BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Hai, ngày 16 tháng 06, 2025

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập III – Chương 35. Tương Ưng Sáu Xứ - Phẩm Biển Cả- SN 35.231.
Bài 436. LÒNG TRẦN CHƯA DỨT - Kinh Ví dụ Nhựa Cây (Khīrarukkhopamasuttaṃ).
****** http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-436.jpg








http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png

 Phiền não là yếu tố nội tại. Tâm không tu thì dù cảnh tốt xấu cũng sanh phiền não. Tâm khéo tu thì đối cảnh vô phiền. Có thể nói mục đích tối thượng của người tu tập là đạt đến trạng thái tâm không còn phiền não dù đối với cảnh gì. Đức Phật luôn nhấn mạnh sự tu tập nội tâm. Những giao động nội tại có thể xem như là “hàn thử biểu” đo lường trình độ tu tập.

KINH VĂN

231. “yassa kassaci, bhikkhave, bhikkhussa vā bhikkhuniyā vā cakkhuviññeyyesu rūpesu yo rāgo so atthi, yo doso so atthi, yo moho so atthi, yo rāgo so appahīno, yo doso so appahīno, yo moho so appahīno tassa parittā cepi cakkhuviññeyyā rūpā cakkhussa āpāthaṃ āgacchanti pariyādiyantevassa cittaṃ; ko pana vādo adhimattānaṃ! taṃ kissa hetu? yo, bhikkhave, rāgo, so atthi, yo doso so atthi, yo moho so atthi, yo rāgo so appahīno, yo doso so appahīno, yo moho so appahīno ... pe ....

“yassa kassaci, bhikkhave, bhikkhussa vā bhikkhuniyā vā jivhāviññeyyesu rasesu yo rāgo so atthi ... pe ....

“yassa kassaci, bhikkhave, bhikkhussa vā bhikkhuniyā vā manoviññeyyesu dhammesu yo rāgo so atthi, yo doso so atthi, yo moho so atthi, yo rāgo so appahīno, yo doso so appahīno, yo moho so appahīno, tassa parittā cepi manoviññeyyā dhammā manassa āpāthaṃ āgacchanti pariyādiyantevassa cittaṃ; ko pana vādo adhimattānaṃ! taṃ kissa hetu? yo, bhikkhave, rāgo, so atthi, yo doso so atthi, yo moho so atthi, yo rāgo so appahīno, yo doso so appahīno, yo moho so appahīno.

“seyyathāpi, bhikkhave, khīrarukkho assattho vā nigrodho vā pilakkho vā udumbaro vā daharo taruṇo komārako. tamenaṃ puriso tiṇhāya kuṭhāriyā yato yato ābhindeyya {bhindeyya (syā. kaṃ. sī. aṭṭha.), abhindeyya (katthaci)} āgaccheyya khīran”ti? “evaṃ, bhante”. “taṃ kissa hetu”? “yañhi, bhante, khīraṃ taṃ atthī”ti.

“evameva kho, bhikkhave, yassa kassaci bhikkhussa vā bhikkhuniyā vā cakkhuviññeyyesu rūpesu yo rāgo so atthi, yo doso so atthi, yo moho so atthi, yo rāgo so appahīno, yo doso so appahīno, yo moho so appahīno, tassa parittā cepi cakkhuviññeyyā rūpā cakkhussa āpāthaṃ āgacchanti pariyādiyantevassa cittaṃ; ko pana vādo adhimattānaṃ! taṃ kissa hetu? yo, bhikkhave, rāgo so atthi, yo doso so atthi, yo moho so atthi, yo rāgo so appahīno, yo doso so appahīno, yo moho so appahīno ... pe ....

“yassa kassaci, bhikkhave, bhikkhussa vā bhikkhuniyā vā jivhāviññeyyesu rasesu yo rāgo so atthi ... pe ....

“yassa kassaci, bhikkhave, bhikkhussa vā bhikkhuniyā vā manoviññeyyesu dhammesu yo rāgo so atthi, yo doso so atthi, yo moho so atthi, yo rāgo so appahīno, yo doso so appahīno, yo moho so appahīno, tassa parittā cepi manoviññeyyā dhammā manassa āpāthaṃ āgacchanti pariyādiyantevassa cittaṃ; ko pana vādo adhimattānaṃ! taṃ kissa hetu? yo, bhikkhave, rāgo so atthi, yo doso so atthi, yo moho so atthi, yo rāgo so appahīno, yo doso so appahīno, yo moho so appahīno.

“yassa kassaci, bhikkhave, bhikkhussa vā bhikkhuniyā vā cakkhuviññeyyesu rūpesu yo rāgo so natthi, yo doso so natthi, yo moho so natthi, yo rāgo so pahīno, yo doso so pahīno, yo moho so pahīno, tassa adhimattā cepi cakkhuviññeyyā rūpā cakkhussa āpāthaṃ āgacchanti nevassa cittaṃ pariyādiyanti; ko pana vādo parittānaṃ! taṃ kissa hetu? yo, bhikkhave, rāgo so natthi, yo doso so natthi, yo moho so natthi, yo rāgo so pahīno, yo doso so pahīno, yo moho so pahīno ... pe ....

“yassa kassaci, bhikkhave, bhikkhussa vā bhikkhuniyā vā jivhāviññeyyesu rasesu ... pe ... manoviññeyyesu dhammesu yo rāgo so natthi, yo doso so natthi, yo moho so natthi, yo rāgo so pahīno, yo doso so pahīno, yo moho so pahīno, tassa adhimattā cepi manoviññeyyā dhammā manassa āpāthaṃ āgacchanti nevassa cittaṃ pariyādiyanti; ko pana vādo parittānaṃ! taṃ kissa hetu? yo, bhikkhave, rāgo so natthi, yo doso so natthi, yo moho so natthi, yo rāgo so pahīno, yo doso so pahīno, yo moho so pahīno. seyyathāpi, bhikkhave, khīrarukkho assattho vā nigrodho vā pilakkho vā udumbaro vā sukkho kolāpo terovassiko. tamenaṃ puriso tiṇhāya kuṭhāriyā yato yato ābhindeyya āgaccheyya khīran”ti? “no hetaṃ, bhante”. “taṃ kissa hetu”? “yañhi, bhante, khīraṃ taṃ natthī”ti.

“evameva kho, bhikkhave, yassa kassaci bhikkhussa vā bhikkhuniyā vā cakkhuviññeyyesu rūpesu yo rāgo so natthi, yo doso so natthi, yo moho so natthi, yo rāgo so pahīno, yo doso so pahīno, yo moho so pahīno, tassa adhimattā cepi cakkhuviññeyyā rūpā cakkhussa āpāthaṃ āgacchanti nevassa cittaṃ pariyādiyanti; ko pana vādo parittānaṃ! taṃ kissa hetu? yo, bhikkhave, rāgo so natthi, yo doso so natthi, yo moho so natthi, yo rāgo so pahīno, yo doso so pahīno, yo moho so pahīno ... pe ....

“yassa kassaci, bhikkhave, bhikkhussa vā bhikkhuniyā vā jivhāviññeyyesu rasesu ... pe ....

“yassa kassaci, bhikkhave, bhikkhussa vā bhikkhuniyā vā manoviññeyyesu dhammesu yo rāgo so natthi, yo doso so natthi, yo moho so natthi, yo rāgo so pahīno, yo doso so pahīno, yo moho so pahīno, tassa adhimattā cepi manoviññeyyā dhammā manassa āpāthaṃ āgacchanti, nevassa cittaṃ pariyādiyanti; ko pana vādo parittānaṃ! taṃ kissa hetu? yo, bhikkhave, rāgo so natthi, yo doso so natthi, yo moho so natthi, yo rāgo so pahīno, yo doso so pahīno, yo moho so pahīno”ti. catutthaṃ.

“Này chư Tỳ khưu, đối với các sắc được nhận biết bởi con mắt, nếu nơi một Tỳ khưu hay một Tỳ khưu ni nào còn tồn tại tham ái, chưa được đoạn trừ; còn tồn tại sân hận, chưa được đoạn trừ; còn tồn tại si mê, chưa được đoạn trừ, thì ngay cả những sắc nhỏ nhặt khi lọt vào tầm mắt cũng khiến tâm bị quấy nhiễu, huống gì là những sắc nổi bật. Vì sao vậy? Vì tham vẫn còn, sân vẫn còn, si vẫn còn, và chưa được đoạn trừ. Cũng vậy đối với các tiếng được tai nhận biết ... các pháp được ý nhận biết.

“Ví như, này chư Tỳ khưu, có một cây chứa nhựa — như cây assattha, cây nirodha, cây pilakkha, hay cây udumbara— còn tươi, non, mềm mại. Nếu có người dùng rìu sắc chặt cây ở chỗ này chỗ kia, thì có chảy nhựa ra không?”

“Thưa vâng, bạch Thế Tôn. Vì sao vậy? Vì cây còn có nhựa.”

“Cũng vậy, này chư Tỳ khưu, đối với các sắc được nhận biết bởi con mắt ... ngay cả những sắc nhỏ nhặt lọt vào tầm mắt cũng khiến tâm bị quấy nhiễu, huống gì là những sắc nổi bật. Vì sao vậy? Vì tham, sân, si vẫn còn, chưa được đoạn trừ. Cũng vậy đối với các tiếng được tai nhận biết ... các pháp được ý nhận biết.

“Này chư Tỳ khưu, đối với các sắc được nhận biết bởi con mắt, nếu nơi một Tỳ khưu hay một Tỳ khưu ni nào tham không còn và đã được đoạn trừ, sân không còn và đã được đoạn trừ, si không còn và đã được đoạn trừ, thì ngay cả những sắc nổi bật lọt vào tầm mắt cũng không khiến tâm bị quấy nhiễu, huống gì là những sắc nhỏ nhặt. Vì sao vậy? Vì tham đã được đoạn trừ, sân đã được đoạn trừ, si đã được đoạn trừ. Cũng vậy đối với các tiếng được tai nhận biết ... các pháp được ý nhận biết.

“Ví như, này chư Tỳ khưu, có một cây chứa nhựa sữa — như cây assattha, nirodha, pilakkha, hay udumbara — nay đã khô, héo, mất sức sống. Nếu có người dùng rìu sắc chặt cây ở chỗ này chỗ kia, thì có chảy nhựa ra không?”

“Bạch Thế Tôn, không. Vì sao vậy? Vì cây không còn nhựa.”

“Cũng vậy, này chư Tỳ khưu, đối với các sắc được nhận biết bởi con mắt ... ngay cả những sắc nổi bật lọt vào tầm mắt cũng không khiến tâm bị quấy nhiễu, huống gì là những sắc nhỏ nhặt. Vì sao vậy? Vì tham đã được đoạn trừ, sân đã được đoạn trừ, si đã được đoạn trừ. Cũng vậy đối với các tiếng được tai nhận biết ... các pháp được ý nhận biết.”

Chú Thích

Bốn thứ cây assattha, cây nirodha, cây pilakkha, hay cây udumbara là những cây thường được biết là có nhựa khi chặt nhánh. Cây udumbara là cây sung. Ba cây kia không xác định rõ là cây gì. Có nhiều sai biệt của các bản dịch nên giữ nguyên tên Phạm ngữ.

Khi tâm chưa đoạn tận lậu hoặc thì dù phiền não rất vi tế vẫn là phiền não như các thượng phần kiết sử.

Trên phương diện rốt ráo giải thoát thì tâm là trọng điểm chứ không phải là cảnh. Tâm không còn phiền não thì cảnh, dù thô tế, cũng không khuấy động.

Sớ Giải

231-233. catutthe appahīnaṭṭhena atthi, tenevāha so appahīnoti. parittāti, pabbatamattampi rūpaṃ aniṭṭhaṃ arajanīyaṃ parittaṃ nāma hoti, evarūpāpissa rūpā cittaṃ pariyādiyantīti dasseti. ko pana vādo adhimattānanti iṭṭhārammaṇaṃ panassa rajanīyaṃ vatthu cittaṃ pariyādiyatīti ettha kā kathā? ettha ca nakhapiṭṭhipamāṇampi maṇimuttādi rajanīyaṃ vatthu adhimattārammaṇamevāti veditabbaṃ. daharotiādīni tīṇipi aññamaññavevacanāneva. ābhindeyyāti pahareyya padāleyya vā. pañcame tadubhayanti taṃ ubhayaṃ. chaṭṭhaṃ uttānameva.

231–233. Trong bài kinh thứ tư (Catuttha), từ “chưa được đoạn trừ” (appahīnaṭṭhena) có nghĩa là “vẫn còn tồn tại”, do đó trong kinh nói rằng “vẫn chưa được đoạn trừ”.

Từ “nhỏ nhặt” (parittā) ở đây có nghĩa là: thậm chí một sắc to như núi, nhưng nếu đó là đối tượng không đáng ưa thích, không khả ái, không hấp dẫn thì vẫn được gọi là “nhỏ nhặt”; lời kinh muốn chỉ rằng ngay cả những sắc như vậy cũng có thể chiếm lấy tâm người nếu tham, sân, si vẫn chưa đoạn tận. Vậy thì, còn nói gì đến những đối tượng nổi bật, hấp dẫn? Tức là nếu đối tượng khả ái, thích hợp cho sự luyến ái, thì tâm chắc chắn bị chiếm đoạt – đó là ý nghĩa của câu “thì khỏi cần nói đến các sắc nổi bật hơn nữa” (ko pana vādo adhimattānanti).

Ở đây, cần hiểu rằng một vật nhỏ như đầu móng tay, nếu là đối tượng khả ái như ngọc quý, châu báu (maṇi, muttā), thì nó chính là một đối tượng nổi bật (adhimatta ārammaṇa).

Ba từ daharoti, tālapakkhandikoti, kumārakoti trong kinh (ý chỉ "trẻ nhỏ", "đứa bé", "thiếu niên") là những từ thay thế nhau, đồng nghĩa với nhau.

Ābhindeyya nghĩa là đập vỡ, bổ ra, hay chặt ra.

Trong bài kinh thứ năm (pañcamaṃ), cụm “tadubhayanti” có nghĩa là “cả hai điều đó”, tức là hai trạng thái: có phiền não và không có phiền não.

Bài kinh thứ sáu (chaṭṭhaṃ) thì ý nghĩa đã rõ ràng, không cần chú giải sâu

 Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình  

Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

190. IV. Cây Có Nhựa (S.iv,159)

1) ...

2-6) -- Này các Tỷ-kheo, đối với các sắc do mắt nhận thức, Tỷ-kheo hay Tỳ khưu ni nào còn có tham, còn có sân, còn có si, tham ấy chưa đoạn tận, sân ấy chưa đoạn tận, si ấy chưa đoạn tận; dầu chỉ có phần nhỏ, khi các sắc do mắt nhận thức đi vào trong tầm mắt nhận thức, chúng chinh phục tâm của vị ấy, còn nói gì cả phần lớn. Vì sao? Này các Tỷ-kheo, vì còn có tham, còn có sân, còn có si, và tham ấy chưa đoạn tận, sân ấy chưa đoạn tận, si ấy chưa đoạn tận... Ðối với các tiếng do tai nhận thức... Ðối với các hương do mũi nhận thức... Ðối với các vị do lưỡi nhận thức... Ðối với các xúc do thân nhận thức...

7) Này các Tỷ-kheo, đối với các pháp do ý nhận thức, Tỷ-kheo hay Tỳ khưu ni nào còn có tham, còn có sân, còn có si, tham ấy chưa đoạn tận, sân ấy chưa đoạn tận, si ấy chưa đoạn tận; dầu chỉ có phần nhỏ, khi các pháp do ý nhận thức đi vào trong tầm ý nhận thức, chúng chinh phục tâm của vị ấy, còn nói gì cả phần lớn. Vì sao? Này các Tỷ-kheo, vì còn có tham, còn có sân, còn có si, và tham ấy chưa đoạn tận, sân ấy chưa đoạn tận, si ấy chưa đoạn tận.

8) Ví như, này các Tỷ-kheo, một cây có nhựa, hoặc cây Bồ-đề (assattha), hoặc cây bàng (nigrodha), hoặc cây sanh (pilakkha), hoặc cây udumbara, hoặc một loại cây còn tươi. Rồi một người với cái búa sắc bén chặt vào cây ấy. Nước nhựa cây ấy có chảy ra không?

-- Thưa có, bạch Thế Tôn.

-- Vì sao?

-- Vì rằng, bạch Thế Tôn, cây ấy có nhựa.

9) -- Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, đối với các sắc do mắt nhận thức, Tỷ-kheo hay Tỳ khưu ni nào còn có tham, còn có sân, còn có si, tham ấy chưa đoạn tận, sân ấy chưa đoạn tận, si ấy chưa đoạn tận; dầu chỉ có phần nhỏ, khi các sắc do mắt nhận thức đi vào trong tầm mắt nhận thức, chúng chinh phục tâm của vị ấy, còn nói gì cả phần lớn. Vì sao? Này các Tỷ-kheo, vì còn có tham, còn có sân, còn có si, và tham ấy chưa đoạn tận, sân ấy chưa đoạn tận, si ấy chưa đoạn tận... Ðối với các tiếng do tai nhận thức... Ðối với các hương do mũi nhận thức... Ðối với các vị do lưỡi nhận thức... Ðối với các xúc do thân nhận thức...

Này các Tỷ-kheo, đối với các pháp do ý nhận thức, Tỷ-kheo hay Tỳ khưu ni nào còn có tham, còn có sân, còn có si, tham ấy chưa đoạn tận, sân ấy chưa đoạn tận, si ấy chưa đoạn tận; dầu chỉ có phần nhỏ, khi các pháp do ý nhận thức đi vào trong tầm ý nhận thức, chúng chinh phục tâm của vị ấy, còn nói gì cả phần lớn. Vì sao? Này các Tỷ-kheo, vì còn có tham, còn có sân, còn có si, và tham ấy chưa đoạn tận, sân ấy chưa đoạn tận, si ấy chưa đoạn tận.

10-14) Này các Tỷ-kheo, đối với các sắc do mắt nhận thức, Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni nào không có tham, không có sân, không có si, tham ấy đã đoạn tận, sân ấy đã đoạn tận, si ấy đã đoạn tận; dầu cho cả phần lớn, khi các sắc do mắt nhận thức đi vào trong tầm mắt nhận thức, chúng không chinh phục tâm của vị ấy, còn nói gì chỉ phần nhỏ. Vì sao? Này các Tỳ khưu, vì không có tham, không có sân, không có si, và tham ấy đã đoạn tận, sân ấy đã đoạn tận, si ấy đã đoạn tận... Ðối với các tiếng do tai nhận thức... Ðối với các hương do mũi nhận thức... Ðối với các vị do lưỡi nhận thức... Ðối với các xúc do thân nhận thức...

15) Này các Tỷ-kheo, đối với các pháp do ý nhận thức, Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo ni nào không có tham, không có sân, không có si, tham ấy đã đoạn tận, sân ấy đã đoạn tận, si ấy đã đoạn tận; dầu cho cả phần lớn, khi các pháp do ý nhận thức đi vào trong tầm ý nhận thức, chúng không chinh phục tâm của vị ấy, còn nói gì chỉ có phần nhỏ. Vì sao? Này các Tỷ-kheo, vì không có tham, không có sân, không có si, và tham ấy đã đoạn tận, sân ấy đã đoạn tận, si ấy đã đoạn tận.

16) Ví như, này các Tỷ-kheo, một cây có nhựa, cây Bồ-đề hay cây bàng, hay cây sanh, hay cây udumbara đã khô héo, không có nhựa, đã quá mùa. Rồi một người với cây búa sắc bén chặt vào cây ấy. Nước nhựa cây ấy có chảy ra không?

-- Thưa không, bạch Thế Tôn.

-- Vì sao?

-- Vì rằng, bạch Thế Tôn, cây ấy không có nhựa.

-- Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, đối với các sắc do mắt nhận thức, Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni nào không có tham, không có sân, không có si... si ấy đã đoạn tận... Ðối với các pháp do ý nhận thức, tham ấy đã đoạn tận, sân ấy đã đoạn tận, si ấy đã đoạn tận; dầu cho cả phần lớn, khi các pháp do ý nhận thức đi vào trong tầm ý nhận thức, chúng không chinh phục tâm vị ấy, còn nói gì chỉ có phần nhỏ. Vì sao? Này các Tỷ-kheo, vì không có tham ấy, không có sân ấy, không có si ấy, và tham ấy đã đoạn tận, sân ấy đã đoạn tận, si ấy đã đoạn tận.

-ooOoo-