BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Tư, ngày 18 tháng 06, 2025

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập III – Chương 35. Tương Ưng Sáu Xứ - Phẩm Biển Cả- SN 35.234.
Bài 438. ĐỂ HIỂU VÀ CHẤP NHẬN LÝ VÔ NGÃ- Kinh Udāyī (Udāyīsuttaṃ).
Kinh Kāmabhūsuttaṃ - SN 35.233- tương tự như kinh trước chỉ khác là hai nhân vật vấn đáp Tôn giả Kàmabhù và Tôn  giả Ananda
****** http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-438.jpg









http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png

 

 

Vô ngã là một trong những giáo lý khó lãnh hội và chấp nhận ngay cả đối với người tin Phật. Một trong những cách hiểu là thấy được các pháp do nhân duyên mà thành thì cũng do nhân duyên mà hoại diệt. Con người thường khao khát đi tìm cái cốt lõi hay “chân ngã” trong lúc Phật pháp dạy rằng trong sự tụ tán của nhân duyên vốn không có sự hằng hữu như vậy. Hơn thế nữa, khi buông xả chấp ngã thì tâm tự tại; còn chấp ngã thì còn giao động. Đây không đơn thuần là lý luận mà liên hệ tới một thứ bản năng sâu kín trong mỗi chúng sinh.

KINH VĂN

234. ekaṃ samayaṃ āyasmā ca ānando āyasmā ca udāyī kosambiyaṃ viharanti ghositārāme. atha kho āyasmā udāyī sāyanhasamayaṃ paṭisallānā vuṭṭhito yenāyasmā ānando tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmatā ānandena saddhiṃ sammodi. sammodanīyaṃ kathaṃ sāraṇīyaṃ vītisāretvā ekamantaṃ nisīdi. ekamantaṃ nisinno kho āyasmā udāyī āyasmantaṃ ānandaṃ etadavoca

“yatheva nu kho, āvuso ānanda, ayaṃ kāyo bhagavatā anekapariyāyena akkhāto vivaṭo pakāsito — ‘itipāyaṃ kāyo anattā’ti, sakkā evameva viññāṇaṃ pidaṃ ācikkhituṃ desetuṃ paññapetuṃ paṭṭhapetuṃ vivarituṃ vibhajituṃ uttānīkātuṃ — ‘itipidaṃ viññāṇaṃ anattā’”ti?

 “yatheva kho, āvuso udāyī, ayaṃ kāyo bhagavatā anekapariyāyena akkhāto vivaṭo pakāsito — ‘itipāyaṃ kāyo anattā’ti, sakkā evameva viññāṇaṃ pidaṃ ācikkhituṃ desetuṃ paññapetuṃ paṭṭhapetuṃ vivarituṃ vibhajituṃ uttānīkātuṃ — ‘itipidaṃ viññāṇaṃ anattā’”ti.

 “cakkhuñca, āvuso, paṭicca rūpe ca uppajjati cakkhuviññāṇan”ti? “evamāvuso”ti. “yo cāvuso, hetu, yo ca paccayo cakkhuviññāṇassa uppādāya, so ca hetu, so ca paccayo sabbena sabbaṃ sabbathā sabbaṃ aparisesaṃ nirujjheyya. api nu kho cakkhuviññāṇaṃ paññāyethā”ti? “no hetaṃ, āvuso”. “imināpi kho etaṃ, āvuso, pariyāyena bhagavatā akkhātaṃ vivaṭaṃ pakāsitaṃ — ‘itipidaṃ viññāṇaṃ anattā’”ti ... pe ....

 “jivhañcāvuso, paṭicca rase ca uppajjati jivhāviññāṇan”ti? “evamāvuso”ti. “yo cāvuso, hetu yo ca paccayo jivhāviññāṇassa uppādāya, so ca hetu, so ca paccayo sabbena sabbaṃ sabbathā sabbaṃ aparisesaṃ nirujjheyya, api nu kho jivhāviññāṇaṃ paññāyethā”ti? “no hetaṃ, āvuso”. “imināpi kho etaṃ, āvuso, pariyāyena bhagavatā akkhātaṃ vivaṭaṃ pakāsitaṃ — ‘itipidaṃ viññāṇaṃ anattā’”ti ... pe ....

 “manañcāvuso, paṭicca dhamme ca uppajjati manoviññāṇan”ti? “evamāvuso”ti. “yo cāvuso, hetu, yo ca paccayo manoviññāṇassa uppādāya, so ca hetu, so ca paccayo sabbena sabbaṃ sabbathā sabbaṃ aparisesaṃ nirujjheyya, api nu kho manoviññāṇaṃ paññāyethā”ti? “no hetaṃ, āvuso”. “imināpi kho etaṃ, āvuso, pariyāyena bhagavatā akkhātaṃ vivaṭaṃ pakāsitaṃ — ‘itipidaṃ viññāṇaṃ anattā’”ti.

“seyyathāpi, āvuso, puriso sāratthiko sāragavesī sārapariyesanaṃ caramāno tiṇhaṃ kuṭhāriṃ ādāya vanaṃ paviseyya. so tattha passeyya mahantaṃ kadalikkhandhaṃ ujuṃ navaṃ akukkukajātaṃ {akukkuṭakajātaṃ (syā. kaṃ.), akukkajaṭajātaṃ (ka.)} . tamenaṃ mūle chindeyya; mūle chetvā agge chindeyya; agge chetvā pattavaṭṭiṃ vinibbhujeyya {vinibbhujjeyya (pī.), vinibbhajjeyya (syā. kaṃ.)} . so tattha pheggumpi nādhigaccheyya, kuto sāraṃ! evameva kho, āvuso, bhikkhu chasu phassāyatanesu nevattānaṃ na attaniyaṃ samanupassati. so evaṃ asamanupassanto {evaṃ samanupassanto (syā. kaṃ. ka.)} na kiñci loke upādiyati. anupādiyaṃ na paritassati. aparitassaṃ paccattaññeva parinibbāyati. ‘khīṇā jāti, vusitaṃ brahmacariyaṃ, kataṃ karaṇīyaṃ, nāparaṃ itthattāyā’ti pajānātī”ti. sattamaṃ.

234. Một thuở, Tôn giả Ānanda và Tôn giả Udāyī đang trú tại Kosambī, trong rừng Ghosita.

Vào buổi chiều, sau khi ra khỏi nơi tĩnh cư, Tôn giả Udāyī đi đến chỗ Tôn giả Ānanda. Sau khi chào hỏi và đàm đạo thân mật, Tôn giả Udāyī ngồi xuống một bên và thưa rằng:

“Này hiền hữu Ānanda, Thế Tôn đã trình bày, tuyên bố, và giải thích về sắc thân này bằng nhiều cách, rằng: ‘Do lý do như vậy, thân này là vô ngã.’ Vậy có thể nào giải thích tương tự như thế về tâm thức — có thể trình bày, tuyên bố, thiết lập, phân tích, và làm sáng tỏ rằng: ‘Do lý do như vậy, tâm thức là vô ngã’ chăng?”

[Tôn giả Ānanda đáp:]

“Có thể, này hiền hữu Udāyī. Này hiền hữu, chẳng phải nhãn thức khởi lên tùy thuộc vào con mắt và các sắc sao?”

“Đúng vậy, hiền hữu.”

“Nếu nhân và duyên cho sự sinh khởi của nhãn thức ấy hoàn toàn và triệt để chấm dứt, thì nhãn thức ấy có thể được nhận biết hay không?”

“Không thể, hiền hữu.”

“Như vậy, này hiền hữu, Thế Tôn đã trình bày và làm rõ rằng: ‘Do lý do như vậy, thức là vô ngã.’”

“Chẳng phải nhĩ thức sinh khởi tùy thuộc vào tai và âm thanh? … chẳng phải ý thức sinh khởi tùy thuộc vào tâm và các pháp trần sao?”

“Đúng vậy, hiền hữu.”

“Nếu nhân và duyên cho sự sinh khởi của ý thức ấy hoàn toàn chấm dứt, thì ý thức có thể được nhận biết không?”

“Không thể, hiền hữu.”

“Do vậy, này hiền hữu, điều này cũng đã được Thế Tôn tuyên bố và làm rõ rằng: ‘Vì lý do ấy, tâm thức là vô ngã.’”

 “Ví như một người đang cần lõi gỗ, tìm kiếm lõi gỗ, lang thang đi tìm lõi gỗ, mang theo rìu sắc vào rừng. Ở đó, người ấy thấy một thân cây chuối lớn, tươi, thẳng, không có lõi. Người ấy chặt đứt gốc, cắt bỏ ngọn, rồi bắt đầu lột từng lớp vỏ. Khi lột ra từng lớp, người ấy không thấy cả lõi mềm, nói gì đến lõi gỗ cứng.

“Cũng vậy, một vị Tỷ kheo không nhận thấy cái ‘ta’ hay cái gì thuộc về ‘ta’ trong sáu xứ (căn) xúc chạm. Vì không nhận thấy như vậy, vị ấy không chấp thủ bất cứ điều gì trên đời. Không chấp thủ, vị ấy không dao động. Không dao động, vị ấy chứng đạt Niết-bàn ngay trong đời này. Vị ấy hiểu rằng: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lui trạng thái hiện hữu nào nữa.’”

Chú Thích

Chữ thức - viññāṇa – trong bài kinh nầy đối nghĩa với “than” nên dịch là tâm thức.

Tôn giả Udāyī – Cũng được gọi là Lāludāyī (và Pandita Udāyī) để phân biệt với những vị khác cùng tên. Ông là con trai của một vị Bà-la-môn ở Kapilavatthu. Khi Đức Phật về thăm dòng họ của mình, Udāyī đã chứng kiến quyền năng và sự oai nghiêm của Ngài. Từ đó, Ngài xuất gia và theo thời gian đã chứng đạt quả A-la-hán. Khi Đức Phật thuyết giảng bài Kinh Nāgopama (xem A.iii.344 trở đi-Tăng chi bộ-tập 3 trang 344), vào dịp mà con voi Seta của vua Pasenadi được mọi người ca ngợi công khai, Udāyī đã vô cùng xúc động khi nghĩ về Đức Phật và đã thốt ra mười sáu bài kệ, ca ngợi những phẩm hạnh của Ngài, ví Đức Phật như một con voi vĩ đại và kỳ diệu (Trưởng Lão tăng kệ Thag.689–704; ThagA.ii.7 trở đi - ). Những bài kệ này cũng được ghi lại trong Tăng Chi Bộ Kinh (A.iii.346–347-tập 3 trang 346-347), tuy nhiên, trong phần chú giải (ii.669), những kệ ấy lại được quy cho Kāludāyī. Tương Ưng Bộ Kinh (S.iv.166 trở đi; một cuộc đối thoại khác với Ananda được nhắc ở Tăng Chi Bộ Kinh A.iv.426 trở đi) cũng ghi lại một cuộc trò chuyện giữa Udāyī và Ananda, trong đó Udāyī hỏi liệu thức (viññāṇa) cũng có thể được xem là vô ngã hay không. Trong một lần khác, Udāyī thảo luận với Pañcakanga về thọ (vedanā) (Trung Bộ M.i.396 trở đi-; Tương Ưng S.iv.223–224-; chú giải Tương Ưng SA.iii.86 và Chú giải Trung Bộ MA.ii.629 ở đây gọi Udāyī là “Pandita”). Ananda nghe được cuộc trò chuyện đó và kể lại với Đức Phật, người xác nhận rằng lời giải thích của Udāyī là đúng, mặc dù Pañcakanga không chấp nhận. Ở một đoạn khác (Tương Ưng S.v.86 trở đi), Udāyī được nhắc đến khi hỏi Đức Phật về bảy giác chi (bojjhaṅga). Một lần, tại Desaka (có thể là Setaka) thuộc xứ Sumbha, ông kể với Đức Phật cách ông tu tập bảy giác chi và nhờ đó đạt đến giải thoát tối hậu (Tương Ưng S.v.89). Tôn giả Udāyī rõ ràng là một vị giảng sư tài năng và cuốn hút, vì Ngài từng thuyết pháp cho những đám đông rất lớn, một công việc đòi hỏi tài năng phi thường, như chính Đức Phật đã nhận định khi nghe thuật lại (Tăng Chi Bộ A.iii.184).

Sớ Giải

231-233. catutthe appahīnaṭṭhena atthi, tenevāha so appahīnoti. parittāti, pabbatamattampi rūpaṃ aniṭṭhaṃ arajanīyaṃ parittaṃ nāma hoti, evarūpāpissa rūpā cittaṃ pariyādiyantīti dasseti. ko pana vādo adhimattānanti iṭṭhārammaṇaṃ panassa rajanīyaṃ vatthu cittaṃ pariyādiyatīti ettha kā kathā? ettha ca nakhapiṭṭhipamāṇampi maṇimuttādi rajanīyaṃ vatthu adhimattārammaṇamevāti veditabbaṃ. daharotiādīni tīṇipi aññamaññavevacanāneva. ābhindeyyāti pahareyya padāleyya vā. pañcame tadubhayanti taṃ ubhayaṃ. chaṭṭhaṃ uttānameva.

231–233. Trong bài kinh thứ tư (Catuttha), từ “chưa được đoạn trừ” (appahīnaṭṭhena) có nghĩa là “vẫn còn tồn tại”, do đó trong kinh nói rằng “vẫn chưa được đoạn trừ”.

Từ “nhỏ nhặt” (parittā) ở đây có nghĩa là: thậm chí một sắc to như núi, nhưng nếu đó là đối tượng không đáng ưa thích, không khả ái, không hấp dẫn thì vẫn được gọi là “nhỏ nhặt”; lời kinh muốn chỉ rằng ngay cả những sắc như vậy cũng có thể chiếm lấy tâm người nếu tham, sân, si vẫn chưa đoạn tận. Vậy thì, còn nói gì đến những đối tượng nổi bật, hấp dẫn? Tức là nếu đối tượng khả ái, thích hợp cho sự luyến ái, thì tâm chắc chắn bị chiếm đoạt – đó là ý nghĩa của câu “thì khỏi cần nói đến các sắc nổi bật hơn nữa” (ko pana vādo adhimattānanti).

Ở đây, cần hiểu rằng một vật nhỏ như đầu móng tay, nếu là đối tượng khả ái như ngọc quý, châu báu (maṇi, muttā), thì nó chính là một đối tượng nổi bật (adhimatta ārammaṇa).

Ba từ daharoti, tālapakkhandikoti, kumārakoti trong kinh (ý chỉ "trẻ nhỏ", "đứa bé", "thiếu niên") là những từ thay thế nhau, đồng nghĩa với nhau.

Ābhindeyya nghĩa là đập vỡ, bổ ra, hay chặt ra.

Trong bài kinh thứ năm (pañcamaṃ), cụm “tadubhayanti” có nghĩa là “cả hai điều đó”, tức là hai trạng thái: có phiền não và không có phiền não.

Bài kinh thứ sáu (chaṭṭhaṃ) thì ý nghĩa đã rõ ràng, không cần chú giải sâu.

 Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

192. VI. Kàmabhù (S.iv,165)

(Tôn giả Kàmabhù đi đến Tôn giả Ananda và hỏi cùng một câu và được trả lời tương tự như kinh trước).

193. VII. Udàyi (S.iv,166)

1) Một thời Tôn giả Ananda và Tôn giả Udàyi trú ở Kosambi, tại vườn Ghosita.

2) Rồi Tôn giả Udàyi, vào buổi chiều, từ chỗ tịnh cư đứng dậy, đi đến Tôn giả Ananda; sau khi đến nói lên với Tôn giả Ananda những lời chào đón hỏi thăm... rồi ngồi xuống một bên.

3) Ngồi xuống một bên, Tôn giả Udàyi thưa với Tôn giả Ananda:

-- Thưa Hiền giả Ananda, như Thế Tôn dùng nhiều phương tiện đã nói lên, đã khai mở, đã nêu rõ thân này là vô ngã. Có thể chăng, cũng như vậy tuyên bố, tuyên thuyết, tường thuyết, khai hiển, khai thị, phân biệt, minh hiển, minh thị rằng thức này cũng vô ngã?

-- Này Hiền giả Udàyi, như Thế Tôn dùng nhiều pháp môn đã nói lên, đã khai mở, đã nêu rõ thân này là vô ngã. Cũng như vậy, có thể tuyên bố, tuyên thuyết, tường thuyết, khai hiển, khai thị, phân biệt, minh hiển, minh thị rằng thức này cũng vô ngã.

4-8) Này Hiền giả, có phải do duyên mắt và các sắc khởi lên nhãn thức?

-- Thưa phải, Hiền giả.

-- Này Hiền giả, do nhân nào, do duyên nào khởi lên nhãn thức, nếu nhân ấy, nếu duyên ấy một cách toàn diện, dưới mọi hình thức, được đoạn diệt hoàn toàn, không có dư tàn, thời nhãn thức có thể nêu rõ được không?

-- Thưa không, Hiền giả.

-- Với pháp môn này, Thế Tôn đã tuyên thuyết, đã khai mở, đã nêu rõ thức này là vô ngã... Có phải do duyên tai và các tiếng khởi lên nhĩ thức?... Có phải do duyên mũi và các hương khởi lên tỷ thức?... Có phải do duyên lưỡi và các vị khởi lên thiệt thức?... Có phải do duyên thân và các xúc khởi lên thân thức?...

9) Này Hiền giả, có phải do duyên ý và các pháp khởi lên ý thức?

-- Thưa phải, Hiền giả.

-- Này Hiền giả, do nhân nào, do duyên nào khởi lên ý thức, nếu nhân ấy, nếu duyên ấy một cách toàn diện, dưới mọi hình thức, được đoạn diệt hoàn toàn, không có dư tàn, thời ý thức có thể nêu rõ được không?

-- Thưa không, Hiền giả.

-- Với pháp môn này, thưa Hiền giả, Thế Tôn đã tuyên thuyết, đã khai mở, đã nêu rõ thức này là vô ngã.

10) Ví như, này Hiền giả, một người cần dùng lõi cây, tìm cầu lõi cây, đi tìm lõi cây, cầm cây búa sắc bén đi vào trong rừng. Ở đấy, người này thấy một thân cây chuối lớn, thẳng, mới lớn và cao. Người ấy chặt đứt rễ cây, chặt đứt xong, người ấy chặt ngọn. Sau khi chặt ngọn, người ấy lột vỏ ngoài ra. Người ấy ở đây không tìm được giác cây, còn nói gì lõi cây.

11) Cũng vậy, này Hiền giả, Tỷ-kheo trong sáu xúc xứ, không quán thấy có tự ngã và thuộc ngã. Do thấy như vậy, vị ấy không chấp thủ một cái gì ở trong đời. Do không chấp thủ, vị ấy không tham luyến. Do không tham luyến, vị ấy tự mình hoàn toàn tịch tịnh. Vị ấy biết rõ: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa".

-ooOoo-