|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Hai, ngày 23 tháng 06, 2025
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
... ******
Cuộc sống là hành trình phấn
đấu. Với người tu tập điều
nầy lại thấm thía hơn. Thời
gian qua nhanh. Tuổi già
chóng đến. Sức lực cạn kiệt.
Cuộc sống vô chừng. Tất cả
không cho phép hành giả năm
yên để ngủ quên trong mộng
đẹp nhất thời. Trong thông
điệp muôn thuở của Đức Phật,
Ngài dạy rõ sự khổ, nhân
sanh khổ, sự diệt khổ, con
đường thoát khổ đều nằm trọn
ở thân tâm của mỗi người.
Phải đủ trí tuệ mẫn tiệp
nhận thức và quyết tâm hành
động thì một người đang hụp
lặn giữa biển trầm luân mới
tìm thấy bờ bến an toàn.
KINH VĂN
238. “seyyathāpi, bhikkhave,
cattāro āsīvisā uggatejā
ghoravisā. atha puriso
āgaccheyya jīvitukāmo
amaritukāmo sukhakāmo
dukkhappaṭikūlo. tamenaṃ
evaṃ vadeyyuṃ — ‘ime te,
ambho purisa, cattāro
āsīvisā uggatejā ghoravisā
kālena kālaṃ vuṭṭhāpetabbā,
kālena kālaṃ nhāpetabbā,
kālena kālaṃ bhojetabbā,
kālena kālaṃ saṃvesetabbā
{pavesetabbā (syā. kaṃ. pī.
ka.)} . yadā ca kho te,
ambho purisa, imesaṃ
catunnaṃ āsīvisānaṃ
uggatejānaṃ ghoravisānaṃ
aññataro vā aññataro vā
kuppissati, tato tvaṃ, ambho
purisa, maraṇaṃ vā
nigacchasi, maraṇamattaṃ vā
dukkhaṃ. yaṃ te, ambho
purisa, karaṇīyaṃ taṃ
karohī’”ti.
“atha kho so, bhikkhave,
puriso bhīto catunnaṃ
āsīvisānaṃ uggatejānaṃ
ghoravisānaṃ yena vā tena vā
palāyetha. tamenaṃ evaṃ
vadeyyuṃ — ‘ime kho, ambho
purisa, pañca vadhakā
paccatthikā piṭṭhito
piṭṭhito anubandhā, yattheva
naṃ passissāma tattheva
jīvitā voropessāmāti. yaṃ
te, ambho purisa, karaṇīyaṃ
taṃ karohī’”ti.
“atha kho so, bhikkhave,
puriso bhīto catunnaṃ
āsīvisānaṃ uggatejānaṃ
ghoravisānaṃ, bhīto
pañcannaṃ vadhakānaṃ
paccatthikānaṃ yena vā tena
vā palāyetha. tamenaṃ evaṃ
vadeyyuṃ — ‘ayaṃ te, ambho
purisa, chaṭṭho antaracaro
vadhako ukkhittāsiko
piṭṭhito piṭṭhito anubandho
yattheva naṃ passissāmi
tattheva siro pātessāmīti.
yaṃ te, ambho purisa,
karaṇīyaṃ taṃ karohī’”ti.
“atha kho so, bhikkhave,
puriso bhīto catunnaṃ
āsīvisānaṃ uggatejānaṃ
ghoravisānaṃ, bhīto
pañcannaṃ vadhakānaṃ
paccatthikānaṃ, bhīto
chaṭṭhassa antaracarassa
vadhakassa ukkhittāsikassa
yena vā tena vā palāyetha.
so passeyya suññaṃ gāmaṃ.
yaññadeva gharaṃ paviseyya
rittakaññeva paviseyya
tucchakaññeva paviseyya
suññakaññeva paviseyya.
yaññadeva bhājanaṃ
parimaseyya rittakaññeva
parimaseyya tucchakaññeva
parimaseyya suññakaññeva
parimaseyya. tamenaṃ evaṃ
vadeyyuṃ — ‘idāni, ambho
purisa, imaṃ suññaṃ gāmaṃ
corā gāmaghātakā pavisanti
{vadhissanti (sī. pī.)} .
yaṃ te, ambho purisa,
karaṇīyaṃ taṃ karohī’”ti.
“atha kho so, bhikkhave,
puriso bhīto catunnaṃ
āsīvisānaṃ uggatejānaṃ
ghoravisānaṃ, bhīto
pañcannaṃ vadhakānaṃ
paccatthikānaṃ, bhīto
chaṭṭhassa antaracarassa
vadhakassa ukkhittāsikassa,
bhīto corānaṃ gāmaghātakānaṃ
yena vā tena vā palāyetha.
so passeyya mahantaṃ
udakaṇṇavaṃ orimaṃ tīraṃ
sāsaṅkaṃ sappaṭibhayaṃ,
pārimaṃ tīraṃ khemaṃ
appaṭibhayaṃ. na cassa nāvā
santāraṇī uttarasetu vā
apārā pāraṃ gamanāya. atha
kho, bhikkhave, tassa
purisassa evamassa — ‘ayaṃ
kho mahāudakaṇṇavo orimaṃ
tīraṃ sāsaṅkaṃ
sappaṭibhayaṃ, pārimaṃ tīraṃ
khemaṃ appaṭibhayaṃ, natthi
ca {na cassa (sī. ka.),
natthassa (syā. kaṃ.)} nāvā
santāraṇī uttarasetu vā
apārā pāraṃ gamanāya.
yaṃnūnāhaṃ
tiṇakaṭṭhasākhāpalāsaṃ
saṃkaḍḍhitvā kullaṃ
bandhitvā taṃ kullaṃ nissāya
hatthehi ca pādehi ca
vāyamamāno sotthinā pāraṃ
gaccheyyan’”ti.
“atha kho so, bhikkhave,
puriso
tiṇakaṭṭhasākhāpalāsaṃ
saṃkaḍḍhitvā kullaṃ
bandhitvā taṃ kullaṃ nissāya
hatthehi ca pādehi ca
vāyamamāno sotthinā pāraṃ
gaccheyya, tiṇṇo pāraṅgato
{pāragato (sī. syā. kaṃ.)}
thale tiṭṭhati brāhmaṇo.
“upamā kho myāyaṃ,
bhikkhave, katā atthassa
viññāpanāya. ayañcettha
{ayaṃ cevettha (sī.)} attho
— cattāro āsīvisā uggatejā
ghoravisāti kho, bhikkhave,
catunnetaṃ mahābhūtānaṃ
adhivacanaṃ —
pathavīdhātuyā, āpodhātuyā,
tejodhātuyā, vāyodhātuyā.
“pañca vadhakā paccatthikāti
kho, bhikkhave, pañcannetaṃ
upādānakkhandhānaṃ
adhivacanaṃ, seyyathidaṃ —
rūpupādānakkhandhassa,
vedanupādānakkhandhassa,
saññupādānakkhandhassa,
saṅkhārupādānakkhandhassa,
viññāṇupādānakkhandhassa.
“chaṭṭho antaracaro vadhako
ukkhittāsikoti kho,
bhikkhave, nandīrāgassetaṃ
adhivacanaṃ.
“suñño gāmoti kho,
bhikkhave, channetaṃ
ajjhattikānaṃ āyatanānaṃ
adhivacanaṃ. cakkhuto cepi
naṃ, bhikkhave, paṇḍito
byatto medhāvī upaparikkhati
rittakaññeva khāyati,
tucchakaññeva khāyati,
suññakaññeva khāyati ... pe
... jivhāto cepi naṃ,
bhikkhave ... pe ... manato
cepi naṃ, bhikkhave, paṇḍito
byatto medhāvī upaparikkhati
rittakaññeva khāyati,
tucchakaññeva khāyati,
suññakaññeva khāyati.
“corā gāmaghātakāti kho,
bhikkhave, channetaṃ
bāhirānaṃ āyatanānaṃ
adhivacanaṃ. cakkhu,
bhikkhave, haññati
manāpāmanāpesu rūpesu;
sotaṃ, bhikkhave ... pe ...
ghānaṃ, bhikkhave ... pe ...
jivhā, bhikkhave, haññati
manāpāmanāpesu rasesu; kāyo,
bhikkhave ... pe ... mano,
bhikkhave, haññati
manāpāmanāpesu dhammesu.
“mahā udakaṇṇavoti kho,
bhikkhave, catunnetaṃ
oghānaṃ adhivacanaṃ —
kāmoghassa, bhavoghassa,
diṭṭhoghassa, avijjoghassa.
“orimaṃ tīraṃ sāsaṅkaṃ
sappaṭibhayanti kho,
bhikkhave, sakkāyassetaṃ
adhivacanaṃ.
“pārimaṃ tīraṃ khemaṃ
appaṭibhayanti kho,
bhikkhave, nibbānassetaṃ
adhivacanaṃ.
“kullanti kho, bhikkhave,
ariyassetaṃ aṭṭhaṅgikassa
maggassa adhivacanaṃ,
seyyathidaṃ — sammādiṭṭhi
... pe ... sammāsamādhi.
“tassa hatthehi ca pādehi ca
vāyāmoti kho, bhikkhave,
vīriyārambhassetaṃ
adhivacanaṃ.
“tiṇṇo pāraṅgato thale
tiṭṭhati brāhmaṇoti kho,
bhikkhave, arahato etaṃ
adhivacanan”ti. paṭhamaṃ.
"Này chư Tỳ khưu, ví như có
bốn con rắn cực kỳ nóng bức
và mang nọc độc chết người.
“Rồi, này chư Tỳ khưu, sợ
hãi vì bốn con rắn độc,
người đàn ông ấy sẽ bỏ chạy
theo một hướng nào đó. Người
ta lại nói với anh ta:
“Sợ hãi vì bốn con rắn độc
và năm kẻ giết người, người
ấy lại bỏ chạy. Người ta nói
tiếp:
“Sợ hãi vì bốn con rắn độc,
năm kẻ thù giết người và kẻ
sát nhân thân cận với gươm
rút sẵn trong tay, người ấy
lại tiếp tục chạy trốn. Anh
ta thấy một ngôi làng hoang.
Bất kỳ ngôi nhà nào anh bước
vào đều trống rỗng, bỏ
hoang, không có ai. Bất kỳ
cái nồi nào anh cầm lên đều
trống không, rỗng ruột.
Người ta lại bảo anh:
“Sợ hãi vì bốn con rắn độc,
năm kẻ giết người, kẻ sát
nhân thân cận, và cả bọn
cướp phá làng, người ấy lại
bỏ chạy. Anh ta thấy một
vùng nước rộng lớn, bờ gần
thì nguy hiểm và đáng sợ,
còn bờ xa thì an toàn, không
nguy hiểm, nhưng không có đò
hay cầu để vượt qua.
“Người ấy nghĩ: ‘Vùng nước
lớn này có bờ gần nguy hiểm,
bờ xa thì an toàn, nhưng
không có đò hay cầu để băng
qua. Vậy ta hãy gom cỏ, cành
cây, nhánh cây, lá... kết
lại thành một chiếc bè, rồi
bằng nỗ lực tay và chân, ta
sẽ vượt qua bờ bên kia một
cách an toàn.’
“Rồi người ấy gom cỏ, cành
cây, nhánh cây và lá, kết
thành một chiếc bè. Bằng
chiếc bè ấy, cùng với nỗ lực
của tay chân, người ấy an
toàn vượt qua bờ bên kia.
Khi đã vượt qua, đã đi qua
bên kia, vị Phạm chí đứng
trên vùng đất cao an toàn..
“Này chư Tỳ khưu, ta nói dụ
ngôn nầy để truyền tải
ý nghĩa. Đây là ý
nghĩa:
‘Bốn con rắn độc, nóng dữ và
có nọc chết người’: là chỉ
bốn đại chủng – đất, nước,
lửa, gió.
‘Năm kẻ thù giết người’: là
chỉ năm uẩn bị chấp thủ:
sắc, thọ, tưởng, hành, thức.
‘Tên sát nhân thứ sáu, kẻ
thân cận với gươm rút sẵn’:
là chỉ cho tham ái và dục
vọng.
‘Ngôi làng trống rỗng’: là
chỉ sáu nội xứ. Nếu một
người trí tuệ, có khả năng
quán sát xem xét chúng qua
mắt, tai… cho đến tâm, thì
chúng hiện rõ là rỗng không,
trống vắng, không thật.
‘Bọn cướp phá làng’: là chỉ
sáu ngọai xứ. Mắt bị tấn
công bởi các sắc khả ái và
bất khả ái; tai… tâm bị tấn
công bởi các pháp khả ái và
bất khả ái.
‘Vùng nước lớn’: là chỉ cho
bốn dòng chảy (luồng nước
lũ): dục lậu, hữu lậu, kiến
lậu, vô minh lậu.
‘Bờ gần, nguy hiểm và đáng
sợ’: là chỉ thân kiến (ngã
kiến).
‘Bờ xa, an toàn và không
nguy hiểm’: là chỉ Niết-bàn.
‘Chiếc bè’: là chỉ cho Bát
Thánh Đạo: chánh kiến, chánh
tư duy… đến chánh định.
‘Nỗ lực bằng tay chân’: là
chỉ cho sự tinh tấn, siêng
năng.
‘Đã vượt qua, đã đến bờ bên
kia, vị Phạm chí đứng trên
đất cao an toàn’: là chỉ cho
vị A-la-hán.
Chú Thích
Đây là dụ ngôn rất phổ biến
để nói lên hiểm nạn của kiếp
trầm luân và tánh kíp thời
hành động mà hành giả phải
có trong nỗ lực tu tập.
Ý nghĩa của bài kinh cần
được tham khảo với bản Sớ
giải.
Bản Sớ giải của kinh nầy rất
dài. Một số được lược bớt để
tập trung vào ý chính.
Sớ Giải
Āsīvisavaggassa paṭhame
“Bhikkhū āmantesi”ti —
Idañhi suttaṃ
puggalajjhāsayena vuttaṃ…
Ở đây, có bốn con rắn hổ
mang:
Mô tả rắn đất – kaṭṭhamukha
(Tượng trưng Địa đại)
Mô tả Rắn nước – pūtimukha
(Tượng trưng Thủy đại)
Mô tả Rắn lửa – aggimukha
(Tượng trưng Hỏa đại)
Bị rắn miệng lửa cắn thì
thân thể cháy rụi,
Mô tả Rắn gió – satthamukha
(Tượng trưng Phong đại)
Sattamukhena daṭṭhassa
sakalasarīraṃ bhijjati,
Độc tố & 16 trạng thái của
tứ đại
Phân loại 64 loại người & 4
thành phần độc
Từ độc tố vật chất tới biến
chất thành “tác hại tinh
thần”
QUÁN CHIẾU TỨ ĐẠI
1. Về bản chất vô ơn
(akataññutāto)
Rắn độc (āsīvisa) vốn là
loài vô ơn. Dù được tắm rửa,
nuôi dưỡng, trang sức bằng
vòng hoa, hoặc được giữ gìn
trong hộp quý, chúng vẫn
luôn tìm cách trốn thoát, và
hễ có cơ hội là quay lại cắn
chết người chủ. Tứ đại
(mahābhūta) cũng vậy, còn vô
ơn hơn. Dù chúng ta chăm sóc
bằng nước mát, hương thơm,
giường êm, đồ ăn ngon, chúng
vẫn chực chờ cơ hội để nổi
loạn và khiến ta rơi vào đau
khổ, bệnh tật, và cuối cùng
là cái chết.
2. Không phân biệt
(avisesakāritāto)
Rắn độc không phân biệt ai:
sang, hèn, tu sĩ hay tại
gia, miễn có dịp là cắn.
Cũng vậy, tứ đại không có
lòng tôn kính ai, dù là bậc
A-la-hán hay người phàm. Nếu
tứ đại có lòng tôn kính thì
đã phải kính trọng đức Phật
hay tôn giả Sāriputta. Nhưng
thực tế, dù ai có đạo hạnh
hay ngu si, chúng đều gây
khổ như nhau.
3. Gây tai họa vô hạn
(anantadosūpaddavato)
Rắn độc có thể gây mù, què,
tật nguyền, hoặc cái chết.
Tứ đại còn tạo ra nhiều tai
họa hơn nữa: từ phong cùi,
ghẻ lở, các bệnh nan y...
đến tử vong. Tai họa do tứ
đại gây ra không thể kể
xiết.
4. Phân tích đến pháp hành
(kammaṭṭhāna)
Từ đặc tính của tứ đại và
ngũ uẩn, hành giả có thể
thực hành thiền tuệ bằng
cách phân tích các thành tố
này. Bốn đại (đất, nước,
lửa, gió), năm uẩn (sắc,
thọ, tưởng, hành, thức), sáu
căn nội và sáu trần ngoại,
cùng pháp giới — tất cả đều
là cảnh cho hành giả quán
tưởng sự vô thường, khổ và
vô ngã, từ đó tiến đến đạo
quả A-la-hán.
5. Tứ Thánh Đế (Cattāri
Ariyasaccāni)
6. Ẩn dụ về người vượt biển
bằng bè (kulla)
Hành giả giống như người
đóng bè để vượt biển lớn đầy
sóng gió. Biển tượng trưng
cho sanh tử luân hồi, bè là
Bát Thánh Đạo. Người ấy phải
tinh tấn không trì hoãn, vì
nếu để già yếu mới khởi hành
thì không thể vượt biển.
Phải có đủ sức mạnh (tín,
giới, tinh tấn...) mới có
thể vượt qua.
7. Thành tựu đạo quả
Hành giả, sau khi quán sát
tứ đại và ngũ uẩn, nỗ lực
tinh tấn, lần lượt phá trừ
các chướng ngại của bốn đạo
(sotāpatti, sakadāgāmī,
anāgāmī, arahant), cuối cùng
chứng đạt Niết-bàn — bờ bên
kia an ổn. Khi ấy, vị ấy sẽ
an trú trong giải thoát,
giống như người đã vượt biển
và đứng trên bờ an toàn.
_ ________________________________________________
Bản dịch của Hoà thượng
Thích Minh Châu
197. I. Rắn Ðộc (S.iv,172)
1-2) Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú ở
Sàvatthi... gọi các
Tỷ-kheo... Thế Tôn nói như
sau:
3) -- Ví như, này các
Tỷ-kheo, có bốn con rắn độc,
với sức nóng tột độ, với nọc
độc mãnh liệt. Rồi có người
đến, muốn sống, không muốn
chết, muốn lạc, ghét khổ.
Người ta nói với người ấy:
"Này Bạn, có bốn con rắn độc
này, với sức nóng tột độ,
với nọc độc mãnh liệt. Thỉnh
thoảng hãy thức chúng dậy,
thỉnh thoảng hãy tắm cho
chúng, thỉnh thoảng hãy cho
chúng ăn, thỉnh thoảng hãy
cho chúng vào huyệt (để
ngủ). Này Bạn, nếu một trong
bốn con rắn độc này, với sức
nóng tột độ, với nọc độc
mãnh liệt, tức giận, thời
này Bạn, Bạn sẽ đi đến chết,
hay đau khổ gần như chết.
Vậy này Bạn, hãy làm những
gì Bạn nghĩ cần phải làm".
4) Rồi này các Tỷ-kheo,
người ấy quá sợ hãi bốn con
rắn độc, với sức nóng tột
độ, với nọc độc mãnh liệt,
chạy trốn chỗ này, chỗ kia.
Người ta nói với người ấy:
"Này Bạn, có năm kẻ sát nhân
thù địch này, đang đi theo
sau lưng Bạn. Chúng nói:
'Khi nào chúng ta thấy nó,
chúng ta sẽ giết nó'. Này
Bạn, hãy làm những gì Bạn
nghĩ là phải làm".
5) Rồi này các Tỷ-kheo,
người ấy quá sợ hãi bốn con
rắn độc ấy, với sức nóng tột
độ, với nọc độc mãnh liệt,
quá sợ hãi năm tên sát nhân
thù địch ấy, chạy đi trốn
chỗ này, chỗ kia. Người ta
nói với người ấy: "Này Bạn,
có một tên thứ sáu cướp nhà,
giết người, với ngọn kiếm dơ
lên, đang đi theo sau lưng
Bạn. Nó nói: 'Khi nào ta
thấy nó, ta sẽ chém đầu nó'.
Này Bạn, hãy làm những gì
Bạn nghĩ là phải làm".
6) Rồi, này các Tỷ-kheo,
người ấy quá sợ hãi bốn con
rắn độc, với sức nóng tột
độ, với nọc độc mãnh liệt,
quá sợ hãi năm tên sát nhân
thù địch, quá sợ hãi tên thứ
sáu cướp nhà, giết người với
ngọn kiếm dơ lên, chạy đi
trốn chỗ này, chỗ kia. Rồi
người ấy thấy một ngôi làng
trống không. Nhà nào người
ấy đi vào, người ấy vào chỗ
trống không, vào chỗ rỗng
không, vào chỗ tuyệt không.
Người ấy sờ đến đồ dùng nào,
người ấy sờ chỗ trống không,
người ấy sờ chỗ rỗng không,
người ấy sờ chỗ tuyệt không.
Người ta nói với người ấy:
"Này Bạn, bọn cướp phá hoại
làng, sẽ đánh cướp ngôi làng
trống không này. Này Bạn,
hãy làm những gì Bạn nghĩ là
phải làm".
7) Rồi này các Tỷ-kheo,
người ấy quá sợ hãi bốn con
rắn độc với sức nóng tột độ,
với nọc độc mãnh liệt, quá
sợ hãi năm tên giết người
thù địch, quá sợ hãi tên thứ
sáu cướp nhà, giết người với
ngọn kiếm dơ lên, quá sợ hãi
các tên cướp làng, liền chạy
đi trốn chỗ này, chỗ kia.
Rồi người ấy thấy một đầm
nước lớn, bờ bên này đầy
những sợ hãi nguy hiểm, bờ
bên kia được an ổn, không có
sợ hãi, nhưng không có
thuyền để vượt qua, không có
cầu để đi qua đi lại.
8) Rồi này các Tỷ-kheo,
người ấy suy nghĩ như sau:
"Ðây là vùng nước đọng, bờ
bên này nguy hiểm và hãi
hùng, bờ bên kia an ổn,
không kinh hãi, nhưng không
có thuyền để vượt qua, cũng
không có cầu bắc qua từ bờ
bên này đến bờ bên kia. Nay
ta hãy thâu góp cỏ cây,
nhành lá, cột lại thành
chiếc bè, nhờ chiếc bè này,
tinh tấn dùng tay chân, ta
có thể vượt qua bờ bên kia
một cách an toàn".
9) Rồi này các Tỷ-kheo,
người ấy thâu góp cỏ cây,
nhành lá, cột lại thành
chiếc bè, nhờ chiếc bè này,
tinh tấn dùng tay chân,
người ấy vượt qua bờ bên kia
một cách an toàn. Vị
Bà-la-môn vượt qua bờ bên
kia, đứng trên đất liền.
10) Ví dụ này, này các
Tỷ-kheo, Ta làm để giải
thích ý nghĩa. Và đây là ý
nghĩa:
11) Bốn con rắn độc với sức
nóng tột độ, với nọc độc
mãnh liệt, này các Tỷ-kheo,
là đồng nghĩa với bốn đại
chủng: địa đại, thủy đại,
hỏa đại và phong đại.
12) Năm tên giết người thù
địch, này các Tỷ-kheo, là
đồng nghĩa với năm thủ uẩn:
sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn,
tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn,
thức thủ uẩn.
13) Tên thứ sáu cướp nhà,
giết người với cây kiếm giơ
lên, này các Tỷ-kheo, là
đồng nghĩa với dục tham.
14) Ngôi làng trống không,
này các Tỷ-kheo, là đồng
nghĩa với sáu nội xứ. Này
các Tỷ-kheo, nếu một người
hiền, kinh nghiệm, có trí,
tìm hiểu nó với con mắt; vị
ấy thấy nó là trống không,
là rỗng không, là tuyệt
không... Nếu tìm hiểu nó với
ý; vị ấy thấy nó là trống
không, là rỗng không, là
tuyệt không.
15) Bọn cướp phá làng, này
các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa
với sáu ngoại xứ. Này các
Tỷ-kheo, mắt bị tàn hại
trong các sắc khả ái và
không khả ái. Này các
Tỷ-kheo, tai bị tàn hại
trong các tiếng khả ái và
không khả ái. Này các
Tỷ-kheo, mũi bị tàn hại
trong các hương khả ái và
không khả ái. Này các
Tỷ-kheo, lưỡi bị tàn hại
trong các vị khả ái và không
khả ái. Này các Tỷ-kheo,
thân bị tàn hại trong các
xúc khả ái và không khả ái.
Này các Tỷ-kheo, ý bị tàn
hại trong các pháp khả ái và
không khả ái.
16) Vùng nước lớn, này các
Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với
bốn bộc lưu: dục bộc lưu,
hữu bộc lưu, kiến bộc lưu và
vô minh bộc lưu.
17) Bờ bên này nguy hiểm và
hãi hùng, này các Tỷ-kheo,
là đồng nghĩa với thân kiến
này.
18) Bờ bên kia an ổn và
không kinh hãi, này các
Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với
Niết-bàn.
19) Cái bè, này các Tỷ-kheo,
là đồng nghĩa với Thánh đạo
Tám ngành.
20) Tinh tấn dùng tay và
dùng chân, này các Tỷ-kheo,
là đồng nghĩa với tinh tấn,
tinh cần.
21) Vị Bà-la-môn vượt qua bờ
bên kia và đứng trên đất
liền, này các Tỷ-kheo, là
đồng nghĩa với bậc A-la-hán. -ooOoo- |