BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Năm, ngày 12 tháng 06, 2025

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập III – Chương 35. Tương Ưng Sáu Xứ - Phẩm Biển Cả- SN 35.230.
Bài 435. MỒI NHỬ CỦA MA - Kinh Ví dụ Người Câu Cá (Baḷisopamasutta) .
****** http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-435.jpg








http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png

Người câu cá luôn biết dùng mồi để dụ cá cắn câu. Đây là thí dụ sinh đông về những cuốn hút của trần cảnh đưa đẩy chúng sanh vào hệ luỵ khổ đau. Điểm then chốt là phải làm thế nào để tâm có đủ sự tỉnh táo của chánh niệm và sự sáng suốt của trí tuệ khi tâm tiếp xúc với cảnh. Thấy được vị ngọt nhưng cũng hiểu được hiểm nạn và phương cách vượt thoát là sự khôn ngoan thật sự của người hành trình trên đường giác ngộ giải thoát.

KINH VĂN

230. “seyyathāpi, bhikkhave, bāḷisiko āmisagatabaḷisaṃ gambhīre udakarahade pakkhipeyya. tamenaṃ aññataro āmisacakkhu maccho gileyya. evañhi so, bhikkhave, maccho gilitabaḷiso bāḷisikassa anayaṃ āpanno byasanaṃ āpanno yathākāmakaraṇīyo bāḷisikassa.

evameva kho, bhikkhave, chayime baḷisā lokasmiṃ anayāya sattānaṃ vadhāya {byābādhāya (sī. pī.)} pāṇinaṃ. katame cha? santi, bhikkhave, cakkhuviññeyyā rūpā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṃhitā rajanīyā. tañce, bhikkhu, abhinandati abhivadati ajjhosāya tiṭṭhati. ayaṃ vuccati, bhikkhave, bhikkhu gilitabaḷiso, mārassa anayaṃ āpanno byasanaṃ āpanno yathākāmakaraṇīyo pāpimato ... pe ... santi, bhikkhave, jivhāviññeyyā rasā ... pe ....

santi, bhikkhave, manoviññeyyā dhammā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṃhitā rajanīyā. tañce, bhikkhu, abhinandati abhivadati ajjhosāya tiṭṭhati. ayaṃ vuccati, bhikkhave, bhikkhu gilitabaḷiso mārassa anayaṃ āpanno byasanaṃ āpanno yathākāmakaraṇīyo pāpimato.

“santi ca, bhikkhave, cakkhuviññeyyā rūpā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṃhitā rajanīyā. tañce bhikkhu nābhinandati nābhivadati nājjhosāya tiṭṭhati. ayaṃ vuccati, bhikkhave, bhikkhu na gilitabaḷiso mārassa abhedi baḷisaṃ paribhedi baḷisaṃ na anayaṃ āpanno na byasanaṃ āpanno na yathākāmakaraṇīyo pāpimato ... pe ....

“santi, bhikkhave, jivhāviññeyyā rasā ... pe .... santi, bhikkhave, manoviññeyyā dhammā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṃhitā rajanīyā. tañce bhikkhu nābhinandati nābhivadati nājjhosāya tiṭṭhati, ayaṃ vuccati, bhikkhave, bhikkhu na gilitabaḷiso mārassa abhedi baḷisaṃ paribhedi baḷisaṃ na anayaṃ āpanno na byasanaṃ āpanno na yathākāmakaraṇīyo pāpimato”ti. tatiyaṃ.

230 "Này chư Tỳ khưu, ví như có một người đánh cá ném một cái lưỡi câu có mồi xuống một cái hồ sâu. Một con cá đang tìm mồi nuốt lấy lưỡi câu ấy. Con cá ấy, vì đã nuốt lưỡi câu của người đánh cá, gặp phải tai họa và hủy diệt; và người đánh cá có thể làm gì tùy ý với nó. Cũng vậy, này chư Tỳ khưu, có sáu cái lưỡi câu trong thế gian này, gây ra tai họa và hủy diệt cho các chúng sinh, đưa đến sự tàn sát các sinh mạng.

“Này chư Tỳ khưu, có những sắc trần được nhận biết bằng mắt đáng yêu, thú vị, ưng ý, hấp dẫn, khơi dậy dục vọng, làm say đắm lòng người. Nếu một Tỳ khưu tìm kiếm sự thích thú trong đó, đón nhận nó, và nắm giữ lấy nó, thì người ấy được gọi là Tỳ khưu đã nuốt lưỡi câu của Ma vương. Người ấy gặp phải tai họa và hủy diệt, và Ma vương có thể làm bất cứ điều gì với người ấy.

“Cũng vậy, này chư Tỳ khưu, có những âm thanh được nhận biết bằng tai, …
Có cảnh pháp được nhận biết bằng ý đáng yêu, thú vị, ưng ý, hấp dẫn, khơi dậy dục vọng, làm say đắm lòng người. Nếu một Tỳ khưu tìm kiếm sự thích thú trong đó, đón nhận nó, và nắm giữ lấy nó thì Ma vương có thể làm gì tùy ý với người ấy.

“Này chư Tỳ khưu, có những sắc được nhận biết bằng mắt … hấp dẫn, quyến rũ.
Nhưng nếu một Tỳ khưu không tìm kiếm sự thích thú trong đó, đón nhận nó, và nắm giữ lấy nó, thì người ấy được gọi là:Tỳ khưu không nuốt lưỡi câu của Ma vương, đã bẻ gãy cần câu, tiêu hủy lưỡi câu. Người ấy không gặp tai họa, không bị hủy diệt, và Ma vương không thể làm gì với người ấy.

“Cũng vậy, với âm thanh … với cảnh pháp:
Nếu một Tỳ khưu không tìm kiếm thích thú trong đó, thì Ma vương không thể làm gì với người ấy.”

Chú Thích

Mệnh đề “không tìm kiếm thích thú trong đó” chỉ cho thái độ của hành giả tu vipassana đối cảnh với chánh niệm. Chi ghi nhận mà không cố tìm những gì vừa lòng thích ý.

Ma vương ở đây bao gồm cả ngũ ma. Thế lực đen tối như cá thể và phi cá thể.

Bản Sớ giải của bài kinh nầy giống như bài kinh trước, kinh số 229.

Có lẽ vì sai sót kỹ thuật phần đầu bản dịch của HT Thích Minh Châu thuộc về bài kinh trước.

Sớ Giải

"Dutiye samuddoti samuddanaṭṭhena samuddo, kiledanaṭṭhena temanaṭṭhenāti vuttaṃ hoti."
Ở bài kinh thứ hai (229), từ "samudda" (biển cả) có nghĩa là:

  • “samuddanaṭṭhena” – nơi mà mọi thứ tụ lại, chảy vào (nghĩa gốc của "samudda"),
  • “kiledanaṭṭhena” – nơi làm cho bị nhiễm ô (kilesa – phiền não),
  • “temanaṭṭhena” – nơi làm cho bị thấm ướt, làm mềm yếu, ám chỉ sự khuất phục dưới dục lạc.

Như vậy, “biển cả” không chỉ là nước, mà là ẩn dụ cho sự trôi lăn trong dục và phiền não.

"Yebhuyyenāti ṭhapetvā ariyasāvake."
"Chữ ‘phần lớn (yebhuyyena)’ ở đây có nghĩa là: ngoại trừ các bậc Thánh đệ tử (ariyasāvaka)."

Tức là, đa số chúng sinh đều bị chìm đắm trong dục trần, chỉ trừ những ai đã đạt Thánh đạo, Thánh quả.

"Samunnāti kilinnā tintā nimuggā."
"Samunna" có nghĩa là: bị ngấm, bị ướt sũng, bị chìm sâu xuống.

Hình ảnh ví von cho chúng sinh bị nhuộm đẫm bởi tham dục, chìm trong biển trần.

"Tantākulakajātāti-ādi heṭṭhā vitthāritameva."
"Các ví dụ như ‘rối như tơ vò’ v.v... đã được giải thích ở phần trước."

Những hình ảnh như tơ rối, chỉ thắt nút, lau sậy rối là ẩn dụ cho tâm trí bị phiền não ràng buộc.

"Maccujahoti tayo maccū jahitvā ṭhito."
“Maccujaho” (bỏ chết) nghĩa là: người đã lìa xa ba loại Tử thần (maccu), và đứng vững sau khi bỏ chúng.

"Nirupadhīti tīhi upadhīhi anupadhi."
“Nirupadhi” là người không còn ba loại sở y (upadhi), tức:

1.    Kāma-upadhi – chấp vào dục,

2.    Bhava-upadhi – chấp vào hữu,

3.    Diṭṭhi-upadhi – chấp vào kiến.

Đây là trạng thái của bậc A-la-hán: hoàn toàn không còn ràng buộc.


"Apunabbhavāyāti nibbānatthāya."
“Apunabbhava” – không còn tái sinh – là ám chỉ đến Niết-bàn.

"Amohayī maccurājanti yathā tassa gatiṃ na jānāti, evaṃ maccurājānaṃ mohetvā gato."
“Người ấy làm cho vua chết (maccurājā) bị mê lạc” nghĩa là:
chết không để lại dấu vết, hướng đi của người ấy không ai biết, thậm chí Thần chết cũng không theo dõi được.

Ẩn dụ cho vị đã chứng Niết-bàn, không còn dấu tích, không bị sinh tử chi phối.

"Tatiyaṃ vuttanayameva."
"Bài kinh thứ ba (230) cũng theo cách giải thích như vậy."

 Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

 ___________________

Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

189. III. Người Câu Cá (S.iv,158)

1) ...

2) -- Ai đoạn trừ được tham, sân và vô minh, người ấy vượt qua biển khó vượt này, với các loài cá mập, các loài La-sát, với các làn sóng hãi hùng khó vượt này.

Vượt trói buộc, thoát chết,
Không còn có sanh y,
Ðoạn tận mọi khổ đau,
Không còn phải tái sanh.
Sanh tử được đoạn diệt,
Bậc không thể so sánh,
Ta nói, vị như vậy,
Ðã hóa mù Thần chết.

3) Ví như, này các Tỷ-kheo, một người câu cá trong hồ nước sâu, quăng xuống một lưỡi câu có mắc mồi. Một con cá, với mắt nhìn vào mồi, nuốt lưỡi câu ấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, con cá ấy vì nuốt lưỡi câu, đi đến bất hạnh, đi đến ách nạn, bị người câu cá muốn làm gì thì làm. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, có sáu lưỡi câu này ở trong đời, đưa đến bất hạnh cho các loài hữu tình, đưa đến tai hại cho các loài chúng sanh. Thế nào là sáu?

4-8) Này các Tỷ-kheo, có những sắc do mắt nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo hoan hỷ sắc ấy, tán dương, tham luyến an trú, thời này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy được gọi là đã nuốt lưỡi câu của Ác ma, đã đi đến bất hạnh, đã đi đến ách nạn, đã bị Ác ma muốn làm gì thì làm. Có những tiếng do tai nhận thức... Có những hương do mũi nhận thức... Có những vị do lưỡi nhận thức... Có những xúc do thân nhận thức...

9) Này các Tỷ-kheo, có những pháp do ý nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo hoan hỷ pháp ấy, tán dương, tham luyến an trú, thời này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy được gọi là đã nuốt lưỡi câu của Ác ma, đã đi đến bất hạnh, đã đi đến ách nạn, đã bị Ác ma muốn làm gì thì làm.

10-14) Này các Tỷ-kheo, có những sắc do mắt nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo không hoan hỷ các sắc ấy, không tán dương, không tham luyến an trú, thời này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy được gọi là không nuốt lưỡi câu của Ác ma, đã bẻ gãy lưỡi câu, đã bẻ nát lưỡi câu, không đi đến bất hạnh, không đi đến ách nạn, không bị Ác ma muốn làm gì thì làm. Này các Tỷ-kheo, có những tiếng do tai nhận thức... Có những hương do mũi nhận thức... Có những vị do lưỡi nhận thức... Có những xúc do thân nhận thức...

15) Này các Tỷ-kheo, có những pháp do ý nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo không hoan hỷ pháp ấy, không tán dương, không tham luyến an trú, thời này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy được gọi là vị không nuốt lưỡi câu của Ác ma, đã bẻ gãy lưỡi câu, đã bẻ nát lưỡi câu, không đi đến bất hạnh, không đi đến ách nạn, không bị Ác ma muốn làm gì thì làm.

 

Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

188. II. Biển (2)(S.iv,157)

1) ...

2) -- "Biển, biển", này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu nói như vậy. Cái ấy, này các Tỷ-kheo, không phải là biển trong giới luật của bậc Thánh. Cái ấy (của kẻ phàm phu) là một khối nước lớn, một dòng nước lớn.

3-5) Này các Tỷ-kheo, có những sắc do mắt nhận thức khả lạc, khả hỷ, khá ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Này các Tỷ-kheo, đây không gọi là biển trong giới luật của bậc Thánh. Ở đây, thế giới này với Thiên giới, với Ma giới, với Phạm thiên giới, với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, với chư Thiên và loài Người, phần lớn chìm đắm trong ấy, bị rối ren như cuộn chỉ, bị bao trùm như cuộn dây, thành như sợi dây bện bằng cỏ, không thể vượt qua cõi dữ, ác thú, đọa xứ, luân hồi!

6-7) Này các Tỷ-kheo, có những tiếng do tai nhận thức... có những hương do mũi nhận thức... có những vị do lưỡi nhận thức... có những xúc do thân nhận thức...

8) Này các Tỷ-kheo, có những pháp do ý nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ái, khả ý, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Này các Tỷ-kheo, đây không gọi là biển trong giới luật của bậc Thánh. Ở đây, thế giới này với Thiên giới, với Ma giới, với Phạm thiên giới, với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, với chư Thiên và loài Người, phần lớn chìm đắm trong ấy, bị rối ren như cuộn chỉ, bị bao trùm như cuộn dây, thành như sợi dây bện bằng cỏ, không thể vượt qua cõi dữ, ác thú, đọa xứ, luân hồi!

-ooOoo-