BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Năm, ngày 19 tháng 06, 2025

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập III – Chương 35. Tương Ưng Sáu Xứ - Phẩm Biển Cả- SN 35.235.
Bài 439. THẤY NHỎ MÀ KHÔNG NHỎ - Kinh Huấn Thị về Lửa Cháy (Ādittapariyāyasuttaṃ).
...
****** http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-439.jpg









http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png Đau khổ, trong cái nhìn của Đấng Đại Giác, không đơn thuần là cảm thọ khó chịu trước mắt mà còn phải kể tới hệ quả dai dẳng với trăm ngàn trạng huống. Điều rõ ràng nhất là đối với bất cứ ai rời bỏ cuộc đời nầy với tâm vướng mắc đều khổ luỵ. Có mấy người đủ sáng suốt để trút hơi thở sau cùng với khả năng buông xả nhẹ tênh?

KINH VĂN

235. “ādittapariyāyaṃ vo, bhikkhave, dhammapariyāyaṃ desessāmi. taṃ suṇātha. katamo ca, bhikkhave, ādittapariyāyo, dhammapariyāyo? varaṃ, bhikkhave, tattāya ayosalākāya ādittāya sampajjalitāya sajotibhūtāya {sañjotibhūtāya (syā. kaṃ.)} cakkhundriyaṃ sampalimaṭṭhaṃ, na tveva cakkhuviññeyyesu rūpesu anubyañjanaso nimittaggāho. nimittassādagathitaṃ {nimittassādagadhitaṃ (syā. kaṃ. ka.) ma. ni. 3.316-317} vā, bhikkhave, viññāṇaṃ tiṭṭhamānaṃ tiṭṭheyya, anubyañjanassādagathitaṃ vā tasmiñce samaye kālaṃ kareyya, ṭhānametaṃ vijjati, yaṃ dvinnaṃ gatīnaṃ aññataraṃ gatiṃ gaccheyya — nirayaṃ vā, tiracchānayoniṃ vā. imaṃ khvāhaṃ, bhikkhave, ādīnavaṃ disvā evaṃ vadāmi.

“varaṃ, bhikkhave, tiṇhena ayosaṅkunā ādittena sampajjalitena sajotibhūtena sotindriyaṃ sampalimaṭṭhaṃ, na tveva sotaviññeyyesu saddesu anubyañjanaso nimittaggāho. nimittassādagathitaṃ vā, bhikkhave, viññāṇaṃ tiṭṭhamānaṃ tiṭṭheyya, anubyañjanassādagathitaṃ vā tasmiñce samaye kālaṅkareyya, ṭhānametaṃ vijjati, yaṃ dvinnaṃ gatīnaṃ aññataraṃ gatiṃ gaccheyya — nirayaṃ vā tiracchānayoniṃ vā. imaṃ khvāhaṃ, bhikkhave, ādīnavaṃ disvā evaṃ vadāmi.

“varaṃ, bhikkhave, tiṇhena nakhacchedanena ādittena sampajjalitena sajotibhūtena ghānindriyaṃ sampalimaṭṭhaṃ, na tveva ghānaviññeyyesu gandhesu anubyañjanaso nimittaggāho. nimittassādagathitaṃ vā, bhikkhave, viññāṇaṃ tiṭṭhamānaṃ tiṭṭheyya, anubyañjanassādagathitaṃ vā tasmiñce samaye kālaṃ kareyya. ṭhānametaṃ vijjati, yaṃ dvinnaṃ gatīnaṃ aññataraṃ gatiṃ gaccheyya — nirayaṃ vā tiracchānayoniṃ vā. imaṃ khvāhaṃ, bhikkhave, ādīnavaṃ disvā evaṃ vadāmi.

“varaṃ, bhikkhave, tiṇhena khurena ādittena sampajjalitena sajotibhūtena jivhindriyaṃ sampalimaṭṭhaṃ, na tveva jivhāviññeyyesu rasesu anubyañjanaso nimittaggāho. nimittassādagathitaṃ vā, bhikkhave, viññāṇaṃ tiṭṭhamānaṃ tiṭṭheyya, anubyañjanassādagathitaṃ vā tasmiñce samaye kālaṃ kareyya. ṭhānametaṃ vijjati, yaṃ dvinnaṃ gatīnaṃ aññataraṃ gatiṃ gaccheyya — nirayaṃ vā tiracchānayoniṃ vā. imaṃ khvāhaṃ, bhikkhave, ādīnavaṃ disvā evaṃ vadāmi.

“varaṃ, bhikkhave, tiṇhāya sattiyā ādittāya sampajjalitāya sajotibhūtāya kāyindriyaṃ sampalimaṭṭhaṃ, na tveva kāyaviññeyyesu phoṭṭhabbesu anubyañjanaso nimittaggāho. nimittassādagathitaṃ vā, bhikkhave, viññāṇaṃ tiṭṭhamānaṃ tiṭṭheyya, anubyañjanassādagathitaṃ vā tasmiñce samaye kālaṃ kareyya. ṭhānametaṃ vijjati, yaṃ dvinnaṃ gatīnaṃ aññataraṃ gatiṃ gaccheyya — nirayaṃ vā tiracchānayoniṃ vā. imaṃ khvāhaṃ, bhikkhave, ādīnavaṃ disvā evaṃ vadāmi.

“varaṃ, bhikkhave, sottaṃ. sottaṃ kho panāhaṃ, bhikkhave, vañjhaṃ jīvitānaṃ vadāmi, aphalaṃ jīvitānaṃ vadāmi, momūhaṃ jīvitānaṃ vadāmi, na tveva tathārūpe vitakke vitakkeyya yathārūpānaṃ vitakkānaṃ vasaṃ gato saṅghaṃ bhindeyya. imaṃ khvāhaṃ, bhikkhave, vañjhaṃ jīvitānaṃ ādīnavaṃ disvā evaṃ vadāmi.

“tattha, bhikkhave, sutavā ariyasāvako iti paṭisañcikkhati — ‘tiṭṭhatu tāva tattāya ayosalākāya ādittāya sampajjalitāya sajotibhūtāya cakkhundriyaṃ sampalimaṭṭhaṃ. handāhaṃ idameva manasi karomi — iti cakkhu aniccaṃ, rūpā aniccā, cakkhuviññāṇaṃ aniccaṃ, cakkhusamphasso anicco, yampidaṃ cakkhusamphassapaccayā uppajjati vedayitaṃ sukhaṃ vā dukkhaṃ vā adukkhamasukhaṃ vā tampi aniccaṃ’” {aniccan””ti (?)} .

“tiṭṭhatu tāva tiṇhena ayosaṅkunā ādittena sampajjalitena sajotibhūtena sotindriyaṃ sampalimaṭṭhaṃ. handāhaṃ idameva manasi karomi — iti sotaṃ aniccaṃ, saddā aniccā, sotaviññāṇaṃ aniccaṃ, sotasamphasso anicco, yampidaṃ sotasamphassapaccayā uppajjati vedayitaṃ sukhaṃ vā dukkhaṃ vā adukkhamasukhaṃ vā tampi aniccaṃ.

“tiṭṭhatu tāva tiṇhena nakhacchedanena ādittena sampajjalitena sajotibhūtena ghānindriyaṃ sampalimaṭṭhaṃ. handāhaṃ idameva manasi karomi — iti ghānaṃ aniccaṃ, gandhā aniccā, ghānaviññāṇaṃ aniccaṃ, ghānasamphasso anicco, yampidaṃ ghānasamphassapaccayā uppajjati vedayitaṃ ... pe ... tampi aniccaṃ.

“tiṭṭhatu tāva tiṇhena khurena ādittena sampajjalitena sajotibhūtena jivhindriyaṃ sampalimaṭṭhaṃ. handāhaṃ idameva manasi karomi — iti jivhā aniccā, rasā aniccā, jivhāviññāṇaṃ aniccaṃ, jivhāsamphasso anicco, yampidaṃ jivhāsamphassapaccayā uppajjati ... pe ... tampi aniccaṃ.

“tiṭṭhatu tāva tiṇhāya sattiyā ādittāya sampajjalitāya sajotibhūtāya kāyindriyaṃ sampalimaṭṭhaṃ. handāhaṃ idameva manasi karomi — iti kāyo anicco, phoṭṭhabbā aniccā, kāyaviññāṇaṃ aniccaṃ, kāyasamphasso anicco, yampidaṃ kāyasamphassapaccayā uppajjati vedayitaṃ ... pe ... tampi aniccaṃ.

“tiṭṭhatu tāva sottaṃ. handāhaṃ idameva manasi karomi — iti mano anicco, dhammā aniccā, manoviññāṇaṃ aniccaṃ, manosamphasso anicco, yampidaṃ manosamphassapaccayā uppajjati vedayitaṃ sukhaṃ vā dukkhaṃ vā adukkhamasukhaṃ vā tampi aniccaṃ”.

“evaṃ passaṃ, bhikkhave, sutavā ariyasāvako cakkhusmimpi nibbindati, rūpesupi nibbindati, cakkhuviññāṇepi nibbindati, cakkhusamphassepi nibbindati ... pe ... yampidaṃ manosamphassapaccayā uppajjati vedayitaṃ sukhaṃ vā dukkhaṃ vā adukkhamasukhaṃ vā tasmimpi nibbindati. nibbindaṃ virajjati; virāgā vimuccati; vimuttasmiṃ vimuttamiti ñāṇaṃ hoti. ‘khīṇā jāti, vusitaṃ brahmacariyaṃ, kataṃ karaṇīyaṃ, nāparaṃ itthattāyā’ti pajānāti. ayaṃ kho, bhikkhave, ādittapariyāyo, dhammapariyāyo”ti. aṭṭhamaṃ.

235. Pháp Thoại về Lửa Cháy

“Này chư Tỳ khưu, Ta sẽ thuyết giảng cho các Thầy một thời pháp về đề tài ‘lửa cháy’. Hãy lắng nghe…

“Và này chư Tỳ khưu, thế nào là pháp thoại về đề tài lửa cháy? Sẽ tốt hơn, này chư Tỳ khưu, nếu con mắt bị đâm thủng bởi một cái đinh sắt nung đỏ, đang cháy rực và sáng rực, còn hơn là chấp thủ tướng qua các đặc điểm trong sắc được mắt nhận biết. Vì nếu thức tâm chấp vào sự tham luyến nơi tướng hoặc các đặc điểm, và nếu vào lúc đó người ấy mệnh chung, thì có khả năng sẽ tái sinh vào một trong hai cõi: địa ngục hoặc súc sinh. Vì thấy rõ hiểm họa này, Ta nói như vậy.

“Sẽ tốt hơn, này chư Tỳ khưu, nếu lỗ tai bị đâm thủng bởi một cây sắt nhọn cháy đỏ, còn hơn là chấp thủ tướng qua các đặc điểm trong âm thanh được tai nhận biết… Vì thấy rõ hiểm họa này, Ta nói như vậy.

“Sẽ tốt hơn, này chư Tỳ khưu, nếu mũi bị đâm bởi một cái kềm cắt móng cháy đỏ, còn hơn là chấp thủ tướng qua các đặc điểm trong mùi hương được mũi nhận biết… Vì thấy rõ hiểm họa này, Ta nói như vậy.

“Sẽ tốt hơn, này chư Tỳ khưu, nếu lưỡi bị cắt bởi một lưỡi dao cạo sắc bén đang cháy đỏ, còn hơn là chấp thủ tướng qua các đặc điểm trong vị được lưỡi nhận biết… Vì thấy rõ hiểm họa này, Ta nói như vậy.

“Sẽ tốt hơn, này chư Tỳ khưu, nếu thân bị đâm bởi một cây giáo nhọn đang cháy đỏ, còn hơn là chấp thủ tướng qua các đặc điểm trong xúc chạm được thân nhận biết… Vì thấy rõ hiểm họa này, Ta nói như vậy.

“Sẽ tốt hơn, này chư Tỳ khưu, nếu ngủ – vì ngủ, Ta nói, là cằn cỗi đối với người sống, là vô ích đối với người sống, là vô tri đối với người sống – còn hơn là khởi lên những tư duy khiến người bị chúng khống chế sẽ gây chia rẽ trong Tăng đoàn. Vì thấy rõ hiểm họa này, Ta nói như vậy.

“Về điều này, này chư Tỳ khưu, vị đệ tử cao quý có học hiểu quán chiếu như sau:
‘Hãy để qua một bên việc đâm thủng con mắt bằng đinh sắt cháy đỏ. Ta chỉ cần quán chiếu điều này: Con mắt là vô thường, sắc là vô thường, nhãn thức là vô thường, nhãn xúc là vô thường, và bất cứ cảm thọ nào khởi lên do nhãn xúc làm duyên – dù lạc, khổ, hay không khổ không lạc – cũng đều là vô thường.’

‘Hãy để qua một bên việc đâm tai bằng cây sắt cháy đỏ… Tai là vô thường, âm thanh là vô thường, nhĩ thức là vô thường, nhĩ xúc là vô thường, và cảm thọ do nhĩ xúc làm duyên cũng là vô thường.’

‘Hãy để qua một bên việc đâm mũi bằng kềm cắt móng cháy đỏ… Mũi là vô thường, mùi hương là vô thường, tị thức là vô thường, tị xúc là vô thường, và cảm thọ do tị xúc làm duyên cũng là vô thường.’

‘Hãy để qua một bên việc cắt lưỡi bằng dao cạo cháy đỏ… Lưỡi là vô thường, vị là vô thường, thiệt thức là vô thường, thiệt xúc là vô thường, và cảm thọ do thiệt xúc làm duyên cũng là vô thường.’

‘Hãy để qua một bên việc đâm thân bằng giáo cháy đỏ… Thân là vô thường, xúc trần là vô thường, thân thức là vô thường, thân xúc là vô thường, và cảm thọ do thân xúc làm duyên cũng là vô thường.’

‘Hãy để qua một bên việc ngủ. Ta chỉ cần quán chiếu điều này: Ý là vô thường, pháp là vô thường, ý thức là vô thường, ý xúc là vô thường, và cảm thọ do ý xúc làm duyên cũng là vô thường.’

“Thấy rõ như vậy, này chư Tỳ khưu, vị đệ tử cao quý có học hiểu sẽ khởi tâm nhàm chán (nibbidā) đối với con mắt, sắc, nhãn thức, nhãn xúc và tất cả cảm thọ do nhãn xúc làm duyên – dù lạc, khổ hay trung tính… đối với tâm, pháp, ý thức, ý xúc và các cảm thọ tương ứng… Khi đã nhàm chán, vị ấy trở nên ly tham (virāga). Nhờ ly tham, tâm được giải thoát. Khi tâm đã được giải thoát, vị ấy biết rằng: ‘Tâm ta đã giải thoát.’ Vị ấy hiểu rõ: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại trạng thái hiện hữu này nữa.’

“Này chư Tỳ khưu, đây là huấn thị về đề tài lửa cháy.”

Chú Thích

Đối với hành giả tu tập thì những nội dung như bài kinh nầy là một so sánh giữa cái khổ trước mắt và cái khổ sâu xa. Đa phần chúng sanh có cái nhìn cạn hẹp. Những bậc giác ngộ mới thấu triệt cái khổ sâu kín của kiếp trầm luân.

Phần đầu bài kinh là sự tỷ giảo. Phần sau nói về phương cách vượt thoát bằng sự quán chiếu vô thường. Bài kinh nầy khẳng định hành động tích cực bằng cách tác động tuệ giác chứ không phải chỉ là sự sợ hãi pham tình.

Sự giải đãi là một trong những yếu tố then chốt dẫn đến thối thất trong hành trình tu tập. Sự chiêm nghiệm hệ quả nguy hiểm to lớn như nội dung huấn thị của Đức Phật tạo nên quyết tâm mạnh mẽ trong sự hướng cầu giác ngộ giải thoát.

Sớ Giải

 235. aṭṭhame anubyañjanaso nimittaggāhoti “hatthā sobhanā pādā sobhanā”ti evaṃ anubyañjanavasena nimittaggāho. nimittaggāhoti hi saṃsandetvā gahaṇaṃ, anubyañjanaggāhoti vibhattigahaṇaṃ. nimittaggāho kumbhīlasadiso sabbameva gaṇhāti, anubyañjanaggāho rattapāsadiso vibhajitvā hatthapādādīsu taṃ taṃ koṭṭhāsaṃ. ime pana dve gāhā ekajavanavārepi labbhanti, nānājavanavāre vattabbameva natthi.

nimittassādagathitanti nimittassādena ganthitaṃ baddhaṃ. viññāṇanti kammaviññāṇaṃ. tasmiṃ ce samaye kālaṃ kareyyāti na koci saṃkiliṭṭhena cittena kālaṃ karonto nāma atthi. sabbasattānañhi bhavaṅgeneva kālakiriyā hoti. kilesabhayaṃ pana dassento evamāha. samayavasena vā evaṃ vuttaṃ. cakkhudvārasmiñhi āpāthagate ārammaṇe rattacittaṃ vā duṭṭhacittaṃ vā mūḷhacittaṃ vā ārammaṇarasaṃ anubhavitvā bhavaṅgaṃ otarati, bhavaṅge ṭhatvā kālakiriyaṃ karoti. tasmiṃ samaye kālaṃ karontassa dveva gatiyo pāṭikaṅkhā, imassa samayassa vasenetaṃ vuttaṃ.

imaṃ khvāhaṃ, bhikkhave, ādīnavanti imaṃ anekāni vassasatasahassāni niraye anubhavitabbaṃ dukkhaṃ sampassamāno evaṃ vadāmi tattāya ayosalākāya akkhīni añjāpetukāmoti. iminā nayena sabbattha attho veditabbo. ayosaṅkunāti ayasūlena. sampalimaṭṭhanti dvepi kaṇṇacchiddāni vinivijjhitvā pathaviyaṃ ākoṭanavasena sampalimaṭṭhaṃ.

tatiyavāre sampalimaṭṭhanti nakhacchedanaṃ pavesetvā ukkhipitvā sahadhunaṭṭhena chinditvā pātanavasena sampalimaṭṭhaṃ. catutthavāre sampalimaṭṭhanti bandhanamūlaṃ chetvā pātanavasena sampalimaṭṭhaṃ. pañcamavāre sampalimaṭṭhanti tikhiṇāya sattiyā kāyapasādaṃ uppāṭetvā patanavasena sampalimaṭṭhaṃ. sattiyāti ettha mahatī daṇḍakavāsi veditabbā. sottanti nipajjitvā niddokkamanaṃ. yathārūpānaṃ vitakkānaṃ vasaṃ gato saṅghaṃ bhindeyyāti iminā vitakkānaṃ yāva saṅghabhedā pāpakammāvahanatā dassitā. sesamettha uttānameva.


"aṭṭhame anubyañjanaso nimittaggāhoti": Ở bài kinh thứ tám, "nắm bắt tướng" (nimittaggāha) xảy ra thông qua các chi tiết phụ (anubyañjana). Ví dụ như: “Tay đẹp, chân đẹp” – tức là nắm bắt qua các đặc điểm chi tiết.

  • Nimittaggāha là nắm bắt tướng một cách tổng quát, bao trùm – giống như cá sấu nuốt trọn con mồi (kumbhīla-sadisa).
  • Anubyañjanaggāha là nắm bắt các chi tiết riêng biệt – giống như cái bẫy chuột đỏ chia ra từng phần (rattapāsa-sadisa), ví dụ tay, chân, v.v...

Cả hai loại nắm bắt này đều có thể xảy ra trong cùng một công đoạn tâm xử lý (ekajavana-vāra), và không cần phải phân chia thành những sát-na khác nhau (nānā-javana-vāra).

"nimittassādagathitaṃ" – tức là bị trói buộc bởi sự ưa thích nơi tướng (nimitta), bị cuốn chặt vào.

  • Viññāṇa ở đây là kamma-viññāṇa (thức tạo nghiệp).
  • Nếu một người chết vào lúc ấy, thì người ấy chết với tâm bị nhiễm ô – sẽ rơi vào hai cõi dữ (địa ngục hoặc súc sinh). Không có ai chết với tâm ô nhiễm mà tránh khỏi tái sinh ác đạo.
  • Tuy nhiên, điều này cũng có thể được nói theo nghĩa hiển lộ mối nguy hiểm của các lậu hoặc.

Quá trình chết trong trường hợp ấy như sau:

  • Khi một cảnh (ārammaṇa) xuất hiện qua nhãn môn, nếu tâm bị say đắm, sân hận hoặc si mê với cảnh ấy, tâm sẽ hưởng vị của cảnh rồi rơi trở lại dòng bhavaṅga (tiềm thức).
  • Người ấy sẽ chết ngay tại bhavaṅga (cuối cùng) ấy – và do tâm bị ô nhiễm ngay trước khi chết, hai cõi tái sinh đáng chờ đợi là địa ngục và súc sinh.

“imaṃ khvāhaṃ, bhikkhave, ādīnavaṃ” – "Này chư Tỳ khưu, Ta nói vậy là vì thấy rõ hiểm họa này":

  • Đức Phật nói: "Thà rằng bị đâm vào mắt bằng que sắt cháy đỏ – còn hơn là để bị ràng buộc bởi tướng dục lạc."
  • Ayosaṅkuna: cây đinh sắt.
  • Sampalimaṭṭha: hai lỗ tai bị xuyên thủng và va đập vào đất, đầy đau đớn.

Các tầng mức đau đớn theo các đoạn tiếp theo:

  • Tầng ba (tatiya-vāra): bị móc lên bằng kềm cắt móng, bị giật, bị chém, rồi bị quăng xuống.
  • Tầng bốn (catuttha-vāra): chặt đứt gốc nơi bị trói, rồi bị quăng xuống đất.
  • Tầng năm (pañcama-vāra): dùng giáo bén đâm xuyên cơ thể, rồi quăng xuống đất.
  • Sattiyā: ở đây là cây giáo lớn, như cây giáo ở rừng Dandaka.

“sottaṃ” – ngủ, là nằm xuống và rơi vào trạng thái không tỉnh thức (vô tri).

  • Những tư duy dẫn đến chia rẽ Tăng đoàn, nếu bị cuốn theo, sẽ tạo nghiệp ác nặng dẫn đến quả báo như phá Tăng.
  • Vì vậy, Đức Phật nói: thà ngủ còn hơn khởi các tư tưởng ấy.

 Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

194. VIII. Với Lửa Cháy (S.iv,168)

1) -- Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông về pháp môn lửa cháy, pháp môn Chánh pháp. Hãy lắng nghe. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là pháp môn lửa cháy, pháp môn Chánh pháp?

2) Thật tốt hơn, này các Tỷ-kheo, nếu nhãn căn bị hủy hoại với một cây kim bằng sắt nung đỏ, hừng cháy, rực cháy, cháy lửa ngọn. Như vậy, không có chấp thủ tướng riêng, không chấp thủ tướng chung đối với các sắc do mắt nhận thức, này các Tỷ-kheo, thức có thể vững trú, kiên trú, bị trói buộc bởi vị ngọt tướng chung hay bị trói buộc bởi vị ngọt tướng riêng. Trong thời gian ấy, nếu mệnh chung, thời sự kiện này xảy ra: Ði thác sanh vào một trong hai sanh thú này: địa ngục hay bàng sanh.

3) Này các Tỷ-kheo, do thấy nguy hiểm này, Ta nói như vầy: Thật tốt hơn, này các Tỷ-kheo, nếu nhĩ căn bị hủy hoại với một cái dùi bằng sắt nung đỏ, hừng cháy, rực cháy, cháy lửa ngọn. Như vậy, không chấp thủ tướng riêng, không chấp thủ tướng chung đối với các tiếng do tai nhận thức, này các Tỷ-kheo, thức có thể vững trú, kiên trú, bị trói buộc bởi vị ngọt tướng chung, hay bị trói buộc bởi vị ngọt tướng riêng. Trong thời gian ấy, nếu mệnh chung, thời sự kiện này có thể xảy ra: Ði thác sanh vào một trong hai sanh thú này: địa ngục hay bàng sanh.

4-6) Này các Tỷ-kheo, do thấy nguy hiểm này, Ta nói như vầy: Thật tốt hơn, này các Tỷ-kheo, nếu tỷ căn bị phá hủy với một cái kềm sắc bén, bị hừng cháy, rực cháy, cháy lửa ngọn... nếu thiệt căn bị hủy hoại với một con dao sắc bén hừng cháy, rực cháy, cháy lửa ngọn... nếu thân căn bị hủy hoại với một cái kiếm sắc bén, hừng cháy, rực cháy, cháy lửa ngọn...

7) Này các Tỷ-kheo, do thấy nguy hiểm này, Ta nói như vầy: Thật tốt hơn là nằm ngủ. Nằm ngủ, Ta nói rằng là trống không đối với các loài có sinh mạng. Ta nói rằng là vô quả đối với các loài có sanh mạng. Ta nói rằng là mù mờ đối với các loài có sanh mạng. Vì rằng nếu ngủ, thời không có suy nghĩ những vấn đề để có thể bị những vấn đề tư duy chinh phục, để có thể phá hòa hợp Tăng. Này các Tỷ-kheo, thấy sự trống không của nằm ngủ và sự nguy hiểm của tỉnh thức, Ta nói như vậy.

8) Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: "Hãy dừng lại, chớ để nhãn căn bị hủy hoại với một cây kim bằng sắt nung đỏ, hừng cháy, rực cháy, cháy lửa ngọn. Ta hãy tác ý như sau: 'Ðây, mắt là vô thường. Các sắc là vô thường. Nhãn thức là vô thường. Nhãn xúc là vô thường. Phàm duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc thọ, khổ thọ, hay bất khổ bất lạc thọ; cảm thọ ấy là vô thường'.

9) Hãy dừng lại, chớ để nhĩ căn bị hủy hoại với một cái dùi bằng sắt nung đỏ, hừng cháy, rực cháy, cháy lửa ngọn. Ta hãy tác ý như sau: 'Ðây, tai là vô thường. Các tiếng là vô thường. Nhĩ thức là vô thường. Nhĩ xúc là vô thường. Phàm duyên nhĩ xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc thọ, khổ thọ, hay bất khổ bất lạc thọ; cảm thọ ấy là vô thường'.

10) Hãy dừng lại, chớ để tỷ căn bị hủy hoại với một cái kềm bằng sắc bén bị hừng cháy, rực cháy, cháy lửa ngọn. Ta hãy tác ý như sau: 'Ðây, mũi là vô thường. Các hương là vô thường. Tỷ thức là vô thường. Tỷ xúc là vô thường. Phàm duyên tỷ xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc thọ, khổ thọ, hay bất khổ bất lạc thọ; cảm thọ ấy là vô thường'.

11) Hãy dừng lại, chớ để thiệt căn bị hủy hoại bởi một con dao sắc bén, hừng cháy, rực cháy, cháy lửa ngọn. Ta hãy tác ý như sau: 'Ðây, lưỡi là vô thường. Các vị là vô thường. Thiệt thức là vô thường, thiệt xúc là vô thường. Phàm duyên thiệt xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc thọ, khổ thọ, hay bất khổ bất lạc thọ; cảm thọ ấy là vô thường'.

12) Hãy dừng lại, chớ để thân căn bị hủy hoại bởi một lưỡi kiếm sắc bén, hừng cháy, rực cháy, cháy lửa ngọn. Ta hãy tác ý như sau: 'Ðây, thân căn là vô thường. Các xúc là vô thường. Thân thức là vô thường, thân xúc là vô thường. Phàm duyên thân xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc thọ, khổ thọ, hay bất khổ bất lạc thọ; cảm thọ ấy là vô thường'.

13) Hãy dừng lại, chớ nằm ngủ. Ta hãy tác ý như sau: 'Ðây, ý căn là vô thường. Các pháp là vô thường. Ý thức là vô thường, ý xúc là vô thường. Phàm duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc thọ, khổ thọ, hay bất khổ bất lạc thọ; cảm thọ ấy là vô thường'".

14) Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với mắt, nhàm chán đối với các sắc, nhàm chán đối với nhãn thức, nhàm chán đối với nhãn xúc. Phàm duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc thọ, khổ thọ, hay bất khổ bất lạc thọ; vị ấy nhàm chán đối với cảm thọ ấy... nhàm chán đối với ý, nhàm chán đối với các pháp, nhàm chán đối với ý thức, nhàm chán đối với ý xúc. Phàm duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc thọ, khổ thọ, hay bất khổ bất lạc thọ; vị ấy nhàm chán đối với cảm thọ ấy. Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy được giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên biết rằng: "Ta đã được giải thoát". Vị ấy biết rõ: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa".

15) Này các Tỷ-kheo, đây là pháp môn lửa cháy. Ðây là pháp môn Chánh pháp.

-ooOoo-