|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Tư, ngày 18 tháng 06, 2025
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Kinh Kāmabhūsuttaṃ - SN 35.233- tương tự như kinh trước chỉ khác là hai nhân vật vấn đáp Tôn giả Kàmabhù và Tôn giả Ananda ******
Vô ngã là một trong những giáo lý khó lãnh hội và
chấp nhận ngay cả đối với
người tin Phật. Một trong
những cách hiểu là thấy được
các pháp do nhân duyên mà
thành thì cũng do nhân duyên
mà hoại diệt. Con người
thường khao khát đi tìm cái
cốt lõi hay “chân ngã” trong
lúc Phật pháp dạy rằng trong
sự tụ tán của nhân duyên vốn
không có sự hằng hữu như
vậy. Hơn thế nữa, khi buông
xả chấp ngã thì tâm tự tại;
còn chấp ngã thì còn giao
động. Đây không đơn thuần là
lý luận mà liên hệ tới một
thứ bản năng sâu kín trong
mỗi chúng sinh.
KINH VĂN
234. ekaṃ samayaṃ āyasmā ca ānando āyasmā ca udāyī
kosambiyaṃ viharanti
ghositārāme. atha kho āyasmā
udāyī sāyanhasamayaṃ
paṭisallānā vuṭṭhito
yenāyasmā ānando
tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā
āyasmatā ānandena saddhiṃ
sammodi. sammodanīyaṃ kathaṃ
sāraṇīyaṃ vītisāretvā
ekamantaṃ nisīdi. ekamantaṃ
nisinno kho āyasmā udāyī
āyasmantaṃ ānandaṃ etadavoca
“yatheva nu kho, āvuso ānanda, ayaṃ kāyo bhagavatā
anekapariyāyena akkhāto
vivaṭo pakāsito — ‘itipāyaṃ
kāyo anattā’ti, sakkā
evameva viññāṇaṃ pidaṃ
ācikkhituṃ desetuṃ
paññapetuṃ paṭṭhapetuṃ
vivarituṃ vibhajituṃ
uttānīkātuṃ — ‘itipidaṃ
viññāṇaṃ anattā’”ti?
“yatheva kho, āvuso
udāyī, ayaṃ kāyo bhagavatā
anekapariyāyena akkhāto
vivaṭo pakāsito — ‘itipāyaṃ
kāyo anattā’ti, sakkā
evameva viññāṇaṃ pidaṃ
ācikkhituṃ desetuṃ
paññapetuṃ paṭṭhapetuṃ
vivarituṃ vibhajituṃ
uttānīkātuṃ — ‘itipidaṃ
viññāṇaṃ anattā’”ti.
“cakkhuñca, āvuso,
paṭicca rūpe ca uppajjati
cakkhuviññāṇan”ti?
“evamāvuso”ti. “yo cāvuso,
hetu, yo ca paccayo
cakkhuviññāṇassa uppādāya,
so ca hetu, so ca paccayo
sabbena sabbaṃ sabbathā
sabbaṃ aparisesaṃ
nirujjheyya. api nu kho
cakkhuviññāṇaṃ
paññāyethā”ti? “no hetaṃ,
āvuso”. “imināpi kho etaṃ,
āvuso, pariyāyena bhagavatā
akkhātaṃ vivaṭaṃ pakāsitaṃ —
‘itipidaṃ viññāṇaṃ
anattā’”ti ... pe ....
“jivhañcāvuso,
paṭicca rase ca uppajjati
jivhāviññāṇan”ti?
“evamāvuso”ti. “yo cāvuso,
hetu yo ca paccayo
jivhāviññāṇassa uppādāya, so
ca hetu, so ca paccayo
sabbena sabbaṃ sabbathā
sabbaṃ aparisesaṃ
nirujjheyya, api nu kho
jivhāviññāṇaṃ paññāyethā”ti?
“no hetaṃ, āvuso”. “imināpi
kho etaṃ, āvuso, pariyāyena
bhagavatā akkhātaṃ vivaṭaṃ
pakāsitaṃ — ‘itipidaṃ
viññāṇaṃ anattā’”ti ... pe
....
“manañcāvuso, paṭicca
dhamme ca uppajjati
manoviññāṇan”ti?
“evamāvuso”ti. “yo cāvuso,
hetu, yo ca paccayo
manoviññāṇassa uppādāya, so
ca hetu, so ca paccayo
sabbena sabbaṃ sabbathā
sabbaṃ aparisesaṃ
nirujjheyya, api nu kho
manoviññāṇaṃ paññāyethā”ti?
“no hetaṃ, āvuso”. “imināpi
kho etaṃ, āvuso, pariyāyena
bhagavatā akkhātaṃ vivaṭaṃ
pakāsitaṃ — ‘itipidaṃ
viññāṇaṃ anattā’”ti.
“seyyathāpi, āvuso, puriso sāratthiko sāragavesī
sārapariyesanaṃ caramāno
tiṇhaṃ kuṭhāriṃ ādāya vanaṃ
paviseyya. so tattha
passeyya mahantaṃ
kadalikkhandhaṃ ujuṃ navaṃ
akukkukajātaṃ
{akukkuṭakajātaṃ (syā.
kaṃ.), akukkajaṭajātaṃ
(ka.)} . tamenaṃ mūle
chindeyya; mūle chetvā agge
chindeyya; agge chetvā
pattavaṭṭiṃ vinibbhujeyya
{vinibbhujjeyya (pī.),
vinibbhajjeyya (syā. kaṃ.)}
. so tattha pheggumpi
nādhigaccheyya, kuto sāraṃ!
evameva kho, āvuso, bhikkhu
chasu phassāyatanesu
nevattānaṃ na attaniyaṃ
samanupassati. so evaṃ
asamanupassanto {evaṃ
samanupassanto (syā. kaṃ.
ka.)} na kiñci loke
upādiyati. anupādiyaṃ na
paritassati. aparitassaṃ
paccattaññeva parinibbāyati.
‘khīṇā jāti, vusitaṃ
brahmacariyaṃ, kataṃ
karaṇīyaṃ, nāparaṃ
itthattāyā’ti pajānātī”ti.
sattamaṃ.
234. Một
thuở, Tôn giả Ānanda và Tôn
giả Udāyī đang trú tại
Kosambī, trong rừng Ghosita.
Vào buổi chiều, sau khi ra khỏi nơi tĩnh cư, Tôn giả Udāyī đi đến chỗ Tôn
giả Ānanda. Sau khi chào hỏi
và đàm đạo thân mật, Tôn giả
Udāyī ngồi xuống một bên và
thưa rằng:
“Này hiền hữu Ānanda, Thế Tôn đã trình bày, tuyên bố, và giải thích về sắc
thân này bằng nhiều cách,
rằng: ‘Do lý do như vậy,
thân này là vô ngã.’ Vậy có
thể nào giải thích tương tự
như thế về tâm thức — có thể
trình bày, tuyên bố, thiết
lập, phân tích, và làm sáng
tỏ rằng: ‘Do lý do như vậy,
tâm thức là vô ngã’ chăng?”
[Tôn giả Ānanda đáp:]
“Có thể, này hiền hữu Udāyī. Này hiền hữu, chẳng phải nhãn thức khởi lên
tùy thuộc vào con mắt và các
sắc sao?”
“Đúng vậy, hiền hữu.”
“Nếu nhân và duyên cho sự sinh khởi của nhãn thức ấy hoàn toàn và triệt để
chấm dứt, thì nhãn thức ấy
có thể được nhận biết hay
không?”
“Không thể, hiền hữu.”
“Như vậy, này hiền hữu, Thế Tôn đã trình bày và làm rõ rằng: ‘Do lý do như
vậy, thức là vô ngã.’”
“Chẳng phải nhĩ thức sinh khởi tùy thuộc vào tai và âm thanh? … chẳng phải
ý thức sinh khởi tùy thuộc
vào tâm và các pháp trần
sao?”
“Đúng vậy, hiền hữu.”
“Nếu nhân và duyên cho sự sinh khởi của ý thức ấy hoàn toàn chấm dứt, thì
ý thức có thể được nhận biết
không?”
“Không thể, hiền hữu.”
“Do vậy, này hiền hữu, điều này cũng đã được Thế Tôn tuyên bố và làm rõ
rằng: ‘Vì lý do ấy, tâm thức
là vô ngã.’”
“Ví như một người đang cần lõi gỗ,
tìm kiếm lõi gỗ, lang thang
đi tìm lõi gỗ, mang theo rìu
sắc vào rừng. Ở đó, người ấy
thấy một thân cây chuối lớn,
tươi, thẳng, không có lõi.
Người ấy chặt đứt gốc, cắt
bỏ ngọn, rồi bắt đầu lột
từng lớp vỏ. Khi lột ra từng
lớp, người ấy không thấy cả
lõi mềm, nói gì đến lõi gỗ
cứng.
“Cũng vậy, một vị Tỷ kheo không nhận thấy cái ‘ta’ hay cái gì thuộc về
‘ta’ trong sáu xứ (căn) xúc
chạm. Vì không nhận thấy như
vậy, vị ấy không chấp thủ
bất cứ điều gì trên đời.
Không chấp thủ, vị ấy không
dao động. Không dao động, vị
ấy chứng đạt Niết-bàn ngay
trong đời này. Vị ấy hiểu
rằng: ‘Sanh đã tận, phạm
hạnh đã thành, việc cần làm
đã làm xong, không còn trở
lui trạng thái hiện hữu nào
nữa.’”
Chú Thích
Chữ thức - viññāṇa – trong bài kinh nầy đối nghĩa với “than” nên dịch là
tâm thức.
Tôn giả Udāyī – Cũng được gọi là Lāludāyī (và Pandita Udāyī) để phân biệt
với những vị khác cùng tên.
Ông là con trai của một vị
Bà-la-môn ở Kapilavatthu.
Khi Đức Phật về thăm dòng họ
của mình, Udāyī đã chứng
kiến quyền năng và sự oai
nghiêm của Ngài. Từ đó, Ngài
xuất gia và theo thời gian
đã chứng đạt quả A-la-hán.
Khi Đức Phật thuyết giảng
bài Kinh Nāgopama (xem
A.iii.344 trở đi-Tăng chi
bộ-tập 3 trang 344), vào dịp
mà con voi Seta của vua
Pasenadi được mọi người ca
ngợi công khai, Udāyī đã vô
cùng xúc động khi nghĩ về
Đức Phật và đã thốt ra mười
sáu bài kệ, ca ngợi những
phẩm hạnh của Ngài, ví Đức
Phật như một con voi vĩ đại
và kỳ diệu (Trưởng Lão tăng kệ Thag.689–704;
ThagA.ii.7 trở đi - ). Những
bài kệ này cũng được ghi lại
trong Tăng Chi Bộ Kinh
(A.iii.346–347-tập 3 trang
346-347), tuy nhiên,
trong phần chú giải
(ii.669), những kệ ấy lại
được quy cho Kāludāyī. Tương
Ưng Bộ Kinh (S.iv.166 trở
đi; một cuộc đối thoại khác
với Ananda được nhắc ở
Tăng Chi Bộ Kinh A.iv.426 trở đi) cũng ghi
lại một cuộc trò chuyện giữa
Udāyī và Ananda, trong đó
Udāyī hỏi liệu thức
(viññāṇa) cũng có thể được
xem là vô ngã hay không.
Trong một lần khác, Udāyī
thảo luận với Pañcakanga về
thọ (vedanā) (Trung Bộ M.i.396 trở
đi-;
Tương Ưng S.iv.223–224-; chú giải
Tương Ưng SA.iii.86 và Chú
giải Trung Bộ MA.ii.629 ở đây
gọi Udāyī là “Pandita”).
Ananda nghe được cuộc trò
chuyện đó và kể lại với Đức
Phật, người xác nhận rằng
lời giải thích của Udāyī là
đúng, mặc dù Pañcakanga
không chấp nhận. Ở một đoạn
khác (Tương Ưng S.v.86 trở đi), Udāyī
được nhắc đến khi hỏi Đức
Phật về bảy giác chi
(bojjhaṅga). Một lần, tại
Desaka (có thể là Setaka)
thuộc xứ Sumbha, ông kể với
Đức Phật cách ông tu tập bảy
giác chi và nhờ đó đạt đến
giải thoát tối hậu (Tương
Ưng S.v.89).
Tôn giả Udāyī rõ ràng là một
vị giảng sư tài năng và cuốn
hút, vì Ngài từng thuyết
pháp cho những đám đông rất
lớn, một công việc đòi hỏi
tài năng phi thường, như
chính Đức Phật đã nhận định
khi nghe thuật lại
(Tăng Chi Bộ A.iii.184).
Sớ Giải
231-233. catutthe appahīnaṭṭhena atthi, tenevāha so
appahīnoti. parittāti,
pabbatamattampi rūpaṃ
aniṭṭhaṃ arajanīyaṃ parittaṃ
nāma hoti, evarūpāpissa rūpā
cittaṃ pariyādiyantīti
dasseti. ko pana vādo
adhimattānanti iṭṭhārammaṇaṃ
panassa rajanīyaṃ vatthu
cittaṃ pariyādiyatīti ettha
kā kathā? ettha ca
nakhapiṭṭhipamāṇampi
maṇimuttādi rajanīyaṃ vatthu
adhimattārammaṇamevāti
veditabbaṃ. daharotiādīni
tīṇipi
aññamaññavevacanāneva.
ābhindeyyāti pahareyya
padāleyya vā. pañcame
tadubhayanti taṃ ubhayaṃ.
chaṭṭhaṃ uttānameva.
231–233. Trong bài kinh thứ tư (Catuttha), từ
“chưa được đoạn trừ”
(appahīnaṭṭhena) có nghĩa là
“vẫn còn tồn tại”, do đó
trong kinh nói rằng “vẫn
chưa được đoạn trừ”.
Từ “nhỏ nhặt” (parittā) ở đây có nghĩa là: thậm chí một sắc to như núi,
nhưng nếu đó là đối tượng
không đáng ưa thích, không
khả ái, không hấp dẫn thì
vẫn được gọi là “nhỏ nhặt”;
lời kinh muốn chỉ rằng ngay
cả những sắc như vậy cũng có
thể chiếm lấy tâm người nếu
tham, sân, si vẫn chưa đoạn
tận. Vậy thì, còn nói gì đến
những đối tượng nổi bật, hấp
dẫn? Tức là nếu đối tượng
khả ái, thích hợp cho sự
luyến ái, thì tâm chắc chắn
bị chiếm đoạt – đó là ý
nghĩa của câu “thì khỏi cần
nói đến các sắc nổi bật hơn
nữa” (ko pana vādo
adhimattānanti).
Ở đây, cần hiểu rằng một vật nhỏ như đầu móng tay, nếu là đối tượng khả ái
như ngọc quý, châu báu
(maṇi, muttā), thì nó chính
là một đối tượng nổi bật
(adhimatta ārammaṇa).
Ba từ daharoti, tālapakkhandikoti, kumārakoti trong kinh (ý chỉ "trẻ nhỏ",
"đứa bé", "thiếu niên") là
những từ thay thế nhau, đồng
nghĩa với nhau.
Ābhindeyya nghĩa là đập vỡ, bổ ra, hay chặt ra.
Trong bài kinh thứ năm (pañcamaṃ), cụm
“tadubhayanti” có nghĩa là
“cả hai điều đó”, tức là hai
trạng thái: có phiền não và
không có phiền não.
Bài kinh thứ sáu (chaṭṭhaṃ) thì ý
nghĩa đã rõ ràng, không cần
chú giải sâu.
Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu
192. VI. Kàmabhù (S.iv,165)
(Tôn giả Kàmabhù đi đến Tôn giả
Ananda và hỏi cùng một câu
và được trả lời tương tự như
kinh trước).
193. VII. Udàyi (S.iv,166)
1) Một thời Tôn giả Ananda và Tôn giả Udàyi trú ở Kosambi,
tại vườn Ghosita.
2) Rồi Tôn giả Udàyi, vào buổi chiều, từ chỗ tịnh cư đứng
dậy, đi đến Tôn giả Ananda;
sau khi đến nói lên với Tôn
giả Ananda những lời chào
đón hỏi thăm... rồi ngồi
xuống một bên.
3) Ngồi xuống một bên, Tôn giả Udàyi thưa với Tôn giả
Ananda:
-- Thưa Hiền giả Ananda, như Thế Tôn dùng nhiều phương tiện
đã nói lên, đã khai mở, đã
nêu rõ thân này là vô ngã.
Có thể chăng, cũng như vậy
tuyên bố, tuyên thuyết,
tường thuyết, khai hiển,
khai thị, phân biệt, minh
hiển, minh thị rằng thức này
cũng vô ngã?
-- Này Hiền giả Udàyi, như Thế Tôn dùng nhiều pháp môn đã
nói lên, đã khai mở, đã nêu
rõ thân này là vô ngã. Cũng
như vậy, có thể tuyên bố,
tuyên thuyết, tường thuyết,
khai hiển, khai thị, phân
biệt, minh hiển, minh thị
rằng thức này cũng vô ngã.
4-8) Này Hiền giả, có phải do duyên mắt và các sắc khởi lên
nhãn thức?
-- Thưa phải, Hiền giả.
-- Này Hiền giả, do nhân nào, do duyên nào khởi lên nhãn
thức, nếu nhân ấy, nếu duyên
ấy một cách toàn diện, dưới
mọi hình thức, được đoạn
diệt hoàn toàn, không có dư
tàn, thời nhãn thức có thể
nêu rõ được không?
-- Thưa không, Hiền giả.
-- Với pháp môn này, Thế Tôn đã tuyên thuyết, đã khai mở, đã
nêu rõ thức này là vô ngã...
Có phải do duyên tai và các
tiếng khởi lên nhĩ thức?...
Có phải do duyên mũi và các
hương khởi lên tỷ thức?...
Có phải do duyên lưỡi và các
vị khởi lên thiệt thức?...
Có phải do duyên thân và các
xúc khởi lên thân thức?...
9) Này Hiền giả, có phải do duyên ý và các pháp khởi lên ý
thức?
-- Thưa phải, Hiền giả.
-- Này Hiền giả, do nhân nào, do duyên nào khởi lên ý thức,
nếu nhân ấy, nếu duyên ấy
một cách toàn diện, dưới mọi
hình thức, được đoạn diệt
hoàn toàn, không có dư tàn,
thời ý thức có thể nêu rõ
được không?
-- Thưa không, Hiền giả.
-- Với pháp môn này, thưa Hiền giả, Thế Tôn đã tuyên thuyết,
đã khai mở, đã nêu rõ thức
này là vô ngã.
10) Ví như, này Hiền giả, một người cần dùng lõi cây, tìm
cầu lõi cây, đi tìm lõi cây,
cầm cây búa sắc bén đi vào
trong rừng. Ở đấy, người này
thấy một thân cây chuối lớn,
thẳng, mới lớn và cao. Người
ấy chặt đứt rễ cây, chặt đứt
xong, người ấy chặt ngọn.
Sau khi chặt ngọn, người ấy
lột vỏ ngoài ra. Người ấy ở
đây không tìm được giác cây,
còn nói gì lõi cây.
11) Cũng vậy, này Hiền giả, Tỷ-kheo trong sáu xúc xứ, không
quán thấy có tự ngã và thuộc
ngã. Do thấy như vậy, vị ấy
không chấp thủ một cái gì ở
trong đời. Do không chấp
thủ, vị ấy không tham luyến.
Do không tham luyến, vị ấy
tự mình hoàn toàn tịch tịnh.
Vị ấy biết rõ: "Sanh đã tận,
Phạm hạnh đã thành, những
việc nên làm đã làm, không
còn trở lui trạng thái này
nữa". -ooOoo- |