|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Năm, ngày 19 tháng 06, 2025
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
... ******
KINH VĂN
235. “ādittapariyāyaṃ vo,
bhikkhave, dhammapariyāyaṃ
desessāmi. taṃ suṇātha.
katamo ca, bhikkhave,
ādittapariyāyo,
dhammapariyāyo? varaṃ,
bhikkhave, tattāya
ayosalākāya ādittāya
sampajjalitāya sajotibhūtāya
{sañjotibhūtāya (syā. kaṃ.)}
cakkhundriyaṃ
sampalimaṭṭhaṃ, na tveva
cakkhuviññeyyesu rūpesu
anubyañjanaso nimittaggāho.
nimittassādagathitaṃ
{nimittassādagadhitaṃ (syā.
kaṃ. ka.) ma. ni. 3.316-317}
vā, bhikkhave, viññāṇaṃ
tiṭṭhamānaṃ tiṭṭheyya,
anubyañjanassādagathitaṃ vā
tasmiñce samaye kālaṃ
kareyya, ṭhānametaṃ vijjati,
yaṃ dvinnaṃ gatīnaṃ
aññataraṃ gatiṃ gaccheyya —
nirayaṃ vā, tiracchānayoniṃ
vā. imaṃ khvāhaṃ, bhikkhave,
ādīnavaṃ disvā evaṃ vadāmi.
“varaṃ, bhikkhave, tiṇhena ayosaṅkunā ādittena
sampajjalitena sajotibhūtena
sotindriyaṃ sampalimaṭṭhaṃ,
na tveva sotaviññeyyesu
saddesu anubyañjanaso
nimittaggāho.
nimittassādagathitaṃ vā,
bhikkhave, viññāṇaṃ
tiṭṭhamānaṃ tiṭṭheyya,
anubyañjanassādagathitaṃ vā
tasmiñce samaye
kālaṅkareyya, ṭhānametaṃ
vijjati, yaṃ dvinnaṃ gatīnaṃ
aññataraṃ gatiṃ gaccheyya —
nirayaṃ vā tiracchānayoniṃ
vā. imaṃ khvāhaṃ, bhikkhave,
ādīnavaṃ disvā evaṃ vadāmi.
“varaṃ, bhikkhave, tiṇhena nakhacchedanena ādittena
sampajjalitena sajotibhūtena
ghānindriyaṃ sampalimaṭṭhaṃ,
na tveva ghānaviññeyyesu
gandhesu anubyañjanaso
nimittaggāho.
nimittassādagathitaṃ vā,
bhikkhave, viññāṇaṃ
tiṭṭhamānaṃ tiṭṭheyya,
anubyañjanassādagathitaṃ vā
tasmiñce samaye kālaṃ
kareyya. ṭhānametaṃ vijjati,
yaṃ dvinnaṃ gatīnaṃ
aññataraṃ gatiṃ gaccheyya —
nirayaṃ vā tiracchānayoniṃ
vā. imaṃ khvāhaṃ, bhikkhave,
ādīnavaṃ disvā evaṃ vadāmi.
“varaṃ, bhikkhave, tiṇhena khurena ādittena sampajjalitena
sajotibhūtena jivhindriyaṃ
sampalimaṭṭhaṃ, na tveva
jivhāviññeyyesu rasesu
anubyañjanaso nimittaggāho.
nimittassādagathitaṃ vā,
bhikkhave, viññāṇaṃ
tiṭṭhamānaṃ tiṭṭheyya,
anubyañjanassādagathitaṃ vā
tasmiñce samaye kālaṃ
kareyya. ṭhānametaṃ vijjati,
yaṃ dvinnaṃ gatīnaṃ
aññataraṃ gatiṃ gaccheyya —
nirayaṃ vā tiracchānayoniṃ
vā. imaṃ khvāhaṃ, bhikkhave,
ādīnavaṃ disvā evaṃ vadāmi.
“varaṃ, bhikkhave, tiṇhāya sattiyā ādittāya sampajjalitāya
sajotibhūtāya kāyindriyaṃ
sampalimaṭṭhaṃ, na tveva
kāyaviññeyyesu phoṭṭhabbesu
anubyañjanaso nimittaggāho.
nimittassādagathitaṃ vā,
bhikkhave, viññāṇaṃ
tiṭṭhamānaṃ tiṭṭheyya,
anubyañjanassādagathitaṃ vā
tasmiñce samaye kālaṃ
kareyya. ṭhānametaṃ vijjati,
yaṃ dvinnaṃ gatīnaṃ
aññataraṃ gatiṃ gaccheyya —
nirayaṃ vā tiracchānayoniṃ
vā. imaṃ khvāhaṃ, bhikkhave,
ādīnavaṃ disvā evaṃ vadāmi.
“varaṃ, bhikkhave, sottaṃ. sottaṃ kho panāhaṃ, bhikkhave,
vañjhaṃ jīvitānaṃ vadāmi,
aphalaṃ jīvitānaṃ vadāmi,
momūhaṃ jīvitānaṃ vadāmi, na
tveva tathārūpe vitakke
vitakkeyya yathārūpānaṃ
vitakkānaṃ vasaṃ gato
saṅghaṃ bhindeyya. imaṃ
khvāhaṃ, bhikkhave, vañjhaṃ
jīvitānaṃ ādīnavaṃ disvā
evaṃ vadāmi.
“tattha, bhikkhave, sutavā ariyasāvako iti paṭisañcikkhati —
‘tiṭṭhatu tāva tattāya
ayosalākāya ādittāya
sampajjalitāya sajotibhūtāya
cakkhundriyaṃ
sampalimaṭṭhaṃ. handāhaṃ
idameva manasi karomi — iti
cakkhu aniccaṃ, rūpā aniccā,
cakkhuviññāṇaṃ aniccaṃ,
cakkhusamphasso anicco,
yampidaṃ
cakkhusamphassapaccayā
uppajjati vedayitaṃ sukhaṃ
vā dukkhaṃ vā
adukkhamasukhaṃ vā tampi
aniccaṃ’” {aniccan””ti (?)}
.
“tiṭṭhatu tāva tiṇhena ayosaṅkunā ādittena sampajjalitena
sajotibhūtena sotindriyaṃ
sampalimaṭṭhaṃ. handāhaṃ
idameva manasi karomi — iti
sotaṃ aniccaṃ, saddā aniccā,
sotaviññāṇaṃ aniccaṃ,
sotasamphasso anicco,
yampidaṃ
sotasamphassapaccayā
uppajjati vedayitaṃ sukhaṃ
vā dukkhaṃ vā
adukkhamasukhaṃ vā tampi
aniccaṃ.
“tiṭṭhatu tāva tiṇhena nakhacchedanena ādittena
sampajjalitena sajotibhūtena
ghānindriyaṃ sampalimaṭṭhaṃ.
handāhaṃ idameva manasi
karomi — iti ghānaṃ aniccaṃ,
gandhā aniccā, ghānaviññāṇaṃ
aniccaṃ, ghānasamphasso
anicco, yampidaṃ
ghānasamphassapaccayā
uppajjati vedayitaṃ ... pe
... tampi aniccaṃ.
“tiṭṭhatu tāva tiṇhena khurena ādittena sampajjalitena
sajotibhūtena jivhindriyaṃ
sampalimaṭṭhaṃ. handāhaṃ
idameva manasi karomi — iti
jivhā aniccā, rasā aniccā,
jivhāviññāṇaṃ aniccaṃ,
jivhāsamphasso anicco,
yampidaṃ
jivhāsamphassapaccayā
uppajjati ... pe ... tampi
aniccaṃ.
“tiṭṭhatu tāva tiṇhāya sattiyā ādittāya sampajjalitāya
sajotibhūtāya kāyindriyaṃ
sampalimaṭṭhaṃ. handāhaṃ
idameva manasi karomi — iti
kāyo anicco, phoṭṭhabbā
aniccā, kāyaviññāṇaṃ
aniccaṃ, kāyasamphasso
anicco, yampidaṃ
kāyasamphassapaccayā
uppajjati vedayitaṃ ... pe
... tampi aniccaṃ.
“tiṭṭhatu tāva sottaṃ. handāhaṃ idameva manasi karomi — iti
mano anicco, dhammā aniccā,
manoviññāṇaṃ aniccaṃ,
manosamphasso anicco,
yampidaṃ
manosamphassapaccayā
uppajjati vedayitaṃ sukhaṃ
vā dukkhaṃ vā
adukkhamasukhaṃ vā tampi
aniccaṃ”. “evaṃ passaṃ, bhikkhave, sutavā ariyasāvako cakkhusmimpi nibbindati, rūpesupi nibbindati, cakkhuviññāṇepi nibbindati, cakkhusamphassepi nibbindati ... pe ... yampidaṃ manosamphassapaccayā uppajjati vedayitaṃ sukhaṃ vā dukkhaṃ vā adukkhamasukhaṃ vā tasmimpi nibbindati. nibbindaṃ virajjati; virāgā vimuccati; vimuttasmiṃ vimuttamiti ñāṇaṃ hoti. ‘khīṇā jāti, vusitaṃ brahmacariyaṃ, kataṃ karaṇīyaṃ, nāparaṃ itthattāyā’ti pajānāti. ayaṃ kho, bhikkhave, ādittapariyāyo, dhammapariyāyo”ti. aṭṭhamaṃ.
235.
Pháp
Thoại về Lửa Cháy
“Này chư Tỳ khưu, Ta sẽ thuyết giảng cho các Thầy một thời pháp về đề tài
‘lửa cháy’. Hãy lắng nghe…
“Và này chư Tỳ khưu, thế nào là pháp thoại về đề tài lửa cháy? Sẽ tốt hơn,
này chư Tỳ khưu, nếu con mắt
bị đâm thủng bởi một cái
đinh sắt nung đỏ, đang cháy
rực và sáng rực, còn hơn là
chấp thủ tướng qua các đặc
điểm trong sắc được mắt nhận
biết. Vì nếu thức tâm chấp
vào sự tham luyến nơi tướng
hoặc các đặc điểm, và nếu
vào lúc đó người ấy mệnh
chung, thì có khả năng sẽ
tái sinh vào một trong hai
cõi: địa ngục hoặc súc sinh.
Vì thấy rõ hiểm họa này, Ta
nói như vậy.
“Sẽ tốt hơn, này chư Tỳ khưu, nếu lỗ tai bị đâm thủng bởi một cây sắt nhọn
cháy đỏ, còn hơn là chấp thủ
tướng qua các đặc điểm trong
âm thanh được tai nhận biết…
Vì thấy rõ hiểm họa này, Ta
nói như vậy.
“Sẽ tốt hơn, này chư Tỳ khưu, nếu mũi bị đâm bởi một cái kềm cắt móng cháy
đỏ, còn hơn là chấp thủ
tướng qua các đặc điểm trong
mùi hương được mũi nhận
biết… Vì thấy rõ hiểm họa
này, Ta nói như vậy.
“Sẽ tốt hơn, này chư Tỳ khưu, nếu lưỡi bị cắt bởi một lưỡi dao cạo sắc bén
đang cháy đỏ, còn hơn là
chấp thủ tướng qua các đặc
điểm trong vị được lưỡi nhận
biết… Vì thấy rõ hiểm họa
này, Ta nói như vậy.
“Sẽ tốt hơn, này chư Tỳ khưu, nếu thân bị đâm bởi một cây giáo nhọn đang
cháy đỏ, còn hơn là chấp thủ
tướng qua các đặc điểm trong
xúc chạm được thân nhận
biết… Vì thấy rõ hiểm họa
này, Ta nói như vậy.
“Sẽ tốt hơn, này chư Tỳ khưu, nếu ngủ – vì ngủ, Ta nói, là cằn cỗi đối với
người sống, là vô ích đối
với người sống, là vô tri
đối với người sống – còn hơn
là khởi lên những tư duy
khiến người bị chúng khống
chế sẽ gây chia rẽ trong
Tăng đoàn. Vì thấy rõ hiểm
họa này, Ta nói như vậy.
“Về điều này, này chư Tỳ khưu, vị đệ tử cao quý có
học hiểu quán chiếu như
sau:
‘Hãy để qua một bên việc đâm tai bằng cây sắt cháy đỏ… Tai là vô thường,
âm thanh là vô thường, nhĩ
thức là vô thường, nhĩ xúc
là vô thường, và cảm thọ do
nhĩ xúc làm duyên cũng là vô
thường.’
‘Hãy để qua một bên việc đâm mũi bằng kềm cắt móng cháy đỏ… Mũi là vô
thường, mùi hương là vô
thường, tị thức là vô
thường, tị xúc là vô thường,
và cảm thọ do tị xúc làm
duyên cũng là vô thường.’
‘Hãy để qua một bên việc cắt lưỡi bằng dao cạo cháy đỏ… Lưỡi là vô thường,
vị là vô thường, thiệt thức
là vô thường, thiệt xúc là
vô thường, và cảm thọ do
thiệt xúc làm duyên cũng là
vô thường.’
‘Hãy để qua một bên việc đâm thân bằng giáo cháy đỏ… Thân là vô thường,
xúc trần là vô thường, thân
thức là vô thường, thân xúc
là vô thường, và cảm thọ do
thân xúc làm duyên cũng là
vô thường.’
‘Hãy để qua một bên việc ngủ. Ta chỉ cần quán chiếu điều này: Ý là vô
thường, pháp là vô thường, ý
thức là vô thường, ý xúc là
vô thường, và cảm thọ do ý
xúc làm duyên cũng là vô
thường.’
“Thấy rõ như vậy, này chư Tỳ khưu, vị đệ tử cao quý có học hiểu sẽ khởi
tâm nhàm chán (nibbidā) đối
với con mắt, sắc, nhãn thức,
nhãn xúc và tất cả cảm thọ
do nhãn xúc làm duyên – dù
lạc, khổ hay trung tính… đối
với tâm, pháp, ý thức, ý xúc
và các cảm thọ tương ứng…
Khi đã nhàm chán, vị ấy trở
nên ly tham (virāga). Nhờ ly
tham, tâm được giải thoát.
Khi tâm đã được giải thoát,
vị ấy biết rằng: ‘Tâm ta đã
giải thoát.’ Vị ấy hiểu rõ:
‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã
thành, việc cần làm đã làm
xong, không còn trở lại
trạng thái hiện hữu này
nữa.’
“Này chư Tỳ khưu, đây là huấn thị về đề tài lửa cháy.”
Chú Thích
Đối với hành giả tu tập thì những nội dung như bài kinh nầy là một so sánh
giữa cái khổ trước mắt và
cái khổ sâu xa. Đa phần
chúng sanh có cái nhìn cạn
hẹp. Những bậc giác ngộ mới
thấu triệt cái khổ sâu kín
của kiếp trầm luân.
Phần đầu bài kinh là sự tỷ giảo. Phần sau nói về phương cách vượt thoát
bằng sự quán chiếu vô
thường. Bài kinh nầy khẳng
định hành động tích cực bằng
cách tác động tuệ giác chứ
không phải chỉ là sự sợ hãi
pham tình.
Sự giải đãi là một trong những yếu tố then chốt dẫn đến thối thất trong
hành trình tu tập. Sự chiêm
nghiệm hệ quả nguy hiểm to
lớn như nội dung huấn thị
của Đức Phật tạo nên quyết
tâm mạnh mẽ trong sự hướng
cầu giác ngộ giải thoát.
Sớ Giải
235. aṭṭhame
anubyañjanaso nimittaggāhoti
“hatthā sobhanā pādā
sobhanā”ti evaṃ
anubyañjanavasena
nimittaggāho. nimittaggāhoti
hi saṃsandetvā gahaṇaṃ,
anubyañjanaggāhoti
vibhattigahaṇaṃ.
nimittaggāho kumbhīlasadiso
sabbameva gaṇhāti,
anubyañjanaggāho
rattapāsadiso vibhajitvā
hatthapādādīsu taṃ taṃ
koṭṭhāsaṃ. ime pana dve gāhā
ekajavanavārepi labbhanti,
nānājavanavāre vattabbameva
natthi.
nimittassādagathitanti nimittassādena ganthitaṃ baddhaṃ.
viññāṇanti kammaviññāṇaṃ.
tasmiṃ ce samaye kālaṃ
kareyyāti na koci
saṃkiliṭṭhena cittena kālaṃ
karonto nāma atthi.
sabbasattānañhi bhavaṅgeneva
kālakiriyā hoti.
kilesabhayaṃ pana dassento
evamāha. samayavasena vā
evaṃ vuttaṃ.
cakkhudvārasmiñhi āpāthagate
ārammaṇe rattacittaṃ vā
duṭṭhacittaṃ vā mūḷhacittaṃ
vā ārammaṇarasaṃ anubhavitvā
bhavaṅgaṃ otarati, bhavaṅge
ṭhatvā kālakiriyaṃ karoti.
tasmiṃ samaye kālaṃ
karontassa dveva gatiyo
pāṭikaṅkhā, imassa samayassa
vasenetaṃ vuttaṃ.
imaṃ khvāhaṃ, bhikkhave, ādīnavanti imaṃ anekāni
vassasatasahassāni niraye
anubhavitabbaṃ dukkhaṃ
sampassamāno evaṃ vadāmi
tattāya ayosalākāya akkhīni
añjāpetukāmoti. iminā nayena
sabbattha attho veditabbo.
ayosaṅkunāti ayasūlena.
sampalimaṭṭhanti dvepi
kaṇṇacchiddāni vinivijjhitvā
pathaviyaṃ ākoṭanavasena
sampalimaṭṭhaṃ.
tatiyavāre sampalimaṭṭhanti nakhacchedanaṃ pavesetvā
ukkhipitvā sahadhunaṭṭhena
chinditvā pātanavasena
sampalimaṭṭhaṃ. catutthavāre
sampalimaṭṭhanti
bandhanamūlaṃ chetvā
pātanavasena sampalimaṭṭhaṃ.
pañcamavāre sampalimaṭṭhanti
tikhiṇāya sattiyā
kāyapasādaṃ uppāṭetvā
patanavasena sampalimaṭṭhaṃ.
sattiyāti ettha mahatī
daṇḍakavāsi veditabbā.
sottanti nipajjitvā
niddokkamanaṃ. yathārūpānaṃ
vitakkānaṃ vasaṃ gato
saṅghaṃ bhindeyyāti iminā
vitakkānaṃ yāva saṅghabhedā
pāpakammāvahanatā dassitā.
sesamettha uttānameva.
"aṭṭhame anubyañjanaso nimittaggāhoti": Ở bài kinh thứ tám, "nắm bắt
tướng" (nimittaggāha) xảy ra
thông qua các chi tiết phụ
(anubyañjana). Ví dụ như:
“Tay đẹp, chân đẹp” – tức là
nắm bắt qua các đặc điểm chi
tiết.
Cả hai loại nắm bắt này đều có thể xảy ra trong cùng một công đoạn tâm xử
lý (ekajavana-vāra), và
không cần phải phân chia
thành những sát-na khác nhau
(nānā-javana-vāra).
"nimittassādagathitaṃ" – tức là
bị trói buộc bởi sự ưa thích
nơi tướng (nimitta), bị cuốn
chặt vào.
Quá trình chết trong trường hợp ấy như sau:
“imaṃ khvāhaṃ, bhikkhave, ādīnavaṃ” – "Này chư
Tỳ khưu, Ta nói vậy là vì
thấy rõ hiểm họa này":
Các tầng mức đau đớn theo các đoạn tiếp theo:
“sottaṃ” – ngủ, là nằm xuống và rơi vào trạng
thái không tỉnh thức (vô
tri).
Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu
194. VIII. Với Lửa Cháy (S.iv,168)
1) -- Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông về pháp môn
lửa cháy, pháp môn Chánh
pháp. Hãy lắng nghe. Và này
các Tỷ-kheo, thế nào là pháp
môn lửa cháy, pháp môn Chánh
pháp?
2) Thật tốt hơn, này các Tỷ-kheo, nếu nhãn căn bị hủy hoại
với một cây kim bằng sắt
nung đỏ, hừng cháy, rực
cháy, cháy lửa ngọn. Như
vậy, không có chấp thủ tướng
riêng, không chấp thủ tướng
chung đối với các sắc do mắt
nhận thức, này các Tỷ-kheo,
thức có thể vững trú, kiên
trú, bị trói buộc bởi vị
ngọt tướng chung hay bị trói
buộc bởi vị ngọt tướng
riêng. Trong thời gian ấy,
nếu mệnh chung, thời sự kiện
này xảy ra: Ði thác sanh vào
một trong hai sanh thú này:
địa ngục hay bàng sanh.
3) Này các Tỷ-kheo, do thấy nguy hiểm này, Ta nói như vầy:
Thật tốt hơn, này các
Tỷ-kheo, nếu nhĩ căn bị hủy
hoại với một cái dùi bằng
sắt nung đỏ, hừng cháy, rực
cháy, cháy lửa ngọn. Như
vậy, không chấp thủ tướng
riêng, không chấp thủ tướng
chung đối với các tiếng do
tai nhận thức, này các
Tỷ-kheo, thức có thể vững
trú, kiên trú, bị trói buộc
bởi vị ngọt tướng chung, hay
bị trói buộc bởi vị ngọt
tướng riêng. Trong thời gian
ấy, nếu mệnh chung, thời sự
kiện này có thể xảy ra: Ði
thác sanh vào một trong hai
sanh thú này: địa ngục hay
bàng sanh.
4-6) Này các Tỷ-kheo, do thấy nguy hiểm này, Ta nói như vầy:
Thật tốt hơn, này các
Tỷ-kheo, nếu tỷ căn bị phá
hủy với một cái kềm sắc bén,
bị hừng cháy, rực cháy, cháy
lửa ngọn... nếu thiệt căn bị
hủy hoại với một con dao sắc
bén hừng cháy, rực cháy,
cháy lửa ngọn... nếu thân
căn bị hủy hoại với một cái
kiếm sắc bén, hừng cháy, rực
cháy, cháy lửa ngọn...
7) Này các Tỷ-kheo, do thấy nguy hiểm này, Ta nói như vầy:
Thật tốt hơn là nằm ngủ. Nằm
ngủ, Ta nói rằng là trống
không đối với các loài có
sinh mạng. Ta nói rằng là vô
quả đối với các loài có sanh
mạng. Ta nói rằng là mù mờ
đối với các loài có sanh
mạng. Vì rằng nếu ngủ, thời
không có suy nghĩ những vấn
đề để có thể bị những vấn đề
tư duy chinh phục, để có thể
phá hòa hợp Tăng. Này các
Tỷ-kheo, thấy sự trống không
của nằm ngủ và sự nguy hiểm
của tỉnh thức, Ta nói như
vậy.
8) Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử suy nghĩ
như sau: "Hãy dừng lại, chớ
để nhãn căn bị hủy hoại với
một cây kim bằng sắt nung
đỏ, hừng cháy, rực cháy,
cháy lửa ngọn. Ta hãy tác ý
như sau: 'Ðây, mắt là vô
thường. Các sắc là vô
thường. Nhãn thức là vô
thường. Nhãn xúc là vô
thường. Phàm duyên nhãn xúc
khởi lên cảm thọ gì, lạc
thọ, khổ thọ, hay bất khổ
bất lạc thọ; cảm thọ ấy là
vô thường'.
9) Hãy dừng lại, chớ để nhĩ căn bị hủy hoại với một cái dùi
bằng sắt nung đỏ, hừng cháy,
rực cháy, cháy lửa ngọn. Ta
hãy tác ý như sau: 'Ðây, tai
là vô thường. Các tiếng là
vô thường. Nhĩ thức là vô
thường. Nhĩ xúc là vô
thường. Phàm duyên nhĩ xúc
khởi lên cảm thọ gì, lạc
thọ, khổ thọ, hay bất khổ
bất lạc thọ; cảm thọ ấy là
vô thường'.
10) Hãy dừng lại, chớ để tỷ căn bị hủy hoại với một cái kềm
bằng sắc bén bị hừng cháy,
rực cháy, cháy lửa ngọn. Ta
hãy tác ý như sau: 'Ðây, mũi
là vô thường. Các hương là
vô thường. Tỷ thức là vô
thường. Tỷ xúc là vô thường.
Phàm duyên tỷ xúc khởi lên
cảm thọ gì, lạc thọ, khổ
thọ, hay bất khổ bất lạc
thọ; cảm thọ ấy là vô
thường'.
11) Hãy dừng lại, chớ để thiệt căn bị hủy hoại bởi một con
dao sắc bén, hừng cháy, rực
cháy, cháy lửa ngọn. Ta hãy
tác ý như sau: 'Ðây, lưỡi là
vô thường. Các vị là vô
thường. Thiệt thức là vô
thường, thiệt xúc là vô
thường. Phàm duyên thiệt xúc
khởi lên cảm thọ gì, lạc
thọ, khổ thọ, hay bất khổ
bất lạc thọ; cảm thọ ấy là
vô thường'.
12) Hãy dừng lại, chớ để thân căn bị hủy hoại bởi một lưỡi
kiếm sắc bén, hừng cháy, rực
cháy, cháy lửa ngọn. Ta hãy
tác ý như sau: 'Ðây, thân
căn là vô thường. Các xúc là
vô thường. Thân thức là vô
thường, thân xúc là vô
thường. Phàm duyên thân xúc
khởi lên cảm thọ gì, lạc
thọ, khổ thọ, hay bất khổ
bất lạc thọ; cảm thọ ấy là
vô thường'.
13) Hãy dừng lại, chớ nằm ngủ. Ta hãy tác ý như sau: 'Ðây, ý
căn là vô thường. Các pháp
là vô thường. Ý thức là vô
thường, ý xúc là vô thường.
Phàm duyên ý xúc khởi lên
cảm thọ gì, lạc thọ, khổ
thọ, hay bất khổ bất lạc
thọ; cảm thọ ấy là vô
thường'".
14) Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử nhàm
chán đối với mắt, nhàm chán
đối với các sắc, nhàm chán
đối với nhãn thức, nhàm chán
đối với nhãn xúc. Phàm duyên
nhãn xúc khởi lên cảm thọ
gì, lạc thọ, khổ thọ, hay
bất khổ bất lạc thọ; vị ấy
nhàm chán đối với cảm thọ
ấy... nhàm chán đối với ý,
nhàm chán đối với các pháp,
nhàm chán đối với ý thức,
nhàm chán đối với ý xúc.
Phàm duyên ý xúc khởi lên
cảm thọ gì, lạc thọ, khổ
thọ, hay bất khổ bất lạc
thọ; vị ấy nhàm chán đối với
cảm thọ ấy. Do nhàm chán, vị
ấy ly tham. Do ly tham, vị
ấy được giải thoát. Trong sự
giải thoát, trí khởi lên
biết rằng: "Ta đã được giải
thoát". Vị ấy biết rõ: "Sanh
đã tận, Phạm hạnh đã thành,
những việc nên làm đã làm,
không còn trở lui trạng thái
này nữa".
15) Này các Tỷ-kheo, đây là pháp môn lửa cháy. Ðây là pháp
môn Chánh pháp. -ooOoo- |