|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Ba, ngày 17 tháng 06, 2025
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
******
Dục vọng thường được hiểu là hạnh phúc vì tạo nên tâm
lý phấn khích. Trong cái
nhìn chân xác thì chính dục
vọng là sợi dây cột trói
giữa căn và cảnh. Sự trói
buộc đánh mất khả năng thong
dong, tự tại. Thậm chí có
lúc thấy được sự vương mang
là hệ luỵ vẫn không thể
buông xả. Chỉ có tâm không
tham luyến mới tự tại, và
chỉ có tâm trạng tự tại mới
là hạnh phúc đích thực. KINH VĂN
232. ekaṃ samayaṃ āyasmā ca sāriputto āyasmā ca mahākoṭṭhiko
bārāṇasiyaṃ viharanti
isipatane migadāye. atha kho
āyasmā mahākoṭṭhiko
sāyanhasamayaṃ paṭisallānā
vuṭṭhito yenāyasmā sāriputto
tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā
āyasmatā sāriputtena saddhiṃ
sammodi. sammodanīyaṃ kathaṃ
sāraṇīyaṃ vītisāretvā
ekamantaṃ nisīdi. ekamantaṃ
nisinno kho āyasmā
mahākoṭṭhiko āyasmantaṃ
sāriputtaṃ etadavoca —
“kiṃ nu kho, āvuso sāriputta, cakkhu rūpānaṃ saṃyojanaṃ,
rūpā cakkhussa saṃyojanaṃ
... pe ... jivhā rasānaṃ
saṃyojanaṃ, rasā jivhāya
saṃyojanaṃ ... pe ... mano
dhammānaṃ saṃyojanaṃ, dhammā
manassa saṃyojanan”ti?
“na kho, āvuso koṭṭhika, cakkhu rūpānaṃ saṃyojanaṃ, na rūpā
cakkhussa saṃyojanaṃ. yañca
tattha tadubhayaṃ paṭicca
uppajjati chandarāgo taṃ
tattha saṃyojanaṃ ... pe ...
na jivhā rasānaṃ saṃyojanaṃ,
na rasā jivhāya saṃyojanaṃ.
yañca tattha tadubhayaṃ
paṭicca uppajjati chandarāgo
taṃ tattha saṃyojanaṃ ... pe
... na mano dhammānaṃ
saṃyojanaṃ, na dhammā
manassa saṃyojanaṃ. yañca
tattha tadubhayaṃ paṭicca
uppajjati chandarāgo taṃ
tattha saṃyojanaṃ.
“seyyathāpi, āvuso, kāḷo ca balībaddo {balivaddo (sī. pī.),
balibaddo (syā. kaṃ. ka.)}
odāto ca balībaddo ekena
dāmena vā yottena vā
saṃyuttā assu. yo nu kho
evaṃ vadeyya — ‘kāḷo
balībaddo odātassa
balībaddassa saṃyojanaṃ,
odāto balībaddo kāḷassa
balībaddassa saṃyojanan’ti,
sammā nu kho so vadamāno
vadeyyā”ti? “no hetaṃ,
āvuso”. “na kho, āvuso, kāḷo
balībaddo odātassa
balībaddassa saṃyojanaṃ, na
odāto balībaddo kāḷassa
balībaddassa saṃyojanaṃ.
yena ca kho te ekena dāmena
vā yottena vā saṃyuttā taṃ
tattha saṃyojanaṃ.
“evameva kho, āvuso, na cakkhu rūpānaṃ saṃyojanaṃ, na rūpā
cakkhussa saṃyojanaṃ. yañca
tattha tadubhayaṃ paṭicca
uppajjati chandarāgo taṃ
tattha saṃyojanaṃ ... pe ...
na jivhā rasānaṃ saṃyojanaṃ
... pe ... na mano dhammānaṃ
saṃyojanaṃ, na dhammā
manassa saṃyojanaṃ. yañca
tattha tadubhayaṃ paṭicca
uppajjati chandarāgo, taṃ
tattha saṃyojanaṃ.
“cakkhu vā, āvuso, rūpānaṃ saṃyojanaṃ abhavissa, rūpā vā
cakkhussa saṃyojanaṃ,
nayidaṃ brahmacariyavāso
paññāyetha {paññāyati (ka.)}
sammā dukkhakkhayāya. yasmā
ca kho, āvuso, na cakkhu
rūpānaṃ saṃyojanaṃ, na rūpā
cakkhussa saṃyojanaṃ; yañca
tattha tadubhayaṃ paṭicca
uppajjati chandarāgo, taṃ
tattha saṃyojanaṃ, tasmā
brahmacariyavāso paññāyati
sammā dukkhakkhayāya ... pe
....
“jivhā, āvuso, rasānaṃ saṃyojanaṃ abhavissa, rasā vā jivhāya
saṃyojanaṃ, nayidaṃ
brahmacariyavāso paññāyetha
sammā dukkhakkhayāya. yasmā
ca kho, āvuso, na jivhā
rasānaṃ saṃyojanaṃ, na rasā
jivhāya saṃyojanaṃ; yañca
tattha tadubhayaṃ paṭicca
uppajjati chandarāgo, taṃ
tattha saṃyojanaṃ, tasmā
brahmacariyavāso paññāyati
sammā dukkhakkhayāya ... pe
....
“mano vā, āvuso, dhammānaṃ saṃyojanaṃ abhavissa, dhammā vā
manassa saṃyojanaṃ, nayidaṃ
brahmacariyavāso paññāyetha
sammā dukkhakkhayāya. yasmā
ca kho, āvuso, na mano
dhammānaṃ saṃyojanaṃ, na
dhammā manassa saṃyojanaṃ;
yañca tattha tadubhayaṃ
paṭicca uppajjati
chandarāgo, taṃ tattha
saṃyojanaṃ, tasmā
brahmacariyavāso paññāyati
sammā dukkhakkhayāya.
“imināpetaṃ, āvuso, pariyāyena veditabbaṃ yathā na cakkhu
rūpānaṃ saṃyojanaṃ, na rūpā
cakkhussa saṃyojanaṃ. yañca
tattha tadubhayaṃ paṭicca
uppajjati chandarāgo, taṃ
tattha saṃyojanaṃ ... pe ...
na jivhā rasānaṃ saṃyojanaṃ
... pe ... na mano dhammānaṃ
saṃyojanaṃ, na dhammā
manassa saṃyojanaṃ. yañca
tattha tadubhayaṃ paṭicca
uppajjati chandarāgo, taṃ
tattha saṃyojanaṃ.
“saṃvijjati kho, āvuso, bhagavato cakkhu. passati bhagavā
cakkhunā rūpaṃ. chandarāgo
bhagavato natthi.
suvimuttacitto bhagavā.
saṃvijjati kho, āvuso,
bhagavato sotaṃ. suṇāti
bhagavā sotena saddaṃ.
chandarāgo bhagavato natthi.
suvimuttacitto bhagavā.
saṃvijjati kho, āvuso,
bhagavato ghānaṃ. ghāyati
bhagavā ghānena gandhaṃ.
chandarāgo bhagavato natthi.
suvimuttacitto bhagavā.
saṃvijjati kho, āvuso,
bhagavato jivhā. sāyati
bhagavā jivhāya rasaṃ.
chandarāgo bhagavato natthi.
suvimuttacitto bhagavā.
saṃvijjati kho, āvuso,
bhagavato kāyo. phusati
bhagavā kāyena phoṭṭhabbaṃ.
chandarāgo bhagavato natthi.
suvimuttacitto bhagavā.
saṃvijjati kho, āvuso,
bhagavato mano. vijānāti
bhagavā manasā dhammaṃ.
chandarāgo bhagavato natthi.
suvimuttacitto bhagavā.
“iminā kho etaṃ, āvuso, pariyāyena veditabbaṃ yathā na
cakkhu rūpānaṃ saṃyojanaṃ,
na rūpā cakkhussa
saṃyojanaṃ; yañca tattha
tadubhayaṃ paṭicca uppajjati
chandarāgo, taṃ tattha
saṃyojanaṃ. na sotaṃ... na
ghānaṃ... na jivhā rasānaṃ
saṃyojanaṃ, na rasā jivhāya
saṃyojanaṃ; yañca tattha
tadubhayaṃ paṭicca uppajjati
chandarāgo taṃ tattha
saṃyojanaṃ. na kāyo... na
mano dhammānaṃ saṃyojanaṃ,
na dhammā manassa
saṃyojanaṃ; yañca tattha
tadubhayaṃ paṭicca uppajjati
chandarāgo, taṃ tattha
saṃyojanan”ti. pañcamaṃ.
Một thuở, Tôn giả Sāriputta và Tôn giả Mahākoṭṭhita đang cư ngụ tại Vườn
Nai Isipatana, gần thành
Ba-la-nại (Bārāṇasī).
Vào buổi chiều, Tôn giả Mahākoṭṭhita sau khi xuất định từ nơi thiền tịnh,
đi đến chỗ Tôn giả
Sāriputta. Sau khi chào hỏi,
thăm hỏi thân tình , Tôn giả
Mahākoṭṭhita ngồi xuống một
bên và thưa:
Tôn giả Sāriputta trả lời:
Tương tự, tai không phải là ràng buộc của âm thanh, âm thanh cũng không
phải là ràng buộc của tai.
Nhưng dục và tham khởi lên
do sự kết hợp của cả hai –
đó là ràng buộc.
“Nếu con mắt là ràng buộc của sắc, hoặc sắc là ràng buộc của con mắt –
Nhưng vì con mắt không ràng buộc sắc, sắc không ràng buộc con mắt,
Tương tự với tai và âm thanh … ý và pháp. Vì không có ràng buộc giữa căn
và trần,
Đức Thế Tôn có con mắt – Ngài thấy sắc bằng con mắt, nhưng không có dục và
tham;
Ngài có tai – Ngài nghe âm thanh bằng tai, nhưng không có dục và tham…
Ngài có mũi – Ngài ngửi hương bằng mũi, nhưng không có dục và tham…
Ngài có lưỡi – Ngài nếm vị bằng lưỡi, nhưng không có dục và tham…
Ngài có thân – Ngài xúc chạm bằng thân, nhưng không có dục và tham…
Ngài có ý – Ngài nhận biết pháp bằng ý, nhưng không có dục và tham;
Không phải con mắt là ràng buộc của sắc, không phải sắc là ràng buộc của
con mắt; mà chính dục và
tham sinh khởi từ cả hai mới
là ràng buộc.
Tương tự với tai và âm thanh, mũi và hương, lưỡi và vị, thân và xúc chạm,
Chú Thích
Tôn giả Mahā Koṭṭhita (hay Đại Câu-Đa-La trong âm Hán) là một trong những
vị đệ tử A-la-hán nổi bật
của Đức Phật. Ngài
xuất thân từ một gia
đình Bà-la-môn, nổi tiếng là
bậc thông tuệ thuở thiếu
thời. Sau khi nghe giáo pháp
từ Đức Phật, Ngài phát khởi
niềm tin và xuất gia.Với nỗ
lực tinh tấn và tuệ giác sâu
sắc, không bao lâu sau, Tôn
giả chứng đạt quả A-la-hán.
Đức Phật đã tuyên dương Tôn
giả Mahā Koṭṭhita là một
trong những đệ tử có khả
năng phân tích giáo lý
(Dhammavibhāgika) bậc nhất.
Ngài thường đóng vai trò như
một nhà biện luận trí tuệ,
đặt những câu hỏi sắc bén
với các vị đại đệ tử khác
như Sāriputta, Anuruddha,
hoặc chính Đức Phật, nhằm
khai triển chiều sâu của
pháp học.
Thuật ngữ chandarāga thường được dịch sát nghĩa là dục và tham. Từ kép nầy
mang nghĩa là dục vọng hay
sự thích thú theo đuổi.
Căn và cảnh vốn có bản chất tự nhiên. Chính dục vọng mới là manh mối cần
giải quyết để diệt khổ. Hiểu
như vậy thì con đường giác
ngộ giải thoát mới khả thi
và đời sống tu tập có giá
trị đích thực.
Bản Sớ giải bài kinh nầy giống kinh trước.
Sớ Giải
231-233. catutthe appahīnaṭṭhena atthi, tenevāha so
appahīnoti. parittāti,
pabbatamattampi rūpaṃ aniṭṭhaṃ
arajanīyaṃ parittaṃ nāma hoti,
evarūpāpissa rūpā cittaṃ
pariyādiyantīti dasseti. ko pana
vādo adhimattānanti
iṭṭhārammaṇaṃ panassa rajanīyaṃ
vatthu cittaṃ pariyādiyatīti
ettha kā kathā? ettha ca
nakhapiṭṭhipamāṇampi maṇimuttādi
rajanīyaṃ vatthu
adhimattārammaṇamevāti
veditabbaṃ. daharotiādīni tīṇipi
aññamaññavevacanāneva.
ābhindeyyāti pahareyya padāleyya
vā. pañcame tadubhayanti taṃ
ubhayaṃ. chaṭṭhaṃ uttānameva.
231–233. Trong bài kinh thứ tư (Catuttha), từ
“chưa được đoạn trừ”
(appahīnaṭṭhena) có nghĩa là
“vẫn còn tồn tại”, do đó trong
kinh nói rằng “vẫn chưa được
đoạn trừ”.
Từ “nhỏ nhặt” (parittā) ở đây có nghĩa là: thậm chí một sắc to như núi,
nhưng nếu đó là đối tượng không
đáng ưa thích, không khả ái,
không hấp dẫn thì vẫn được gọi
là “nhỏ nhặt”; lời kinh muốn chỉ
rằng ngay cả những sắc như vậy
cũng có thể chiếm lấy tâm người
nếu tham, sân, si vẫn chưa đoạn
tận. Vậy thì, còn nói gì đến
những đối tượng nổi bật, hấp
dẫn? Tức là nếu đối tượng khả
ái, thích hợp cho sự luyến ái,
thì tâm chắc chắn bị chiếm đoạt
– đó là ý nghĩa của câu “thì
khỏi cần nói đến các sắc nổi bật
hơn nữa” (ko pana vādo
adhimattānanti).
Ở đây, cần hiểu rằng một vật nhỏ như đầu móng tay, nếu là đối tượng khả ái
như ngọc quý, châu báu (maṇi,
muttā), thì nó chính là một đối
tượng nổi bật (adhimatta
ārammaṇa).
Ba từ daharoti, tālapakkhandikoti, kumārakoti trong kinh (ý chỉ "trẻ nhỏ",
"đứa bé", "thiếu niên") là những
từ thay thế nhau, đồng nghĩa với
nhau.
Ābhindeyya nghĩa là đập vỡ, bổ ra, hay chặt ra.
Trong bài kinh thứ năm (pañcamaṃ), cụm
“tadubhayanti” có nghĩa là “cả
hai điều đó”, tức là hai trạng
thái: có phiền não và không có
phiền não.
Bài kinh thứ sáu (chaṭṭhaṃ) thì ý
nghĩa đã rõ ràng, không cần chú
giải sâu
Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu
191. V. Kotthika (S.iv,162)
1) Một thời Tôn giả
Sàriputta và Tôn giả Mahà
Kotthika trú ở Bàrànasii,
tại Isipatana, vườn Lộc
Uyển.
2) Rồi Tôn giả Mahà
Kotthika, vào buổi chiều, từ
chỗ tịnh cư đứng dậy, đi đến
Tôn giả Sàriputta; sau khi
đến, nói lên với Tôn giả
Sàriputta những lời chào đón
hỏi thăm, sau khi nói lên
những lời chào đón hỏi thăm
thân hữu rồi ngồi xuống một
bên.
3) Ngồi xuống một bên, Tôn
giả Mahà Kotthika nói với
Tôn giả Sàriputta:
-- Thưa Hiền giả, có phải
con mắt là kiết sử của các
sắc, hay các sắc là kiết sử
của con mắt?... Có phải ý là
kiết sử của các pháp hay các
pháp là kiết sử của ý?
4) -- Này Hiền giả Kotthika,
con mắt không phải là kiết
sử của các sắc, các sắc
không phải là kiết sử của
con mắt; ở đây, do duyên cả
hai khởi lên dục tham. Dục
tham ở đây là kiết sử... Ý
không phải là kiết sử của
các pháp, các pháp không
phải là kiết sử của ý; ở
đây, do duyên cả hai khởi
lên dục tham. Dục tham ở đây
là kiết sử.
5) Ví như, này Hiền giả, một
con bò đen và một con bò
trắng bị cột lại bởi sợi dây
hay cái ách. Nếu có người
nói con bò đen là kiết sử
của con bò trắng, hay con bò
trắng là kiết sử của con bò
đen, thời nói vậy có phải
nói một cách chơn chánh
không?
-- Thưa không.
-- Này Hiền giả, con bò đen
không phải là kiết sử của
con bò trắng. Và con bò
trắng cũng không phải là
kiết sử của con bò đen. Do
sợi dây hay cái ách cột lại,
cái ấy ở đây là kiết sử.
Này Hiền giả, cũng vậy, con
mắt cũng không phải là kiết
sử của các sắc, các sắc
không phải là kiết sử của
con mắt; ở đây, do duyên cả
hai khởi lên dục tham. Dục
tham ở đây là kiết sử... Ý
không phải là kiết sử của
các pháp, các pháp không
phải là kiết sử của của ý; ở
đây, do duyên cả hai khởi
lên dục tham. Dục tham ở đây
là kiết sử.
6) Này Hiền giả, nếu con mắt
là kiết sử của các sắc, hay
các sắc là kiết sử của con
mắt, thời Phạm hạnh này đưa
đến chơn chánh đoạn tận khổ
đau không thể tuyên bố. Vì
rằng, này Hiền giả, con mắt
không phải là kiết sử của
các sắc, các sắc cũng không
phải là kiết sử của con mắt;
ở đây, do duyên cả hai khởi
lên dục tham. Dục tham ở đây
là kiết sử. Do vậy, Phạm
hạnh đưa đến chơn chánh đoạn
tận khổ đau có thể tuyên
bố... Này Hiền giả, nếu ý là
kiết sử của các pháp, hay
các pháp là kiết sử của ý,
thời Phạm hạnh này đưa đến
chơn chánh đoạn tận khổ đau
không thể tuyên bố. Vì rằng,
ý không phải là kiết sử của
các pháp, hay các pháp không
phải là kiết sử của ý; ở
đây, do duyên cả hai khởi
lên dục tham. Dục tham ở đây
là kiết sử. Do vậy, Phạm
hạnh đưa đến chơn chánh đoạn
tận khổ đau có thể tuyên bố.
7) Này Hiền giả, với pháp
môn này cần phải hiểu biết
như vậy. Mắt không phải là
kiết sử của sắc. Sắc không
phải là kiết sử của mắt; ở
đây, do duyên cả hai khởi
lên dục tham. Dục tham ở đây
là kiết sử... Ý không phải
là kiết sử của các pháp, các
pháp không phải là kiết sử
của mắt; ở đây, do duyên cả
hai khởi lên dục tham. Dục
tham ở đây là kiết sử.
8) Này Hiền giả, Thế Tôn có
mắt. Với con mắt, Thế Tôn
thấy sắc. Tham dục không có
nơi Thế Tôn. Khéo giải thoát
là tâm Thế Tôn... Này Hiền
giả, Thế Tôn có ý. Với ý,
Thế Tôn biết pháp. Tham dục
không có nơi Thế Tôn. Khéo
giải thoát là tâm Thế Tôn.
9) Này Hiền giả, với pháp
môn này cần phải hiểu biết
như vậy. Mắt không phải là
kiết sử của các sắc, các sắc
không phải là kiết sử của
mắt; ở đây, do duyên cả hai
khởi lên dục tham. Dục tham
ở đây là kiết sử... Ý không
phải là kiết sử của các
pháp, các pháp không phải là
kiết sử của ý; ở đây, do
duyên cả hai khởi lên dục
tham. Dục tham ở đây là kiết
sử. -ooOoo- |