|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Hai, ngày 16 tháng 06, 2025
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
******
Phiền não là yếu tố nội tại. Tâm không tu thì dù cảnh
tốt xấu cũng sanh phiền não. Tâm
khéo tu thì đối cảnh vô phiền.
Có thể nói mục đích tối thượng
của người tu tập là đạt đến
trạng thái tâm không còn phiền
não dù đối với cảnh gì. Đức Phật
luôn nhấn mạnh sự tu tập nội
tâm. Những giao động nội tại có
thể xem như là “hàn thử biểu” đo
lường trình độ tu tập.
KINH VĂN
231. “yassa kassaci, bhikkhave, bhikkhussa vā bhikkhuniyā vā
cakkhuviññeyyesu rūpesu yo rāgo
so atthi, yo doso so atthi, yo
moho so atthi, yo rāgo so
appahīno, yo doso so appahīno,
yo moho so appahīno tassa
parittā cepi cakkhuviññeyyā rūpā
cakkhussa āpāthaṃ āgacchanti
pariyādiyantevassa cittaṃ; ko
pana vādo adhimattānaṃ! taṃ
kissa hetu? yo, bhikkhave, rāgo,
so atthi, yo doso so atthi, yo
moho so atthi, yo rāgo so
appahīno, yo doso so appahīno,
yo moho so appahīno ... pe ....
“yassa kassaci, bhikkhave, bhikkhussa vā bhikkhuniyā vā
jivhāviññeyyesu rasesu yo rāgo
so atthi ... pe ....
“yassa kassaci, bhikkhave, bhikkhussa vā bhikkhuniyā vā
manoviññeyyesu dhammesu yo rāgo
so atthi, yo doso so atthi, yo
moho so atthi, yo rāgo so
appahīno, yo doso so appahīno,
yo moho so appahīno, tassa
parittā cepi manoviññeyyā dhammā
manassa āpāthaṃ āgacchanti
pariyādiyantevassa cittaṃ; ko
pana vādo adhimattānaṃ! taṃ
kissa hetu? yo, bhikkhave, rāgo,
so atthi, yo doso so atthi, yo
moho so atthi, yo rāgo so
appahīno, yo doso so appahīno,
yo moho so appahīno.
“seyyathāpi, bhikkhave, khīrarukkho assattho vā nigrodho vā
pilakkho vā udumbaro vā daharo
taruṇo komārako. tamenaṃ puriso
tiṇhāya kuṭhāriyā yato yato
ābhindeyya {bhindeyya (syā. kaṃ.
sī. aṭṭha.), abhindeyya
(katthaci)} āgaccheyya
khīran”ti? “evaṃ, bhante”. “taṃ
kissa hetu”? “yañhi, bhante,
khīraṃ taṃ atthī”ti.
“evameva kho, bhikkhave, yassa kassaci bhikkhussa vā
bhikkhuniyā vā cakkhuviññeyyesu
rūpesu yo rāgo so atthi, yo doso
so atthi, yo moho so atthi, yo
rāgo so appahīno, yo doso so
appahīno, yo moho so appahīno,
tassa parittā cepi
cakkhuviññeyyā rūpā cakkhussa
āpāthaṃ āgacchanti
pariyādiyantevassa cittaṃ; ko
pana vādo adhimattānaṃ! taṃ
kissa hetu? yo, bhikkhave, rāgo
so atthi, yo doso so atthi, yo
moho so atthi, yo rāgo so
appahīno, yo doso so appahīno,
yo moho so appahīno ... pe ....
“yassa kassaci, bhikkhave, bhikkhussa vā bhikkhuniyā vā
jivhāviññeyyesu rasesu yo rāgo
so atthi ... pe ....
“yassa kassaci, bhikkhave, bhikkhussa vā bhikkhuniyā vā
manoviññeyyesu dhammesu yo rāgo
so atthi, yo doso so atthi, yo
moho so atthi, yo rāgo so
appahīno, yo doso so appahīno,
yo moho so appahīno, tassa
parittā cepi manoviññeyyā dhammā
manassa āpāthaṃ āgacchanti
pariyādiyantevassa cittaṃ; ko
pana vādo adhimattānaṃ! taṃ
kissa hetu? yo, bhikkhave, rāgo
so atthi, yo doso so atthi, yo
moho so atthi, yo rāgo so
appahīno, yo doso so appahīno,
yo moho so appahīno.
“yassa kassaci, bhikkhave, bhikkhussa vā bhikkhuniyā vā
cakkhuviññeyyesu rūpesu yo rāgo
so natthi, yo doso so natthi, yo
moho so natthi, yo rāgo so
pahīno, yo doso so pahīno, yo
moho so pahīno, tassa adhimattā
cepi cakkhuviññeyyā rūpā
cakkhussa āpāthaṃ āgacchanti
nevassa cittaṃ pariyādiyanti; ko
pana vādo parittānaṃ! taṃ kissa
hetu? yo, bhikkhave, rāgo so
natthi, yo doso so natthi, yo
moho so natthi, yo rāgo so
pahīno, yo doso so pahīno, yo
moho so pahīno ... pe ....
“yassa kassaci, bhikkhave, bhikkhussa vā bhikkhuniyā vā
jivhāviññeyyesu rasesu ... pe
... manoviññeyyesu dhammesu yo
rāgo so natthi, yo doso so
natthi, yo moho so natthi, yo
rāgo so pahīno, yo doso so
pahīno, yo moho so pahīno, tassa
adhimattā cepi manoviññeyyā
dhammā manassa āpāthaṃ
āgacchanti nevassa cittaṃ
pariyādiyanti; ko pana vādo
parittānaṃ! taṃ kissa hetu? yo,
bhikkhave, rāgo so natthi, yo
doso so natthi, yo moho so
natthi, yo rāgo so pahīno, yo
doso so pahīno, yo moho so
pahīno. seyyathāpi, bhikkhave,
khīrarukkho assattho vā nigrodho
vā pilakkho vā udumbaro vā
sukkho kolāpo terovassiko.
tamenaṃ puriso tiṇhāya kuṭhāriyā
yato yato ābhindeyya āgaccheyya
khīran”ti? “no hetaṃ, bhante”.
“taṃ kissa hetu”? “yañhi,
bhante, khīraṃ taṃ natthī”ti.
“evameva kho, bhikkhave, yassa kassaci bhikkhussa vā
bhikkhuniyā vā cakkhuviññeyyesu
rūpesu yo rāgo so natthi, yo
doso so natthi, yo moho so
natthi, yo rāgo so pahīno, yo
doso so pahīno, yo moho so
pahīno, tassa adhimattā cepi
cakkhuviññeyyā rūpā cakkhussa
āpāthaṃ āgacchanti nevassa
cittaṃ pariyādiyanti; ko pana
vādo parittānaṃ! taṃ kissa hetu?
yo, bhikkhave, rāgo so natthi,
yo doso so natthi, yo moho so
natthi, yo rāgo so pahīno, yo
doso so pahīno, yo moho so
pahīno ... pe ....
“yassa kassaci, bhikkhave, bhikkhussa vā bhikkhuniyā vā
jivhāviññeyyesu rasesu ... pe
....
“yassa kassaci, bhikkhave, bhikkhussa vā bhikkhuniyā vā
manoviññeyyesu dhammesu yo rāgo
so natthi, yo doso so natthi, yo
moho so natthi, yo rāgo so
pahīno, yo doso so pahīno, yo
moho so pahīno, tassa adhimattā
cepi manoviññeyyā dhammā manassa
āpāthaṃ āgacchanti, nevassa
cittaṃ pariyādiyanti; ko pana
vādo parittānaṃ! taṃ kissa hetu?
yo, bhikkhave, rāgo so natthi,
yo doso so natthi, yo moho so
natthi, yo rāgo so pahīno, yo
doso so pahīno, yo moho so
pahīno”ti. catutthaṃ.
“Này chư Tỳ khưu, đối với các sắc được nhận biết bởi con mắt, nếu nơi một
Tỳ khưu hay một Tỳ khưu ni nào
còn tồn tại tham ái, chưa được
đoạn trừ; còn tồn tại sân hận,
chưa được đoạn trừ; còn tồn tại
si mê, chưa được đoạn trừ, thì
ngay cả những sắc nhỏ nhặt khi
lọt vào tầm mắt cũng khiến tâm
bị quấy nhiễu, huống gì là những
sắc nổi bật. Vì sao vậy? Vì tham
vẫn còn, sân vẫn còn, si vẫn
còn, và chưa được đoạn trừ. Cũng
vậy đối với các tiếng được tai
nhận biết ... các pháp được ý
nhận biết.
“Ví như, này chư Tỳ khưu, có một cây chứa nhựa — như
cây
assattha, cây nirodha, cây
pilakkha, hay cây udumbara—
còn tươi, non, mềm mại. Nếu có
người dùng rìu sắc chặt cây ở
chỗ này chỗ kia, thì có chảy
nhựa ra không?”
“Thưa vâng, bạch Thế Tôn. Vì sao vậy? Vì cây còn có nhựa.”
“Cũng vậy, này chư Tỳ khưu, đối với các sắc được nhận biết bởi con mắt ...
ngay cả những sắc nhỏ nhặt lọt
vào tầm mắt cũng khiến tâm bị
quấy nhiễu, huống gì là những
sắc nổi bật. Vì sao vậy? Vì
tham, sân, si vẫn còn, chưa được
đoạn trừ. Cũng vậy đối với các
tiếng được tai nhận biết ... các
pháp được ý nhận biết.
“Này chư Tỳ khưu, đối với các sắc được nhận biết bởi con mắt, nếu nơi một
Tỳ khưu hay một Tỳ khưu ni nào
tham không còn và đã được đoạn
trừ, sân không còn và đã được
đoạn trừ, si không còn và đã
được đoạn trừ, thì ngay cả những
sắc nổi bật lọt vào tầm mắt cũng
không khiến tâm bị quấy nhiễu,
huống gì là những sắc nhỏ nhặt.
Vì sao vậy? Vì tham đã được đoạn
trừ, sân đã được đoạn trừ, si đã
được đoạn trừ. Cũng vậy đối với
các tiếng được tai nhận biết ...
các pháp được ý nhận biết.
“Ví như, này chư Tỳ khưu, có một cây chứa nhựa sữa — như cây assattha,
nirodha, pilakkha, hay udumbara
— nay đã khô, héo, mất sức sống.
Nếu có người dùng rìu sắc chặt
cây ở chỗ này chỗ kia, thì có
chảy nhựa ra không?”
“Bạch Thế Tôn, không. Vì sao vậy? Vì cây không còn nhựa.”
“Cũng vậy, này chư Tỳ khưu, đối với các sắc được nhận biết bởi con mắt ...
ngay cả những sắc nổi bật lọt
vào tầm mắt cũng không khiến tâm
bị quấy nhiễu, huống gì là những
sắc nhỏ nhặt. Vì sao vậy? Vì
tham đã được đoạn trừ, sân đã
được đoạn trừ, si đã được đoạn
trừ. Cũng vậy đối với các tiếng
được tai nhận biết ... các pháp
được ý nhận biết.”
Chú Thích
Bốn thứ cây assattha, cây nirodha, cây pilakkha, hay cây udumbara là những
cây thường được biết là có nhựa
khi chặt nhánh. Cây udumbara là
cây sung. Ba cây kia không xác
định rõ là cây gì. Có nhiều sai
biệt của các bản dịch nên giữ
nguyên tên Phạm ngữ.
Khi tâm chưa đoạn tận lậu hoặc thì dù phiền não rất vi tế vẫn là phiền não
như các thượng phần kiết sử.
Trên phương diện rốt ráo giải thoát thì tâm là trọng điểm chứ không phải
là cảnh. Tâm không còn phiền não
thì cảnh, dù thô tế, cũng không
khuấy động.
Sớ Giải
231-233. catutthe appahīnaṭṭhena atthi, tenevāha so
appahīnoti. parittāti,
pabbatamattampi rūpaṃ aniṭṭhaṃ
arajanīyaṃ parittaṃ nāma hoti,
evarūpāpissa rūpā cittaṃ
pariyādiyantīti dasseti. ko pana
vādo adhimattānanti
iṭṭhārammaṇaṃ panassa rajanīyaṃ
vatthu cittaṃ pariyādiyatīti
ettha kā kathā? ettha ca
nakhapiṭṭhipamāṇampi maṇimuttādi
rajanīyaṃ vatthu
adhimattārammaṇamevāti
veditabbaṃ. daharotiādīni tīṇipi
aññamaññavevacanāneva.
ābhindeyyāti pahareyya padāleyya
vā. pañcame tadubhayanti taṃ
ubhayaṃ. chaṭṭhaṃ uttānameva.
231–233. Trong bài kinh thứ tư (Catuttha), từ
“chưa được đoạn trừ”
(appahīnaṭṭhena) có nghĩa là
“vẫn còn tồn tại”, do đó trong
kinh nói rằng “vẫn chưa được
đoạn trừ”.
Từ “nhỏ nhặt” (parittā) ở đây có nghĩa là: thậm chí một sắc to như núi,
nhưng nếu đó là đối tượng không
đáng ưa thích, không khả ái,
không hấp dẫn thì vẫn được gọi
là “nhỏ nhặt”; lời kinh muốn chỉ
rằng ngay cả những sắc như vậy
cũng có thể chiếm lấy tâm người
nếu tham, sân, si vẫn chưa đoạn
tận. Vậy thì, còn nói gì đến
những đối tượng nổi bật, hấp
dẫn? Tức là nếu đối tượng khả
ái, thích hợp cho sự luyến ái,
thì tâm chắc chắn bị chiếm đoạt
– đó là ý nghĩa của câu “thì
khỏi cần nói đến các sắc nổi bật
hơn nữa” (ko pana vādo
adhimattānanti).
Ở đây, cần hiểu rằng một vật nhỏ như đầu móng tay, nếu là đối tượng khả ái
như ngọc quý, châu báu (maṇi,
muttā), thì nó chính là một đối
tượng nổi bật (adhimatta
ārammaṇa).
Ba từ daharoti, tālapakkhandikoti, kumārakoti trong kinh (ý chỉ "trẻ nhỏ",
"đứa bé", "thiếu niên") là những
từ thay thế nhau, đồng nghĩa với
nhau.
Ābhindeyya nghĩa là đập vỡ, bổ ra, hay chặt ra.
Trong bài kinh thứ năm (pañcamaṃ), cụm
“tadubhayanti” có nghĩa là “cả
hai điều đó”, tức là hai trạng
thái: có phiền não và không có
phiền não.
Bài kinh thứ sáu (chaṭṭhaṃ) thì ý
nghĩa đã rõ ràng, không cần chú
giải sâu
Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu
190. IV. Cây Có Nhựa (S.iv,159)
1) ...
2-6) -- Này các Tỷ-kheo, đối với các sắc do mắt nhận thức,
Tỷ-kheo hay Tỳ khưu ni nào còn
có tham, còn có sân, còn có si,
tham ấy chưa đoạn tận, sân ấy
chưa đoạn tận, si ấy chưa đoạn
tận; dầu chỉ có phần nhỏ, khi
các sắc do mắt nhận thức đi vào
trong tầm mắt nhận thức, chúng
chinh phục tâm của vị ấy, còn
nói gì cả phần lớn. Vì sao? Này
các Tỷ-kheo, vì còn có tham, còn
có sân, còn có si, và tham ấy
chưa đoạn tận, sân ấy chưa đoạn
tận, si ấy chưa đoạn tận... Ðối
với các tiếng do tai nhận
thức... Ðối với các hương do mũi
nhận thức... Ðối với các vị do
lưỡi nhận thức... Ðối với các
xúc do thân nhận thức...
7) Này các Tỷ-kheo, đối với các pháp do ý nhận thức, Tỷ-kheo
hay Tỳ khưu ni nào còn có tham,
còn có sân, còn có si, tham ấy
chưa đoạn tận, sân ấy chưa đoạn
tận, si ấy chưa đoạn tận; dầu
chỉ có phần nhỏ, khi các pháp do
ý nhận thức đi vào trong tầm ý
nhận thức, chúng chinh phục tâm
của vị ấy, còn nói gì cả phần
lớn. Vì sao? Này các Tỷ-kheo, vì
còn có tham, còn có sân, còn có
si, và tham ấy chưa đoạn tận,
sân ấy chưa đoạn tận, si ấy chưa
đoạn tận.
8) Ví như, này các Tỷ-kheo, một cây có nhựa, hoặc cây Bồ-đề
(assattha), hoặc cây bàng
(nigrodha), hoặc cây sanh
(pilakkha), hoặc cây udumbara,
hoặc một loại cây còn tươi. Rồi
một người với cái búa sắc bén
chặt vào cây ấy. Nước nhựa cây
ấy có chảy ra không?
-- Thưa có, bạch Thế Tôn.
-- Vì sao?
-- Vì rằng, bạch Thế Tôn, cây ấy có nhựa.
9) -- Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, đối với các sắc do mắt nhận
thức, Tỷ-kheo hay Tỳ khưu ni nào
còn có tham, còn có sân, còn có
si, tham ấy chưa đoạn tận, sân
ấy chưa đoạn tận, si ấy chưa
đoạn tận; dầu chỉ có phần nhỏ,
khi các sắc do mắt nhận thức đi
vào trong tầm mắt nhận thức,
chúng chinh phục tâm của vị ấy,
còn nói gì cả phần lớn. Vì sao?
Này các Tỷ-kheo, vì còn có tham,
còn có sân, còn có si, và tham
ấy chưa đoạn tận, sân ấy chưa
đoạn tận, si ấy chưa đoạn tận...
Ðối với các tiếng do tai nhận
thức... Ðối với các hương do mũi
nhận thức... Ðối với các vị do
lưỡi nhận thức... Ðối với các
xúc do thân nhận thức...
Này các Tỷ-kheo, đối với các pháp do ý nhận thức, Tỷ-kheo
hay Tỳ khưu ni nào còn có tham,
còn có sân, còn có si, tham ấy
chưa đoạn tận, sân ấy chưa đoạn
tận, si ấy chưa đoạn tận; dầu
chỉ có phần nhỏ, khi các pháp do
ý nhận thức đi vào trong tầm ý
nhận thức, chúng chinh phục tâm
của vị ấy, còn nói gì cả phần
lớn. Vì sao? Này các Tỷ-kheo, vì
còn có tham, còn có sân, còn có
si, và tham ấy chưa đoạn tận,
sân ấy chưa đoạn tận, si ấy chưa
đoạn tận.
10-14) Này các Tỷ-kheo, đối với các sắc do mắt nhận thức,
Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni nào không
có tham, không có sân, không có
si, tham ấy đã đoạn tận, sân ấy
đã đoạn tận, si ấy đã đoạn tận;
dầu cho cả phần lớn, khi các sắc
do mắt nhận thức đi vào trong
tầm mắt nhận thức, chúng không
chinh phục tâm của vị ấy, còn
nói gì chỉ phần nhỏ. Vì sao? Này
các Tỳ khưu, vì không có tham,
không có sân, không có si, và
tham ấy đã đoạn tận, sân ấy đã
đoạn tận, si ấy đã đoạn tận...
Ðối với các tiếng do tai nhận
thức... Ðối với các hương do mũi
nhận thức... Ðối với các vị do
lưỡi nhận thức... Ðối với các
xúc do thân nhận thức...
15) Này các Tỷ-kheo, đối với các pháp do ý nhận thức,
Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo ni nào không
có tham, không có sân, không có
si, tham ấy đã đoạn tận, sân ấy
đã đoạn tận, si ấy đã đoạn tận;
dầu cho cả phần lớn, khi các
pháp do ý nhận thức đi vào trong
tầm ý nhận thức, chúng không
chinh phục tâm của vị ấy, còn
nói gì chỉ có phần nhỏ. Vì sao?
Này các Tỷ-kheo, vì không có
tham, không có sân, không có si,
và tham ấy đã đoạn tận, sân ấy
đã đoạn tận, si ấy đã đoạn tận.
16) Ví như, này các Tỷ-kheo, một cây có nhựa, cây Bồ-đề hay
cây bàng, hay cây sanh, hay cây
udumbara đã khô héo, không có
nhựa, đã quá mùa. Rồi một người
với cây búa sắc bén chặt vào cây
ấy. Nước nhựa cây ấy có chảy ra
không?
-- Thưa không, bạch Thế Tôn.
-- Vì sao?
-- Vì rằng, bạch Thế Tôn, cây ấy không có nhựa.
-- Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, đối với các sắc do mắt nhận
thức, Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni nào
không có tham, không có sân,
không có si... si ấy đã đoạn
tận... Ðối với các pháp do ý
nhận thức, tham ấy đã đoạn tận,
sân ấy đã đoạn tận, si ấy đã
đoạn tận; dầu cho cả phần lớn,
khi các pháp do ý nhận thức đi
vào trong tầm ý nhận thức, chúng
không chinh phục tâm vị ấy, còn
nói gì chỉ có phần nhỏ. Vì sao?
Này các Tỷ-kheo, vì không có
tham ấy, không có sân ấy, không
có si ấy, và tham ấy đã đoạn
tận, sân ấy đã đoạn tận, si ấy
đã đoạn tận. -ooOoo- |