|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Năm, ngày 12 tháng 06, 2025
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
******
Người câu cá luôn biết dùng
mồi để dụ cá cắn câu. Đây là thí
dụ sinh đông về những cuốn hút
của trần cảnh đưa đẩy chúng sanh
vào hệ luỵ khổ đau. Điểm then
chốt là phải làm thế nào để tâm
có đủ sự tỉnh táo của chánh niệm
và sự sáng suốt của trí tuệ khi
tâm tiếp xúc với cảnh. Thấy được
vị ngọt nhưng cũng hiểu được
hiểm nạn và phương cách vượt
thoát là sự khôn ngoan thật sự
của người hành trình trên đường
giác ngộ giải thoát.
KINH VĂN
230. “seyyathāpi, bhikkhave,
bāḷisiko āmisagatabaḷisaṃ
gambhīre udakarahade
pakkhipeyya. tamenaṃ aññataro
āmisacakkhu maccho gileyya.
evañhi so, bhikkhave, maccho
gilitabaḷiso bāḷisikassa anayaṃ
āpanno byasanaṃ āpanno
yathākāmakaraṇīyo bāḷisikassa.
evameva kho, bhikkhave, chayime
baḷisā lokasmiṃ anayāya sattānaṃ
vadhāya {byābādhāya (sī. pī.)}
pāṇinaṃ. katame cha? santi,
bhikkhave, cakkhuviññeyyā rūpā
iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā
kāmūpasaṃhitā rajanīyā. tañce,
bhikkhu, abhinandati abhivadati
ajjhosāya tiṭṭhati. ayaṃ
vuccati, bhikkhave, bhikkhu
gilitabaḷiso, mārassa anayaṃ
āpanno byasanaṃ āpanno
yathākāmakaraṇīyo pāpimato ...
pe ... santi, bhikkhave,
jivhāviññeyyā rasā ... pe ....
santi, bhikkhave, manoviññeyyā
dhammā iṭṭhā kantā manāpā
piyarūpā kāmūpasaṃhitā rajanīyā.
tañce, bhikkhu, abhinandati
abhivadati ajjhosāya tiṭṭhati.
ayaṃ vuccati, bhikkhave, bhikkhu
gilitabaḷiso mārassa anayaṃ
āpanno byasanaṃ āpanno
yathākāmakaraṇīyo pāpimato.
“santi ca, bhikkhave,
cakkhuviññeyyā rūpā iṭṭhā kantā
manāpā piyarūpā kāmūpasaṃhitā
rajanīyā. tañce bhikkhu
nābhinandati nābhivadati
nājjhosāya tiṭṭhati. ayaṃ
vuccati, bhikkhave, bhikkhu na
gilitabaḷiso mārassa abhedi
baḷisaṃ paribhedi baḷisaṃ na
anayaṃ āpanno na byasanaṃ āpanno
na yathākāmakaraṇīyo pāpimato
... pe ....
“santi, bhikkhave, jivhāviññeyyā
rasā ... pe .... santi,
bhikkhave, manoviññeyyā dhammā
iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā
kāmūpasaṃhitā rajanīyā. tañce
bhikkhu nābhinandati nābhivadati
nājjhosāya tiṭṭhati, ayaṃ
vuccati, bhikkhave, bhikkhu na
gilitabaḷiso mārassa abhedi
baḷisaṃ paribhedi baḷisaṃ na
anayaṃ āpanno na byasanaṃ āpanno
na yathākāmakaraṇīyo
pāpimato”ti. tatiyaṃ.
230 "Này chư Tỳ khưu, ví như có
một người đánh cá ném một cái
lưỡi câu có mồi xuống một cái hồ
sâu. Một con cá đang tìm mồi
nuốt lấy lưỡi câu ấy. Con cá ấy,
vì đã nuốt lưỡi câu của người
đánh cá, gặp phải tai họa và hủy
diệt; và người đánh cá có thể
làm gì tùy ý với nó. Cũng vậy,
này chư Tỳ khưu, có sáu cái lưỡi
câu trong thế gian này, gây ra
tai họa và hủy diệt cho các
chúng sinh, đưa đến sự tàn sát
các sinh mạng.
“Này chư Tỳ khưu, có những sắc
trần được nhận biết bằng mắt
đáng
yêu, thú vị, ưng ý, hấp dẫn,
khơi dậy dục vọng, làm say đắm
lòng người. Nếu một Tỳ khưu
tìm kiếm sự thích thú trong đó,
đón nhận nó, và nắm giữ lấy nó,
thì người ấy được gọi là Tỳ khưu
đã nuốt lưỡi câu của Ma vương.
Người ấy gặp phải tai họa và hủy
diệt, và Ma vương có thể làm bất
cứ điều gì với người ấy.
“Cũng vậy, này chư Tỳ khưu, có
những âm thanh được nhận biết
bằng tai, …
“Này chư Tỳ khưu, có những sắc
được nhận biết bằng mắt … hấp
dẫn, quyến rũ.
“Cũng vậy, với âm thanh … với
cảnh pháp:
Chú Thích
Mệnh đề “không tìm kiếm thích
thú trong đó” chỉ cho thái độ
của hành giả tu vipassana đối
cảnh với chánh niệm. Chi ghi
nhận mà không cố tìm những gì
vừa lòng thích ý.
Ma vương ở đây bao gồm cả ngũ
ma. Thế lực đen tối như cá thể
và phi cá thể.
Bản Sớ giải của bài kinh nầy
giống như bài kinh trước, kinh
số 229.
Có lẽ vì sai sót kỹ thuật phần
đầu bản dịch của HT Thích Minh
Châu thuộc về bài kinh trước.
Sớ Giải
"Dutiye samuddoti samuddanaṭṭhena
samuddo, kiledanaṭṭhena
temanaṭṭhenāti
vuttaṃ
hoti."
Như vậy, “biển cả” không chỉ là
nước, mà là ẩn dụ cho sự trôi
lăn trong dục và phiền não.
"Yebhuyyenāti ṭhapetvā
ariyasāvake."
Tức là, đa số chúng sinh đều bị
chìm đắm trong dục trần, chỉ trừ
những ai đã đạt Thánh đạo, Thánh
quả.
"Samunnāti kilinnā tintā
nimuggā."
Hình ảnh ví von cho chúng sinh
bị nhuộm đẫm bởi tham dục, chìm
trong biển trần.
"Tantākulakajātāti-ādi heṭṭhā
vitthāritameva."
Những hình ảnh như tơ rối, chỉ
thắt nút, lau sậy rối là ẩn dụ
cho tâm trí bị phiền não ràng
buộc.
"Maccujahoti tayo maccū jahitvā
ṭhito."
"Nirupadhīti tīhi upadhīhi
anupadhi."
1.
Kāma-upadhi – chấp vào dục,
2.
Bhava-upadhi – chấp vào hữu,
3.
Diṭṭhi-upadhi – chấp vào kiến.
Đây là trạng thái của bậc
A-la-hán: hoàn toàn không còn
ràng buộc.
"Apunabbhavāyāti nibbānatthāya."
"Amohayī maccurājanti yathā
tassa gatiṃ na jānāti, evaṃ
maccurājānaṃ mohetvā gato."
Ẩn dụ cho vị đã chứng Niết-bàn,
không còn dấu tích, không bị
sinh tử chi phối.
"Tatiyaṃ vuttanayameva."
Bản dịch của Hoà thượng Thích
Minh Châu
189. III. Người Câu Cá (S.iv,158)
1) ...
2) -- Ai đoạn trừ được tham, sân
và vô minh, người ấy vượt qua
biển khó vượt này, với các loài
cá mập, các loài La-sát, với các
làn sóng hãi hùng khó vượt này.
Vượt trói buộc, thoát chết,
3) Ví như, này các Tỷ-kheo, một
người câu cá trong hồ nước sâu,
quăng xuống một lưỡi câu có mắc
mồi. Một con cá, với mắt nhìn
vào mồi, nuốt lưỡi câu ấy. Như
vậy, này các Tỷ-kheo, con cá ấy
vì nuốt lưỡi câu, đi đến bất
hạnh, đi đến ách nạn, bị người
câu cá muốn làm gì thì làm. Cũng
vậy, này các Tỷ-kheo, có sáu
lưỡi câu này ở trong đời, đưa
đến bất hạnh cho các loài hữu
tình, đưa đến tai hại cho các
loài chúng sanh. Thế nào là sáu?
4-8) Này các Tỷ-kheo, có những
sắc do mắt nhận thức khả lạc,
khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ
đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo
hoan hỷ sắc ấy, tán dương, tham
luyến an trú, thời này các
Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy được gọi là
đã nuốt lưỡi câu của Ác ma, đã
đi đến bất hạnh, đã đi đến ách
nạn, đã bị Ác ma muốn làm gì thì
làm. Có những tiếng do tai nhận
thức... Có những hương do mũi
nhận thức... Có những vị do lưỡi
nhận thức... Có những xúc do
thân nhận thức...
9) Này các Tỷ-kheo, có những
pháp do ý nhận thức khả lạc, khả
hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến
dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo hoan
hỷ pháp ấy, tán dương, tham
luyến an trú, thời này các
Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy được gọi là
đã nuốt lưỡi câu của Ác ma, đã
đi đến bất hạnh, đã đi đến ách
nạn, đã bị Ác ma muốn làm gì thì
làm.
10-14) Này các Tỷ-kheo, có những
sắc do mắt nhận thức khả lạc,
khả hỷ, khả ái, liên hệ đến dục,
hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo không hoan
hỷ các sắc ấy, không tán dương,
không tham luyến an trú, thời
này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy được
gọi là không nuốt lưỡi câu của
Ác ma, đã bẻ gãy lưỡi câu, đã bẻ
nát lưỡi câu, không đi đến bất
hạnh, không đi đến ách nạn,
không bị Ác ma muốn làm gì thì
làm. Này các Tỷ-kheo, có những
tiếng do tai nhận thức... Có
những hương do mũi nhận thức...
Có những vị do lưỡi nhận thức...
Có những xúc do thân nhận
thức...
15) Này các Tỷ-kheo, có những
pháp do ý nhận thức khả lạc, khả
hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến
dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo không
hoan hỷ pháp ấy, không tán
dương, không tham luyến an trú,
thời này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy
được gọi là vị không nuốt lưỡi
câu của Ác ma, đã bẻ gãy lưỡi
câu, đã bẻ nát lưỡi câu, không
đi đến bất hạnh, không đi đến
ách nạn, không bị Ác ma muốn làm
gì thì làm.
Bản dịch của Hoà thượng Thích
Minh Châu
188. II. Biển (2)(S.iv,157)
1) ...
2) -- "Biển, biển", này các
Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu nói
như vậy. Cái ấy, này các
Tỷ-kheo, không phải là biển
trong giới luật của bậc Thánh.
Cái ấy (của kẻ phàm phu) là một
khối nước lớn, một dòng nước
lớn.
3-5) Này các Tỷ-kheo, có những
sắc do mắt nhận thức khả lạc,
khả hỷ, khá ý, khả ái, liên hệ
đến dục, hấp dẫn. Này các
Tỷ-kheo, đây không gọi là biển
trong giới luật của bậc Thánh. Ở
đây, thế giới này với Thiên
giới, với Ma giới, với Phạm
thiên giới, với quần chúng
Sa-môn, Bà-la-môn, với chư Thiên
và loài Người, phần lớn chìm đắm
trong ấy, bị rối ren như cuộn
chỉ, bị bao trùm như cuộn dây,
thành như sợi dây bện bằng cỏ,
không thể vượt qua cõi dữ, ác
thú, đọa xứ, luân hồi!
6-7) Này các Tỷ-kheo, có những
tiếng do tai nhận thức... có
những hương do mũi nhận thức...
có những vị do lưỡi nhận thức...
có những xúc do thân nhận
thức...
8) Này các Tỷ-kheo, có những
pháp do ý nhận thức khả lạc, khả
hỷ, khả ái, khả ý, liên hệ đến
dục, hấp dẫn. Này các Tỷ-kheo,
đây không gọi là biển trong giới
luật của bậc Thánh. Ở đây, thế
giới này với Thiên giới, với Ma
giới, với Phạm thiên giới, với
quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn,
với chư Thiên và loài Người,
phần lớn chìm đắm trong ấy, bị
rối ren như cuộn chỉ, bị bao
trùm như cuộn dây, thành như sợi
dây bện bằng cỏ, không thể vượt
qua cõi dữ, ác thú, đọa xứ, luân
hồi! -ooOoo- |