị, ưng ý, hấp dẫ, khơi dậy dục vọng, làm say đắm lòng người. Chính đó, này chư Tỳ khưu, được gọi là biển cả trong pháp luật của bậc Thánh . Ở đấy, chúng sanh gồm chư thiên, Ma vương, Phạm thiên, các Sa-môn, Bà-la-môn và loài người — phần lớn — bị cuốn hút, bị rối rắm như tơ vò, như giống cây lau rễ bện xoắn, khiến kẻ trở thành kẻ xuất gia trở thành hữu danh vô thực, không thể vượt khỏi khổ cảnh, ác thú, đọa xứ, và luân hồi...

,,,,,,,,

Cũng vậy, này chư Tỳ khưu, có những vị ngọt được nhận biết bằng lưỡi...

Có những cảnh pháp được nhận biết bằng ý — đáng yêu, thú vị, ưng ý, hấp dẫ, khơi dậy dục vọng, làm say đắm lòng người. Chính đó, này chư Tỳ khưu, được gọi là biển cả trong pháp luật của bậc Thánh . Ở đấy, chúng sanh gồm chư thiên, Ma vương, Phạm thiên, các Sa-môn, Bà-la-môn và loài người — phần lớn — bị cuốn hút, bị rối rắm như tơ vò, như giống cây lau rễ bện xoắn, khiến kẻ trở thành kẻ xuất gia trở thành hữu danh vô thực, không thể vượt khỏi khổ cảnh, ác thú, đọa xứ, và luân hồi...

Ai đoạn tận tham, sân
Cùng vô minh si ám
Là vượt qua biển khổ
Phong ba, đầy hiểm nạn

Cắt triền phược, thủ đắc
Đoạn khổ, dứt trầm luân
Ta nói: bậc khó lường
Khiến Thần Chết lạc lối

Chú Thích

Bài kinh trước nói về sáu nội xứ ví như biển. Bài kinh nầy nói về sáu trần cảnh là biển. Vi vô minh, trần cảnh khiến nội tâm có những trận “bão laòng” với biết bao phong ba, hiểm nạn.

Hai kệ ngôn cuối bài kinh là một mô tả hàm xúc về quả vị viên giác tức chư vị a la hán.

Đau khổ là vấn nạn lớn của kiếp nhân sinh. Hành giả có thể dung khổ đau để từ bỏ tham luyến đối với trần cảnh.

Sớ Giải

"Dutiye samuddoti samuddanaṭṭhena samuddo, kiledanaṭṭhena temanaṭṭhenāti vuttaṃ hoti."
Ở bài kinh thứ hai (229), từ "samudda" (biển cả) có nghĩa là:

  • “samuddanaṭṭhena” – nơi mà mọi thứ tụ lại, chảy vào (nghĩa gốc của "samudda"),
  • “kiledanaṭṭhena” – nơi làm cho bị nhiễm ô (kilesa – phiền não),
  • “temanaṭṭhena” – nơi làm cho bị thấm ướt, làm mềm yếu, ám chỉ sự khuất phục dưới dục lạc.

Như vậy, “biển cả” không chỉ là nước, mà là ẩn dụ cho sự trôi lăn trong dục và phiền não.

"Yebhuyyenāti ṭhapetvā ariyasāvake."
"Chữ ‘phần lớn (yebhuyyena)’ ở đây có nghĩa là: ngoại trừ các bậc Thánh đệ tử (ariyasāvaka)."

Tức là, đa số chúng sinh đều bị chìm đắm trong dục trần, chỉ trừ những ai đã đạt Thánh đạo, Thánh quả.

"Samunnāti kilinnā tintā nimuggā."
"Samunna" có nghĩa là: bị ngấm, bị ướt sũng, bị chìm sâu xuống.

Hình ảnh ví von cho chúng sinh bị nhuộm đẫm bởi tham dục, chìm trong biển trần.

"Tantākulakajātāti-ādi heṭṭhā vitthāritameva."
"Các ví dụ như ‘rối như tơ vò’ v.v... đã được giải thích ở phần trước."

Những hình ảnh như tơ rối, chỉ thắt nút, lau sậy rối là ẩn dụ cho tâm trí bị phiền não ràng buộc.

"Maccujahoti tayo maccū jahitvā ṭhito."
“Maccujaho” (bỏ chết) nghĩa là: người đã lìa xa ba loại Tử thần (maccu), và đứng vững sau khi bỏ chúng.

"Nirupadhīti tīhi upadhīhi anupadhi."
“Nirupadhi” là người không còn ba loại sở y (upadhi), tức:

1.    Kāma-upadhi – chấp vào dục,

2.    Bhava-upadhi – chấp vào hữu,

3.    Diṭṭhi-upadhi – chấp vào kiến.

Đây là trạng thái của bậc A-la-hán: hoàn toàn không còn ràng buộc.


"Apunabbhavāyāti nibbānatthāya."
“Apunabbhava” – không còn tái sinh – là ám chỉ đến Niết-bàn.

"Amohayī maccurājanti yathā tassa gatiṃ na jānāti, evaṃ maccurājānaṃ mohetvā gato."
“Người ấy làm cho vua chết (maccurājā) bị mê lạc” nghĩa là:
chết không để lại dấu vết, hướng đi của người ấy không ai biết, thậm chí Thần chết cũng không theo dõi được.

Ẩn dụ cho vị đã chứng Niết-bàn, không còn dấu tích, không bị sinh tử chi phối.

"Tatiyaṃ vuttanayameva."
"Bài kinh thứ ba (230) cũng theo cách giải thích như vậy."

 Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình 

Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

188. II. Biển (2)(S.iv,157)

1) ...

2) -- "Biển, biển", này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu nói như vậy. Cái ấy, này các Tỷ-kheo, không phải là biển trong giới luật của bậc Thánh. Cái ấy (của kẻ phàm phu) là một khối nước lớn, một dòng nước lớn.

3-5) Này các Tỷ-kheo, có những sắc do mắt nhận thức khả lạc, khả hỷ, khá ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Này các Tỷ-kheo, đây không gọi là biển trong giới luật của bậc Thánh. Ở đây, thế giới này với Thiên giới, với Ma giới, với Phạm thiên giới, với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, với chư Thiên và loài Người, phần lớn chìm đắm trong ấy, bị rối ren như cuộn chỉ, bị bao trùm như cuộn dây, thành như sợi dây bện bằng cỏ, không thể vượt qua cõi dữ, ác thú, đọa xứ, luân hồi!

6-7) Này các Tỷ-kheo, có những tiếng do tai nhận thức... có những hương do mũi nhận thức... có những vị do lưỡi nhận thức... có những xúc do thân nhận thức...

8) Này các Tỷ-kheo, có những pháp do ý nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ái, khả ý, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Này các Tỷ-kheo, đây không gọi là biển trong giới luật của bậc Thánh. Ở đây, thế giới này với Thiên giới, với Ma giới, với Phạm thiên giới, với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, với chư Thiên và loài Người, phần lớn chìm đắm trong ấy, bị rối ren như cuộn chỉ, bị bao trùm như cuộn dây, thành như sợi dây bện bằng cỏ, không thể vượt qua cõi dữ, ác thú, đọa xứ, luân hồi!

-ooOoo-