BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Ba, ngày 17 tháng 06, 2025

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập III – Chương 35. Tương Ưng Sáu Xứ - Phẩm Biển Cả- SN 35.232.
Bài 437. LỖI DO ĐÂU? - Kinh Koṭṭhika (Koṭṭhikasuttaṃ).
****** http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-437.jpg






http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png

 

Dục vọng thường được hiểu là hạnh phúc vì tạo nên tâm lý phấn khích. Trong cái nhìn chân xác thì chính dục vọng là sợi dây cột trói giữa căn và cảnh. Sự trói buộc đánh mất khả năng thong dong, tự tại. Thậm chí có lúc thấy được sự vương mang là hệ luỵ vẫn không thể buông xả. Chỉ có tâm không tham luyến mới tự tại, và chỉ có tâm trạng tự tại mới là hạnh phúc đích thực.

KINH VĂN

232. ekaṃ samayaṃ āyasmā ca sāriputto āyasmā ca mahākoṭṭhiko bārāṇasiyaṃ viharanti isipatane migadāye. atha kho āyasmā mahākoṭṭhiko sāyanhasamayaṃ paṭisallānā vuṭṭhito yenāyasmā sāriputto tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmatā sāriputtena saddhiṃ sammodi. sammodanīyaṃ kathaṃ sāraṇīyaṃ vītisāretvā ekamantaṃ nisīdi. ekamantaṃ nisinno kho āyasmā mahākoṭṭhiko āyasmantaṃ sāriputtaṃ etadavoca —

“kiṃ nu kho, āvuso sāriputta, cakkhu rūpānaṃ saṃyojanaṃ, rūpā cakkhussa saṃyojanaṃ ... pe ... jivhā rasānaṃ saṃyojanaṃ, rasā jivhāya saṃyojanaṃ ... pe ... mano dhammānaṃ saṃyojanaṃ, dhammā manassa saṃyojanan”ti?

“na kho, āvuso koṭṭhika, cakkhu rūpānaṃ saṃyojanaṃ, na rūpā cakkhussa saṃyojanaṃ. yañca tattha tadubhayaṃ paṭicca uppajjati chandarāgo taṃ tattha saṃyojanaṃ ... pe ... na jivhā rasānaṃ saṃyojanaṃ, na rasā jivhāya saṃyojanaṃ. yañca tattha tadubhayaṃ paṭicca uppajjati chandarāgo taṃ tattha saṃyojanaṃ ... pe ... na mano dhammānaṃ saṃyojanaṃ, na dhammā manassa saṃyojanaṃ. yañca tattha tadubhayaṃ paṭicca uppajjati chandarāgo taṃ tattha saṃyojanaṃ.

“seyyathāpi, āvuso, kāḷo ca balībaddo {balivaddo (sī. pī.), balibaddo (syā. kaṃ. ka.)} odāto ca balībaddo ekena dāmena vā yottena vā saṃyuttā assu. yo nu kho evaṃ vadeyya — ‘kāḷo balībaddo odātassa balībaddassa saṃyojanaṃ, odāto balībaddo kāḷassa balībaddassa saṃyojanan’ti, sammā nu kho so vadamāno vadeyyā”ti? “no hetaṃ, āvuso”. “na kho, āvuso, kāḷo balībaddo odātassa balībaddassa saṃyojanaṃ, na odāto balībaddo kāḷassa balībaddassa saṃyojanaṃ. yena ca kho te ekena dāmena vā yottena vā saṃyuttā taṃ tattha saṃyojanaṃ.

“evameva kho, āvuso, na cakkhu rūpānaṃ saṃyojanaṃ, na rūpā cakkhussa saṃyojanaṃ. yañca tattha tadubhayaṃ paṭicca uppajjati chandarāgo taṃ tattha saṃyojanaṃ ... pe ... na jivhā rasānaṃ saṃyojanaṃ ... pe ... na mano dhammānaṃ saṃyojanaṃ, na dhammā manassa saṃyojanaṃ. yañca tattha tadubhayaṃ paṭicca uppajjati chandarāgo, taṃ tattha saṃyojanaṃ.

“cakkhu vā, āvuso, rūpānaṃ saṃyojanaṃ abhavissa, rūpā vā cakkhussa saṃyojanaṃ, nayidaṃ brahmacariyavāso paññāyetha {paññāyati (ka.)} sammā dukkhakkhayāya. yasmā ca kho, āvuso, na cakkhu rūpānaṃ saṃyojanaṃ, na rūpā cakkhussa saṃyojanaṃ; yañca tattha tadubhayaṃ paṭicca uppajjati chandarāgo, taṃ tattha saṃyojanaṃ, tasmā brahmacariyavāso paññāyati sammā dukkhakkhayāya ... pe ....

“jivhā, āvuso, rasānaṃ saṃyojanaṃ abhavissa, rasā vā jivhāya saṃyojanaṃ, nayidaṃ brahmacariyavāso paññāyetha sammā dukkhakkhayāya. yasmā ca kho, āvuso, na jivhā rasānaṃ saṃyojanaṃ, na rasā jivhāya saṃyojanaṃ; yañca tattha tadubhayaṃ paṭicca uppajjati chandarāgo, taṃ tattha saṃyojanaṃ, tasmā brahmacariyavāso paññāyati sammā dukkhakkhayāya ... pe ....

“mano vā, āvuso, dhammānaṃ saṃyojanaṃ abhavissa, dhammā vā manassa saṃyojanaṃ, nayidaṃ brahmacariyavāso paññāyetha sammā dukkhakkhayāya. yasmā ca kho, āvuso, na mano dhammānaṃ saṃyojanaṃ, na dhammā manassa saṃyojanaṃ; yañca tattha tadubhayaṃ paṭicca uppajjati chandarāgo, taṃ tattha saṃyojanaṃ, tasmā brahmacariyavāso paññāyati sammā dukkhakkhayāya.

“imināpetaṃ, āvuso, pariyāyena veditabbaṃ yathā na cakkhu rūpānaṃ saṃyojanaṃ, na rūpā cakkhussa saṃyojanaṃ. yañca tattha tadubhayaṃ paṭicca uppajjati chandarāgo, taṃ tattha saṃyojanaṃ ... pe ... na jivhā rasānaṃ saṃyojanaṃ ... pe ... na mano dhammānaṃ saṃyojanaṃ, na dhammā manassa saṃyojanaṃ. yañca tattha tadubhayaṃ paṭicca uppajjati chandarāgo, taṃ tattha saṃyojanaṃ.

“saṃvijjati kho, āvuso, bhagavato cakkhu. passati bhagavā cakkhunā rūpaṃ. chandarāgo bhagavato natthi. suvimuttacitto bhagavā. saṃvijjati kho, āvuso, bhagavato sotaṃ. suṇāti bhagavā sotena saddaṃ. chandarāgo bhagavato natthi. suvimuttacitto bhagavā. saṃvijjati kho, āvuso, bhagavato ghānaṃ. ghāyati bhagavā ghānena gandhaṃ. chandarāgo bhagavato natthi. suvimuttacitto bhagavā. saṃvijjati kho, āvuso, bhagavato jivhā. sāyati bhagavā jivhāya rasaṃ. chandarāgo bhagavato natthi. suvimuttacitto bhagavā. saṃvijjati kho, āvuso, bhagavato kāyo. phusati bhagavā kāyena phoṭṭhabbaṃ. chandarāgo bhagavato natthi. suvimuttacitto bhagavā. saṃvijjati kho, āvuso, bhagavato mano. vijānāti bhagavā manasā dhammaṃ. chandarāgo bhagavato natthi. suvimuttacitto bhagavā.

“iminā kho etaṃ, āvuso, pariyāyena veditabbaṃ yathā na cakkhu rūpānaṃ saṃyojanaṃ, na rūpā cakkhussa saṃyojanaṃ; yañca tattha tadubhayaṃ paṭicca uppajjati chandarāgo, taṃ tattha saṃyojanaṃ. na sotaṃ... na ghānaṃ... na jivhā rasānaṃ saṃyojanaṃ, na rasā jivhāya saṃyojanaṃ; yañca tattha tadubhayaṃ paṭicca uppajjati chandarāgo taṃ tattha saṃyojanaṃ. na kāyo... na mano dhammānaṃ saṃyojanaṃ, na dhammā manassa saṃyojanaṃ; yañca tattha tadubhayaṃ paṭicca uppajjati chandarāgo, taṃ tattha saṃyojanan”ti. pañcamaṃ.

Một thuở, Tôn giả Sāriputta và Tôn giả Mahākoṭṭhita đang cư ngụ tại Vườn Nai Isipatana, gần thành Ba-la-nại (Bārāṇasī).

Vào buổi chiều, Tôn giả Mahākoṭṭhita sau khi xuất định từ nơi thiền tịnh, đi đến chỗ Tôn giả Sāriputta. Sau khi chào hỏi, thăm hỏi thân tình , Tôn giả Mahākoṭṭhita ngồi xuống một bên và thưa:
“Thưa hiền giả Sāriputta, con mắt có phải là mối ràng buộc của sắc trần, hay sắc trần là mối ràng buộc của con mắt?
Tai là mối ràng buộc của âm thanh, hay âm thanh là mối ràng buộc của tai?
... Ý là mối ràng buộc của cảnh pháp, hay cành pháp là mối ràng buộc của ý?”

Tôn giả Sāriputta trả lời:
“Hiền giả Koṭṭhita, con mắt không phải là mối ràng buộc của sắc, sắc cũng không phải là mối ràng buộc của con mắt. Mà chính dục và tham (chandarāga) khởi lên do sự phụ thuộc giữa cả hai – đó mới chính là mối ràng buộc.

Tương tự, tai không phải là ràng buộc của âm thanh, âm thanh cũng không phải là ràng buộc của tai. Nhưng dục và tham khởi lên do sự kết hợp của cả hai – đó là ràng buộc.
... Ý cũng vậy – không ràng buộc cành pháp, cảnh pháp không ràng buộc ý; mà chính dục và tham khởi lên từ cả hai mới là ràng buộc.”
“Ví như, hiền giả, có một con bò đen và một con bò trắng bị buộc chung lại bằng một sợi dây hay ách gỗ. Nếu có người nói: ‘Con bò đen là sự ràng buộc của con bò trắng, con bò trắng là sự ràng buộc của con bò đen’ – người ấy có nói đúng chăng?”
— “Không, hiền giả.”
— “Đúng vậy. Không phải bò đen là sự ràng buộc của bò trắng, hay ngược lại;
chính sợi dây hay ách gỗ nối liền cả hai mới là mối ràng buộc.”
“Cũng như vậy, hiền giả, con mắt không phải là ràng buộc của sắc …
Ý không phải là ràng buộc của các pháp, các pháp không phải là ràng buộc của ý.
Chính dục và tham sinh khởi từ sự tiếp xúc giữa cả hai là ràng buộc.”

“Nếu con mắt là ràng buộc của sắc, hoặc sắc là ràng buộc của con mắt –
thì đời sống phạm hạnh này không thể được thực hành để hướng đến sự đoạn tận khổ đau.

Nhưng vì con mắt không ràng buộc sắc, sắc không ràng buộc con mắt,
chính dục và tham phát sinh từ tiếp xúc giữa cả hai mới là ràng buộc,
nên đời sống phạm hạnh có thể được thực hành, đưa đến sự đoạn tận khổ đau.

Tương tự với tai và âm thanh … ý và pháp. Vì không có ràng buộc giữa căn và trần,
nên đời sống phạm hạnh khả dĩ thành tựu mục tiêu chấm dứt khổ đau.”
“Hiền giả, điều này cũng có thể được hiểu như sau:

Đức Thế Tôn có con mắt – Ngài thấy sắc bằng con mắt, nhưng không có dục và tham;
Ngài là bậc có tâm giải thoát hoàn toàn.

Ngài có tai – Ngài nghe âm thanh bằng tai, nhưng không có dục và tham…

Ngài có mũi – Ngài ngửi hương bằng mũi, nhưng không có dục và tham…

Ngài có lưỡi – Ngài nếm vị bằng lưỡi, nhưng không có dục và tham…

Ngài có thân – Ngài xúc chạm bằng thân, nhưng không có dục và tham…

Ngài có ý – Ngài nhận biết pháp bằng ý, nhưng không có dục và tham;
Ngài là bậc giải thoát tâm hoàn toàn.”
“Vì vậy, hiền giả, điều này cần được hiểu rõ:

Không phải con mắt là ràng buộc của sắc, không phải sắc là ràng buộc của con mắt; mà chính dục và tham sinh khởi từ cả hai mới là ràng buộc.

Tương tự với tai và âm thanh, mũi và hương, lưỡi và vị, thân và xúc chạm,
ý và các pháp – chính dục và tham phát sinh từ sự tiếp xúc ấy là mối ràng buộc thực sự.”

Chú Thích

Tôn giả Mahā Koṭṭhita (hay Đại Câu-Đa-La trong âm Hán) là một trong những vị đệ tử A-la-hán nổi bật của Đức Phật. Ngài  xuất thân từ một gia đình Bà-la-môn, nổi tiếng là bậc thông tuệ thuở thiếu thời. Sau khi nghe giáo pháp từ Đức Phật, Ngài phát khởi niềm tin và xuất gia.Với nỗ lực tinh tấn và tuệ giác sâu sắc, không bao lâu sau, Tôn giả chứng đạt quả A-la-hán. Đức Phật đã tuyên dương Tôn giả Mahā Koṭṭhita là một trong những đệ tử có khả năng phân tích giáo lý (Dhammavibhāgika) bậc nhất. Ngài thường đóng vai trò như một nhà biện luận trí tuệ, đặt những câu hỏi sắc bén với các vị đại đệ tử khác như Sāriputta, Anuruddha, hoặc chính Đức Phật, nhằm khai triển chiều sâu của pháp học.

Thuật ngữ chandarāga thường được dịch sát nghĩa là dục và tham. Từ kép nầy mang nghĩa là dục vọng hay sự thích thú theo đuổi.

Căn và cảnh vốn có bản chất tự nhiên. Chính dục vọng mới là manh mối cần giải quyết để diệt khổ. Hiểu như vậy thì con đường giác ngộ giải thoát mới khả thi và đời sống tu tập có giá trị đích thực.

Bản Sớ giải bài kinh nầy giống kinh trước.

Sớ Giải

231-233. catutthe appahīnaṭṭhena atthi, tenevāha so appahīnoti. parittāti, pabbatamattampi rūpaṃ aniṭṭhaṃ arajanīyaṃ parittaṃ nāma hoti, evarūpāpissa rūpā cittaṃ pariyādiyantīti dasseti. ko pana vādo adhimattānanti iṭṭhārammaṇaṃ panassa rajanīyaṃ vatthu cittaṃ pariyādiyatīti ettha kā kathā? ettha ca nakhapiṭṭhipamāṇampi maṇimuttādi rajanīyaṃ vatthu adhimattārammaṇamevāti veditabbaṃ. daharotiādīni tīṇipi aññamaññavevacanāneva. ābhindeyyāti pahareyya padāleyya vā. pañcame tadubhayanti taṃ ubhayaṃ. chaṭṭhaṃ uttānameva.

231–233. Trong bài kinh thứ tư (Catuttha), từ “chưa được đoạn trừ” (appahīnaṭṭhena) có nghĩa là “vẫn còn tồn tại”, do đó trong kinh nói rằng “vẫn chưa được đoạn trừ”.

Từ “nhỏ nhặt” (parittā) ở đây có nghĩa là: thậm chí một sắc to như núi, nhưng nếu đó là đối tượng không đáng ưa thích, không khả ái, không hấp dẫn thì vẫn được gọi là “nhỏ nhặt”; lời kinh muốn chỉ rằng ngay cả những sắc như vậy cũng có thể chiếm lấy tâm người nếu tham, sân, si vẫn chưa đoạn tận. Vậy thì, còn nói gì đến những đối tượng nổi bật, hấp dẫn? Tức là nếu đối tượng khả ái, thích hợp cho sự luyến ái, thì tâm chắc chắn bị chiếm đoạt – đó là ý nghĩa của câu “thì khỏi cần nói đến các sắc nổi bật hơn nữa” (ko pana vādo adhimattānanti).

Ở đây, cần hiểu rằng một vật nhỏ như đầu móng tay, nếu là đối tượng khả ái như ngọc quý, châu báu (maṇi, muttā), thì nó chính là một đối tượng nổi bật (adhimatta ārammaṇa).

Ba từ daharoti, tālapakkhandikoti, kumārakoti trong kinh (ý chỉ "trẻ nhỏ", "đứa bé", "thiếu niên") là những từ thay thế nhau, đồng nghĩa với nhau.

Ābhindeyya nghĩa là đập vỡ, bổ ra, hay chặt ra.

Trong bài kinh thứ năm (pañcamaṃ), cụm “tadubhayanti” có nghĩa là “cả hai điều đó”, tức là hai trạng thái: có phiền não và không có phiền não.

Bài kinh thứ sáu (chaṭṭhaṃ) thì ý nghĩa đã rõ ràng, không cần chú giải sâu

 Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình  

Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

191. V. Kotthika (S.iv,162)

1) Một thời Tôn giả Sàriputta và Tôn giả Mahà Kotthika trú ở Bàrànasii, tại Isipatana, vườn Lộc Uyển.

2) Rồi Tôn giả Mahà Kotthika, vào buổi chiều, từ chỗ tịnh cư đứng dậy, đi đến Tôn giả Sàriputta; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Sàriputta những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên.

3) Ngồi xuống một bên, Tôn giả Mahà Kotthika nói với Tôn giả Sàriputta:

-- Thưa Hiền giả, có phải con mắt là kiết sử của các sắc, hay các sắc là kiết sử của con mắt?... Có phải ý là kiết sử của các pháp hay các pháp là kiết sử của ý?

4) -- Này Hiền giả Kotthika, con mắt không phải là kiết sử của các sắc, các sắc không phải là kiết sử của con mắt; ở đây, do duyên cả hai khởi lên dục tham. Dục tham ở đây là kiết sử... Ý không phải là kiết sử của các pháp, các pháp không phải là kiết sử của ý; ở đây, do duyên cả hai khởi lên dục tham. Dục tham ở đây là kiết sử.

5) Ví như, này Hiền giả, một con bò đen và một con bò trắng bị cột lại bởi sợi dây hay cái ách. Nếu có người nói con bò đen là kiết sử của con bò trắng, hay con bò trắng là kiết sử của con bò đen, thời nói vậy có phải nói một cách chơn chánh không?

-- Thưa không.

-- Này Hiền giả, con bò đen không phải là kiết sử của con bò trắng. Và con bò trắng cũng không phải là kiết sử của con bò đen. Do sợi dây hay cái ách cột lại, cái ấy ở đây là kiết sử.

Này Hiền giả, cũng vậy, con mắt cũng không phải là kiết sử của các sắc, các sắc không phải là kiết sử của con mắt; ở đây, do duyên cả hai khởi lên dục tham. Dục tham ở đây là kiết sử... Ý không phải là kiết sử của các pháp, các pháp không phải là kiết sử của của ý; ở đây, do duyên cả hai khởi lên dục tham. Dục tham ở đây là kiết sử.

6) Này Hiền giả, nếu con mắt là kiết sử của các sắc, hay các sắc là kiết sử của con mắt, thời Phạm hạnh này đưa đến chơn chánh đoạn tận khổ đau không thể tuyên bố. Vì rằng, này Hiền giả, con mắt không phải là kiết sử của các sắc, các sắc cũng không phải là kiết sử của con mắt; ở đây, do duyên cả hai khởi lên dục tham. Dục tham ở đây là kiết sử. Do vậy, Phạm hạnh đưa đến chơn chánh đoạn tận khổ đau có thể tuyên bố... Này Hiền giả, nếu ý là kiết sử của các pháp, hay các pháp là kiết sử của ý, thời Phạm hạnh này đưa đến chơn chánh đoạn tận khổ đau không thể tuyên bố. Vì rằng, ý không phải là kiết sử của các pháp, hay các pháp không phải là kiết sử của ý; ở đây, do duyên cả hai khởi lên dục tham. Dục tham ở đây là kiết sử. Do vậy, Phạm hạnh đưa đến chơn chánh đoạn tận khổ đau có thể tuyên bố.

7) Này Hiền giả, với pháp môn này cần phải hiểu biết như vậy. Mắt không phải là kiết sử của sắc. Sắc không phải là kiết sử của mắt; ở đây, do duyên cả hai khởi lên dục tham. Dục tham ở đây là kiết sử... Ý không phải là kiết sử của các pháp, các pháp không phải là kiết sử của mắt; ở đây, do duyên cả hai khởi lên dục tham. Dục tham ở đây là kiết sử.

8) Này Hiền giả, Thế Tôn có mắt. Với con mắt, Thế Tôn thấy sắc. Tham dục không có nơi Thế Tôn. Khéo giải thoát là tâm Thế Tôn... Này Hiền giả, Thế Tôn có ý. Với ý, Thế Tôn biết pháp. Tham dục không có nơi Thế Tôn. Khéo giải thoát là tâm Thế Tôn.

9) Này Hiền giả, với pháp môn này cần phải hiểu biết như vậy. Mắt không phải là kiết sử của các sắc, các sắc không phải là kiết sử của mắt; ở đây, do duyên cả hai khởi lên dục tham. Dục tham ở đây là kiết sử... Ý không phải là kiết sử của các pháp, các pháp không phải là kiết sử của ý; ở đây, do duyên cả hai khởi lên dục tham. Dục tham ở đây là kiết sử.

-ooOoo-