|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Ba, ngày 24 tháng 06, 2025
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
... ******
Cuộc tu thường được hiểu là nếp sống theo lý tưởng.
Điều nầy thường dẫn tới sự
thiếu vắng sự ứng dụng cụ
thể. Đức Phật chỉ rõ con
đường trung đạo với nếp sống
hài hoà tỉnh thức lợi lạc cả
hai phương diện thân tâm. Sự
an lạc đích thực không phải
là nếp sống nhàn hạ mà chính
là sự sung mãn nội lực. Hạnh
phúc không đến từ những niềm
vui nhất thời mà khéo xây
dựng trên căn bản. Một xa
phu lão luyện điều khiển xe
ngựa chaỵ như ý muốn phải
trải qua công phu đào luyện.
Thành quả của sự an lạc đích
thực trong cuộc sống cần hảo
công phu.
KINH VĂN
239. “tīhi, bhikkhave, dhammehi samannāgato bhikkhu diṭṭheva
dhamme sukhasomanassabahulo
viharati, yoni cassa āraddhā
hoti āsavānaṃ khayāya.
katamehi tīhi? indriyesu
guttadvāro hoti, bhojane
mattaññū, jāgariyaṃ
anuyutto.
“kathañca, bhikkhave,
bhikkhu indriyesu guttadvāro
hoti? idha, bhikkhave,
bhikkhu cakkhunā rūpaṃ disvā
na nimittaggāhī hoti,
nānubyañjanaggāhī;
yatvādhikaraṇamenaṃ
cakkhundriyaṃ asaṃvutaṃ
viharantaṃ abhijjhādomanassā
pāpakā akusalā dhammā
anvāssaveyyuṃ. tassa
saṃvarāya paṭipajjati;
rakkhati cakkhundriyaṃ;
cakkhundriye saṃvaraṃ
āpajjati. sotena saddaṃ
sutvā... ghānena gandhaṃ
ghāyitvā... jivhāya rasaṃ
sāyitvā... kāyena
phoṭṭhabbaṃ phusitvā...
manasā dhammaṃ viññāya na
nimittaggāhī hoti
nānubyañjanaggāhī;
yatvādhikaraṇamenaṃ
manindriyaṃ asaṃvutaṃ
viharantaṃ abhijjhādomanassā
pāpakā akusalā dhammā
anvāssaveyyuṃ, tassa
saṃvarāya paṭipajjati;
rakkhati manindriyaṃ;
manindriye saṃvaraṃ
āpajjati. seyyathāpi,
bhikkhave, subhūmiyaṃ
cātumahāpathe ājaññaratho
yutto assa ṭhito
odhastapatodo {odhatapatodo
(syā. kaṃ.), odhasatapatodo
(pī.)} . tamenaṃ dakkho
yoggācariyo assadammasārathi
abhiruhitvā vāmena hatthena
rasmiyo gahetvā, dakkhiṇena
hatthena patodaṃ gahetvā,
yenicchakaṃ yadicchakaṃ
sāreyyapi paccāsāreyyapi.
evameva kho, bhikkhave,
bhikkhu imesaṃ channaṃ
indriyānaṃ ārakkhāya
sikkhati, saṃyamāya
sikkhati, damāya sikkhati,
upasamāya sikkhati. evaṃ
kho, bhikkhave, bhikkhu
indriyesu guttadvāro hoti.
“kathañca, bhikkhave, bhikkhu bhojane mattaññū hoti? idh
“Này chư Tỳ khưu, với ba pháp, một Tỳ khưu sống đầy hỷ lạc ngay trong đời
sống hiện tại, và đã đặt nền
tảng cho sự diệt trừ các lậu
hoặc. Ba pháp ấy là gì? Đó
là: biết hộ trì các căn môn,
biết tiết độ trong ăn uống,
và tinh cần tỉnh giác trong
sinh hoạt.
Và này chư Tỳ khưu, thế nào là Tỳ khưu biết hộ trì các căn môn? Ở đây, khi
thấy sắc bằng mắt, Tỳ khưu
không chấp thủ vào tướng
chung và tướng riêng. Vì nếu
để mắt không được chế ngự,
các pháp bất thiện như tham
ái và sân hận có thể xâm
nhập. Do vậy, vị ấy thực
hành phương pháp chế ngự, hộ
trì nhãn căn, thọ trì việc
chế ngự nhãn căn. Khi nghe
âm thanh bằng tai … ngửi
hương bằng mũi … nếm vị bằng
lưỡi … xúc chạm bằng thân …
nhận thức pháp trần bằng ý,
vị Tỳ khưu cũng không nắm
giữ tướng chung và tướng
riêng. Vì nếu để ý căn không
được chế ngự, các pháp bất
thiện như tham ái và sân hận
có thể xâm nhập. Do vậy, vị
ấy thực hành chế ngự ý căn,
hộ trì ý căn, thọ trì việc
chế ngự ý căn.
Ví như, này chư Tỳ khưu, một chiếc xe ngựa được cột với những con ngựa
thuần thục, đứng sẵn trên
đất bằng ở ngã tư đường, và
người đánh xe có roi trong
tay. Người huấn luyện ngựa
thuần thục ấy bước lên xe,
tay trái cầm dây cương, tay
phải cầm roi, rồi điều khiển
xe đi về bất cứ hướng nào
mình muốn, bất cứ lúc nào.
Cũng vậy, Tỳ khưu tu tập để
hộ trì sáu căn môn này, tu
tập để điều phục chúng, huấn
luyện chúng, làm cho chúng
an tịnh. Này chư Tỳ khưu, đó
là cách một Tỳ khưu hộ trì
các căn môn.
Và này chư Tỳ khưu, thế nào là Tỳ khưu biết tiết độ trong ăn uống? Ở đây,
vị ấy suy xét chánh niệm và
trí tuệ khi thọ thực, không
vì mục đích vui chơi, không
vì đắm say, không vì làm đẹp
thân thể hay làm tăng vẻ
quyến rũ, mà chỉ vì để duy
trì và nuôi dưỡng thân này,
để dứt trừ khổ thọ, hỗ trợ
đời sống phạm hạnh, với tư
duy: ‘Như vậy, ta sẽ đoạn
trừ cảm thọ cũ, không khởi
lên cảm thọ mới, ta sẽ sống
không bệnh, không lỗi, và an
lạc.’ Ví như người thoa
thuốc lên vết thương chỉ để
vết thương lành, hoặc tra
dầu vào trục bánh xe chỉ để
xe chuyển vận, cũng vậy, Tỳ
khưu với chánh niệm và trí
tuệ thọ thực chỉ để hỗ trợ
đời sống phạm hạnh. Này chư
Tỳ khưu, đó là cách một Tỳ
khưu tiết độ trong ăn uống.
Và này chư Tỳ khưu, thế nào là Tỳ khưu chuyên tâm tỉnh thức? Ở đây, ban
ngày, khi đi kinh hành hay
khi ngồi, vị ấy tịnh hóa tâm
khỏi các pháp chướng ngại.
Trong canh đầu của đêm, khi
đi kinh hành hay khi ngồi,
vị ấy tịnh hóa tâm khỏi các
pháp chướng ngại. Trong canh
giữa, vị ấy nằm nghiêng bên
phải theo thế sư tử nằm,
chân này chồng lên chân kia,
chánh niệm và tỉnh giác, ghi
nhớ ý định thức dậy trong
tâm. Sau khi thức dậy, trong
canh cuối của đêm, vị ấy
tiếp tục đi kinh hành hoặc
ngồi, tịnh hóa tâm khỏi các
pháp chướng ngại. Này chư Tỳ
khưu, đó là cách một Tỳ khưu
chuyên tâm canh thức.
Này chư Tỳ khưu, với ba pháp này, một Tỳ khưu sống đầy hỷ lạc trong hiện
tại và đã đặt nền móng cho
sự đoạn tận các lậu hoặc.”
Chú Thích
Ba pháp hộ trì các căn môn, biết tiết độ trong ăn uống, và tinh cần tỉnh
giác trong sinh hoạt là ba
phương châm tu tập căn bản
của người xuất gia về cả hai
phương diện giáo nghĩa và
luật nghi.
Ở mỗi pháp đều có nhưng chi tiết cần lưu tâm để ứng dụng.
Bài kinh nầy cho thấy sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa sự huân tu thiền quán
vipassana và những pháp như
thu thúc lục căn, quán tưởng
khi thọ dụng… Mặc dù ngày
nay nhiều trường thiền chỉ
đặc biệt chú trọng riêng
pháp tu thiền quán. (…)
Bản Sớ giải của kinh nầy rất dài. Một số được lược bớt để tập trung vào ý
chính.
Sớ Giải
239. dutiye sukhasomanassabahuloti kāyikasukhañceva
cetasikasomanassañca bahulaṃ
assāti sukhasomanassabahulo.
yoni cassa āraddhā hotīti
kāraṇañcassa paripuṇṇaṃ
hoti. āsavānaṃ khayāyāti
idha āsavakkhayoti
arahattamaggo adhippeto,
tadatthāyāti attho.
odhastapatodoti rathamajjhe
tiriyaṃ ṭhapitapatodo.
yenicchakanti yena
disābhāgena icchati.
yadicchakanti yaṃ yaṃ
gamanaṃ icchati. sāreyyāti
peseyya. paccāsāreyyāti
paṭivinivatteyya.
ārakkhāyāti rakkhaṇatthāya.
saṃyamāyāti
veganiggahaṇatthāya.
damāyāti nibbisevanatthāya.
upasamāyāti
kilesūpasamatthāya.
evameva khoti ettha yathā akusalassa sārathino adante
sindhave yojetvā
visamamaggena rathaṃ
pesentassa cakkānipi
bhijjanti, akkhopi
sindhavānañca khurā,
attanāpi anayabyasanaṃ
pāpuṇāti, na ca
icchiticchitena gamanena
sāretuṃ sakkoti; evaṃ chasu
indriyesu aguttadvāro
bhikkhu na icchiticchitaṃ
samaṇaratiṃ anubhavituṃ
sakkoti. yathā pana cheko
sārathi dante sindhave
yojetvā, same bhūmibhāge
rathaṃ otāretvā rasmiyo
gahetvā, sindhavānaṃ khuresu
satiṃ ṭhapetvā, patodaṃ
ādāya nibbisevane katvā,
pesento icchiticchitena
gamanena sāreti. evameva
chasu indriyesu guttadvāro
bhikkhu imasmiṃ sāsane
icchiticchitaṃ samaṇaratiṃ
anubhoti, sace
aniccānupassanābhimukhaṃ
ñāṇaṃ pesetukāmo hoti,
tadabhimukhaṃ ñāṇaṃ
gacchati.
dukkhānupassanādīsupi eseva
nayo.
bhojane mattaññūti
bhojanamhi pamāṇaññū. tattha
dve pamāṇāni —
paṭiggahaṇapamāṇañca
paribhogapamāṇañca. tattha
paṭiggahaṇapamāṇe dāyakassa
vaso veditabbo,
deyyadhammassa vaso
veditabbo, attano thāmo
jānitabbo. evarūpo hi
bhikkhu sace deyyadhammo
bahuko hoti, dāyako appaṃ
dātukāmo, dāyakassa vasena
appaṃ gaṇhāti. deyyadhammo
appo, dāyako bahuṃ dātukāmo,
deyyadhammassa vasena appaṃ
gaṇhāti. deyyadhammopi bahu,
dāyakopi bahuṃ dātukāmo,
attano thāmaṃ ñatvā pamāṇena
gaṇhāti. so tāya paṭiggahaṇe
mattaññutāya anuppannañca
lābhaṃ uppādeti, uppannañca
thāvaraṃ karoti
dhammikatissamahārājakāle
sattavassiko sāmaṇero viya.
rañño kira pañcahi sakaṭasatehi guḷaṃ āhariṃsu. rājā “manāpo
paṇṇākāro, ayyehi vinā na
khādissāmā”ti aḍḍhateyyāni
sakaṭasatāni mahāvihāraṃ
pesetvā sayampi
bhuttapātarāso agamāsi.
bheriyā pahaṭāya dvādasa
bhikkhusahassāni
sannipatiṃsu. rājā ekamante
ṭhito ārāmikaṃ pakkosāpetvā
āha — “rañño nāma dāne
pattapūrova pamāṇaṃ,
gahitabhājanaṃ pūretvāva
dehi, sace koci
mattapaṭiggahaṇe ṭhito na
gaṇhāti, mayhaṃ
āroceyyāsī”ti.
atheko mahāthero
“mahābodhimahācetiyāni
vandissāmī”ti cetiyapabbatā
āgantvā, vihāraṃ pavisanto
mahāmaṇḍapaṭṭhāne bhikkhū
guḷaṃ gaṇhante disvā
pacchato āgacchantaṃ
sāmaṇeraṃ āha, “natthi te
guḷena attho”ti. “āma,
bhante, natthī”ti. sāmaṇera
mayaṃ maggakilantā, ekena
kapiṭṭhaphalamattena
piṇḍakena amhākaṃ atthoti.
sāmaṇero thālakaṃ nīharitvā
therassa vassaggapaṭipāṭiyaṃ
aṭṭhāsi. ārāmiko gahaṇamānaṃ
pūretvā ukkhipi, sāmaṇero
aṅguliṃ cālesi. tāta
sāmaṇera, rājakulānaṃ dāne
bhājanapūrameva pamāṇaṃ,
thālakapūraṃ gaṇhāhīti. āma,
upāsaka, rājāno nāma
mahajjhāsayā honti, amhākaṃ
pana upajjhāyassa ettakeneva
atthoti.
rājā tassa kathaṃ sutvā, “kiṃ bho sāmaṇero bhaṇatī”ti? tassa
santikaṃ gato. ārāmiko āha —
“sāmi, sāmaṇerassa bhājanaṃ
khuddakaṃ, bahuṃ na
gaṇhātī”ti. rājā āha,
“ānītabhājanaṃ pūretvā
gaṇhatha, bhante”ti.
mahārāja, rājāno nāma
mahajjhāsayā honti,
ukkhittabhājanaṃ pūretvāva
dātukāmā, amhākaṃ pana
upajjhāyassa ettakeneva
atthoti. rājā cintesi —
“ayaṃ sattavassikadārako,
ajjāpissa mukhato
khīragandho na muccati,
gahetvā kuṭe vā kuṭumbe vā
pūretvā svepi punadivasepi
khādissāmāti na vadati,
sakkā buddhasāsanaṃ
pariggahetun”ti purise
āṇāpesi, “bho, pasannomhi
sāmaṇerassa, itarānipi
aḍḍhateyyāni sakaṭasatāni
ānetvā saghaṃssa dethā”ti.
soyeva pana rājā ekadivasaṃ tittiramaṃsaṃ khāditukāmo
cintesi — “sace ahaṃ
aṅgārapakkaṃ tittiramaṃsaṃ
khāditukāmosmīti aññassa
kathessāmi, samantā
yojanaṭṭhāne
tittirasamugghātaṃ
karissantī”ti uppannaṃ
pipāsaṃ adhivāsento tīṇi
saṃvaccharāni vītināmesi.
athassa kaṇṇesu pubbo
saṇṭhāsi, so adhivāsetuṃ
asakkonto “atthi nu kho,
bho, amhākaṃ koci
upaṭṭhākupāsako
sīlarakkhako”ti pucchi. āma,
deva, atthi, tisso nāma so
akhaṇḍasīlaṃ rakkhatīti.
atha naṃ vīmaṃsitukāmo
pakkosāpesi. so āgantvā
rājānaṃ vanditvā aṭṭhāsi.
tato naṃ āha — “tvaṃ, tāta,
tisso nāmā”ti? “āma devā”ti.
tena hi gacchāti. tasmiṃ
gate ekaṃ kukkuṭaṃ
āharāpetvā ekaṃ purisaṃ
āṇāpesi, “gaccha tissaṃ
vadāhi, imaṃ tīhi pākehi
pacitvā amhākaṃ
upaṭṭhāpehī”ti. so gantvā
tathā avoca. so āha — “sace,
bho, ayaṃ matako assa, yathā
jānāmi, tathā pacitvā
upaṭṭhaheyyaṃ. pāṇātipātaṃ
panāhaṃ na karomī”ti. so
āgantvā rañño ārocesi.
rājā puna “ekavāraṃ gacchā”ti pesesi. so gantvā, “bho,
rājupaṭṭhānaṃ nāma bhāriyaṃ,
mā evaṃ kari, punapi sīlaṃ
sakkā samādātuṃ, pacetan”ti
āha. atha naṃ tisso avoca,
“bho, ekasmiṃ nāma attabhāve
dhuvaṃ ekaṃ maraṇaṃ, nāhaṃ
pāṇātipātaṃ karissāmī”ti. so
punapi rañño ārocesi. rājā
tatiyampi pesetvā
asampaṭicchantaṃ
pakkosāpetvā attanā pucchi.
raññopi tatheva paṭivacanaṃ
adāsi. atha rājā purise
āṇāpesi, “ayaṃ rañño āṇaṃ
kopeti, gacchathetassa
āghātanabhaṇḍikāyaṃ
ṭhapetvā, sīsaṃ
chindathā”ti. raho ca pana
nesaṃ saññamadāsi — “imaṃ
santajjayamānā netvā
sīsamassa
āghātanabhaṇḍikāyaṃ ṭhapetvā
āgantvā mayhaṃ ārocethā”ti.
te taṃ āghātanabhaṇḍikāyaṃ nipajjāpetvā tamassa kukkuṭaṃ
hatthesu ṭhapayiṃsu. so taṃ
hadaye ṭhapetvā “ahaṃ, tāta,
mama jīvitaṃ tuyhaṃ demi,
tava jīvitaṃ ahaṃ gaṇhāmi,
tvaṃ nibbhayo gacchā”ti
vissajjesi. kukkuṭo pakkhe
papphoṭetvā ākāsena gantvā
vaṭarukkhe nilīyi. tassa
kukkuṭassa
abhayadinnaṭṭhānaṃ
kukkuṭagiri nāma jātaṃ.
rājā taṃ pavattiṃ sutvā amaccaputtaṃ pakkosāpetvā
sabbābharaṇehi alaṅkaritvā
āha — “tāta, mayā tvaṃ
etadatthameva vīmaṃsito,
mayhaṃ tittiramaṃsaṃ
khāditukāmassa tīṇi
saṃvaccharāni atikkantāni,
sakkhissasi me
tikoṭiparisuddhaṃ katvā
upaṭṭhāpetun”ti. “etaṃ nāma,
deva, mayhaṃ kamman”ti
nikkhamitvā dvārantare ṭhito
ekaṃ purisaṃ pātova tayo
tittire gahetvā pavisantaṃ
disvā, dve kahāpaṇe datvā
tittire ādāya parisodhetvā,
jīrakādīhi vāsetvā, aṅgāresu
supakke pacitvā rañño
upaṭṭhāpesi. rājā mahātale
sirīpallaṅke nisinnova ekaṃ
gahetvā thokaṃ chinditvā
mukhe pakkhipi, tāvadevassa
sattarasaharaṇīsahassāni
pharitvā aṭṭhāsi.
tasmiṃ samaye bhikkhusaṅghaṃ saritvā, “mādiso nāma
pathavissaro rājā
tittiramaṃsaṃ khāditukāmo
tīṇi saṃvaccharāni na labhi,
apaccamāno bhikkhusaṅgho
kuto labhissatī”ti? mukhe
pakkhittakkhaṇḍaṃ bhūmiyaṃ
chaḍḍesi. amaccaputto
jaṇṇukehi patitvā mukhena
gaṇhi. rājā “apehi, tāta,
jānāmahaṃ tava
niddosabhāvaṃ, iminā nāma
kāraṇena mayā etaṃ
chaḍḍitan”ti kathetvā,
“sesakaṃ tatheva saṅgopetvā
ṭhapehī”ti āha.
punadivase rājakulūpako thero piṇḍāya pāvisi. amaccaputto
taṃ disvā pattaṃ gahetvā
rājagehaṃ pavesesi. aññataro
vuḍḍhapabbajitopi therassa
pacchāsamaṇo viya hutvā
anubandhanto pāvisi. thero
“raññā pakkosāpitabhikkhu
bhavissatī”ti pamajji.
amaccaputtopi “therassa
upaṭṭhāko bhavissatī”ti
pamādaṃ āpajji. tesaṃ
nisīdāpetvā yāguṃ adaṃsu.
yāguyā pītāya rājā tittire
upanesi. thero ekaṃ gaṇhi,
itaropi ekaṃ gaṇhi. rājā
“anubhāgo atthi,
anāpucchitvā khādituṃ na
yuttan”ti mahātheraṃ
āpucchi. thero hatthaṃ
pidahi, mahallakatthero
sampaṭicchi. rājā anattamano
hutvā katabhattakiccaṃ
theraṃ pattaṃ ādāya
anugacchanto āha — “bhante,
kulagehaṃ āgacchantehi
uggahitavattaṃ bhikkhuṃ
gahetvā āgantuṃ vaṭṭatī”ti.
thero tasmiṃ khaṇe aññāsi
“na esa raññā
pakkosāpito”ti.
punadivase upaṭṭhākasāmaṇeraṃ gahetvā pāvisi. rājā tadāpi
yāguyā pītāya tittire
upanāmesi. thero ekaṃ
aggahesi, sāmaṇero aṅguliṃ
cāletvā majjhe chindāpetvā
ekakoṭṭhāsameva aggahesi.
rājā taṃ koṭṭhāsaṃ
mahātherassa upanāmesi.
mahāthero hatthaṃ pidahi,
sāmaṇeropi pidahi. rājā
avidūre nisīditvā
khaṇḍākhaṇḍaṃ chinditvā
khādanto “uggahitavatte
nissāya diyaḍḍhatittire
khādituṃ labhimhā”ti āha.
tassa maṃse khāditamatteva
kaṇṇehi pubbo nikkhami. tato
mukhaṃ vikkhāletvā sāmaṇeraṃ
upasaṅkamitvā, “pasannosmi,
tāta, aṭṭha te dhuvabhattāni
demī”ti āha. ahaṃ, mahārāja,
upajjhāyassa dammīti.
aparāni aṭṭha demīti. tāni
amhākaṃ ācariyassa dammīti.
aparānipi aṭṭha demīti. tāni
samānupajjhāyānaṃ dammīti.
aparānipi aṭṭha demīti. tāni
bhikkhusaṅghassa dammīti.
aparānipi aṭṭha demīti.
sāmaṇero adhivāsesi. evaṃ
paṭiggahaṇamattaṃ jānanto
anuppannañceva lābhaṃ
uppādeti, uppannañca
thāvaraṃ karoti. idaṃ
paṭiggahaṇapamāṇaṃ nāma.
tattha paribhogapamāṇaṃ
paccavekkhaṇapayojanaṃ,
“idamatthiyaṃ bhojanaṃ
bhuñjāmī”ti pana
paccavekkhitaparibhogasseva
payojanattā
paribhogapamāṇaṃyeva nāma,
taṃ idha adhippetaṃ. teneva
paṭisaṅkhā yonisotiādimāha,
itarampi pana vaṭṭatiyeva.
sīhaseyyanti ettha kāmabhogiseyyā, petaseyyā, sīhaseyyā,
tathāgataseyyāti catasso
seyyā. tattha “yebhuyyena,
bhikkhave, kāmabhogī vāmena
passena sentī”ti (a. ni.
4.246) ayaṃ kāmabhogiseyyā.
tesañhi yebhuyyena
dakkhiṇapassena sayāno nāma
natthi.
“yebhuyyena, bhikkhave, petā uttānā sentī”ti (a. ni. 4.246)
ayaṃ petaseyyā. petā hi
appamaṃsalohitattā
aṭṭhisaṅghāṭajaṭitā ekena
passena sayituṃ na sakkonti,
uttānāva sayanti.
“yebhuyyena, bhikkhave, sīho migarājā naṅguṭṭhaṃ
antarasatthimhi
anupakkhipitvā dakkhiṇena
passena sayatī”ti ayaṃ
sīhaseyyā. tejussadattā hi
sīho migarājā dve purimapāde
ekasmiṃ, pacchimapāde
ekasmiṃ ṭhāne ṭhapetvā
naṅguṭṭhaṃ antarasatthimhi
pakkhipitvā
purimapādapacchimapādanaṅguṭṭhānaṃ
ṭhitokāsaṃ sallakkhetvā
dvinnaṃ purimapādānaṃ
matthake sīsaṃ ṭhapetvā
sayati, divasampi sayitvā
pabujjhamāno na utrasanto
pabujjhati, sīsaṃ pana
ukkhipitvā purimapādādīnaṃ
ṭhitokāsaṃ sallakkheti. sace
kiñci ṭhānaṃ vijahitvā
ṭhitaṃ hoti, “nayidaṃ tuyhaṃ
jātiyā sūrabhāvassa ca
anurūpan”ti anattamano hutvā
tattheva sayati, na gocarāya
pakkamati. avijahitvā ṭhite
pana “tuyhaṃ jātiyā ca
sūrabhāvassa ca
anurūpamidan”ti haṭṭhatuṭṭho
uṭṭhāya sīhavijambhitaṃ
vijambhitvā kesarabhāraṃ
vidhunitvā tikkhattuṃ
sīhanādaṃ naditvā gocarāya
pakkamati.
catutthajjhānaseyyā pana tathāgataseyyāti vuccati. tāsu idha
sīhaseyyā āgatā. ayañhi
tejussadairiyāpathattā
uttamaseyyā nāma.
pāde pādanti dakkhiṇapāde vāmapādaṃ. accādhāyāti atiādhāya,
īsakaṃ atikkamma ṭhapetvā.
gopphakena hi gopphake,
jāṇunā vā jāṇumhi
saṅghaṭṭiyamāne abhiṇhaṃ
vedanā uppajjati, cittaṃ
ekaggaṃ na hoti, seyyā
aphāsukā hoti. yathā pana na
saṅghaṃṭṭeti, evaṃ atikkamma
ṭhapite vedanā nuppajjati,
cittaṃ ekaggaṃ hoti, seyyā
phāsukā hoti. tasmā evaṃ
seyyaṃ kappeti.
sato sampajānoti satiyā ceva sampajaññena ca samannāgato.
kathaṃ niddāyanto sato
sampajāno hotīti?
satisampajaññassa
appahānena. ayañhi
divasañceva sakalayāmañca
āvaraṇīyehi dhammehi cittaṃ
parisodhetvā
paṭhamayāmāvasāne caṅkamā
oruyha pāde dhovantopi
mūlakammaṭṭhānaṃ
avijahantova dhovati, taṃ
avijahantova dvāraṃ
vivarati, mañce nisīdati,
avijahantova niddaṃ
okkamati. pabujjhanto pana
mūlakammaṭṭhānaṃ gahetvāva
pabujjhati. evaṃ niddaṃ
okkamantopi sato sampajāno
hoti. evaṃ pana
ñāṇadhātukanti na rocayiṃsu.
vuttanayena panesa cittaṃ parisodhetvā paṭhamayāmāvasāne
“upādinnakaṃ sarīraṃ niddāya
samassāsessāmī”ti caṅkamā
oruyha mūlakammaṭṭhānaṃ
avijahantova pāde dhovati,
dvāraṃ vivarati, mañce pana
nisīditvā mūlakammaṭṭhānaṃ
pahāya, “khandhāva
khandhesu, dhātuyova dhātūsu
paṭihaññantī”ti senāsanaṃ
paccavekkhanto kamena niddaṃ
okkamati, pabujjhanto pana
mūlakammaṭṭhānaṃ gahetvāva
pabujjhati. evaṃ niddaṃ
okkamantopi sato sampajāno
nāma hotīti veditabbo. iti imasmiṃ sutte tivaṅgikā pubbabhāgavipassanāva kathitā. ettakeneva pana vosānaṃ anāpajjitvā tāneva indriyabalabojjhaṅgāni samodhānetvā vipassanaṃ vaḍḍhetvā bhikkhu arahattaṃ pāpuṇātīti. evaṃ yāva arahattā desanā kathetabbā.
“Sukhasomanassabahulo”
nghĩa là có nhiều hỷ lạc,
gồm thân an (kāyikasukha) và
tâm hỷ lạc (cetasikasomanassa). "Yoni
cassa āraddhā hoti" nghĩa là
căn nguyên (nguyên nhân) đã
đầy đủ. "Āsavānaṃ khayāya" ở
đây chỉ đạo quả A-la-hán,
tức là con đường đưa đến sự
đoạn tận các lậu hoặc.
“Patoda” là roi điều khiển ngựa được đặt ngang trên xe. “Yenicchakaṃ” là
theo hướng nào mình muốn,
“yadicchakaṃ” là muốn đi
cách nào thì đi cách ấy.
“Sāreyya” là sẽ điều khiển,
“paccāsāreyya” là quay ngược
lại. "Ārakkhāya" để phòng
hộ, "saṃyamāya" để kiểm soát
tốc độ, "damāya" để thuần
hóa, và "upasamāya" để làm
lắng dịu phiền não.
Ví như người đánh xe vụng về điều khiển xe với ngựa chưa thuần trên đường
gồ ghề thì sẽ bị hỏng trục
xe, gãy bánh, ngựa bị thương
và bản thân cũng gặp nạn —
không thể điều khiển theo ý
muốn. Cũng vậy, vị Tỳ khưu
không hộ trì sáu căn thì
không thể hưởng được niềm an
lạc của đời sống phạm hạnh.
Ngược lại, người đánh xe
khéo léo, dùng dây cương, có
roi, có tránh né, sẽ điều
khiển xe theo đúng hướng.
Cũng vậy, vị Tỳ khưu hộ trì
căn môn có thể hướng tâm
mình đến quán vô thường hay
khổ hay vô ngã theo đúng ý
muốn.
Có hai loại hạn lượng: 1) Hạn lượng khi nhận vật thực (paṭiggahaṇapamāṇa),
2) Hạn lượng khi sử dụng
(paribhogapamāṇa).
Khi nhận vật thực:
Vị ấy nhờ sự hiểu biết đúng mức khi nhận vật thực mà có thể phát sinh tài
sản chưa có, làm vững chắc
cái đã có.
Chuyện về vị sa di bảy tuổi thời vua Dhammika là một ví dụ minh họa.Vua
dâng đường phèn cho đại
chúng Tỳ khưu. Một chú tiểu
vì tôn kính thầy nên chỉ lấy
một ít. Vua rất cảm động,
sau đó cho mang tiếp 350 xe
đường để dâng lên Tăng chúng
gồm 12 ngàn vị tỳ khưu. Sau
đó, vua muốn thử đạo đức một
cư sĩ tên Tissa bằng cách
sai giết chim cút. Tissa từ
chối vì không muốn phạm giới
sát. Vua tức giận, định chém
đầu, nhưng người lính giả vờ
thi hành án. Tissa tha cho
con vật và vua cảm phục đức
hạnh. (bản dịch giản lược
đoạn nầy) 5. Sự kiểm soát trong tư thế nằm: Có bốn kiểu nằm: nằm như người hưởng dục lạc (trái bên), như ngạ quỷ (nằm ngửa), như sư tử (bên phải, đuôi giữa hai chân), và như đức Phật (nhập định). Ở đây là nói đến tư thế nằm sư tử (sīhaseyyā) — uy nghi, cẩn trọng, không dễ bị rơi vào mê mờ.
6. Quán sát khi đi ngủ: Khi nằm xuống, vị ấy vẫn giữ chánh niệm, không
buông bỏ đề mục thiền. Khi
thức dậy, tâm liền trở lại
đề mục cũ. Đây là trạng thái
“sato sampajāno” — tỉnh giác
và có sự nhận biết rõ ràng
ngay cả khi ngủ. Bài kinh này trình bày rõ thiền minh sát (pubbabhāgavipassanā) trong ba yếu tố: hộ trì sáu căn, tiết độ ăn uống, canh thức tỉnh giác. Khi tiếp tục phát triển năm căn, năm lực, bảy giác chi, thì sẽ đạt đến A-la-hán quả.
Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu
198. II. Hỷ Lạc (S.iv,175)
1-2) ...
3) -- Này các Tỷ-kheo, đầy đủ được ba pháp ấy, một Tỷ-kheo
ngay trong hiện tại, sống
nhiều an lạc, hoan hỷ, và
tạo nguyên nhân bắt đầu đoạn
tận các lậu hoặc. Thế nào là
ba? Hộ trì các căn, tiết độ
trong ăn uống và chú tâm
tỉnh giác.
4) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo hộ trì các căn? Ở
đây, này các Tỷ-kheo, khi
mắt thấy sắc, Tỷ-kheo không
nắm giữ tướng chung, không
nắm giữ tướng riêng. Những
nguyên nhân gì khiến nhãn
căn không được chế ngự,
khiến tham ái, ưu bi, các ác
bất thiện pháp khởi lên,
Tỷ-kheo tự chế ngự những
nguyên nhân ấy, hộ trì nhãn
căn, thực hành hộ trì nhãn
căn. Khi tai nghe tiếng...
mũi ngửi hương... lưỡi nếm
vị... thân cảm xúc.... ý
nhận thức các pháp, vị ấy
không nắm giữ tướng chung,
không nắm giữ tướng riêng.
Những nguyên nhân gì khiến ý
căn không được chế ngự,
khiến tham ái, ưu bi, các ác
bất thiện pháp khởi lên,
Tỷ-kheo tự chế ngự những
nguyên nhân ấy, hộ trì ý
căn, thực hành hộ trì ý căn.
5) Ví như, này các Tỷ-kheo, trên đất bằng, tại chỗ ngã tư,
có chiếc xe đang đậu, thắng
với ngựa hay, có roi ngựa
đặc biệt đang sẵn sàng. Có
người mã thuật sư thiện xảo,
người đánh xe điều ngự các
con ngựa đáng được điều ngự,
leo lên xe ấy, tay trái nắm
lấy dây cương, tay mặt cầm
lấy roi ngựa, có thể đánh xe
ngựa đi tới đi lui, như thế
nào và tại chỗ nào theo ý
mình muốn. Cũng vậy, này các
Tỷ-kheo, Tỷ-kheo học hộ trì,
học chế ngự, học điều ngự,
học tịnh chỉ sáu căn này.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, là
Tỷ-kheo hộ trì các căn.
6) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo tiết độ trong ăn
uống?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chân chánh giác sát thọ dụng
món ăn không phải để vui
đùa, không phải để đam mê,
không phải để trang sức,
không phải để tự làm đẹp
mình, mà chỉ để thân này
được an trú, được bảo dưỡng,
khỏi bị thương hại, để hỗ
trợ Phạm hạnh; vị ấy nghĩ
rằng: "Như vậy, ta diệt trừ
các cảm thọ cũ, không cho
khởi lên các cảm thọ mới, và
ta sẽ không có lỗi lầm, sống
được an lạc".
7) Ví như, này các Tỷ-kheo, một người bôi thuốc vào một vết
thương để chữa lành vết
thương ấy. Ví như một người
bôi dầu vào trục xe với mục
đích để có thể chở đồ nặng.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo,
Tỷ-kheo chân chánh giác sát
thọ dụng món ăn không phải
để vui đùa, không phải để
đam mê, không phải để trang
sức, không phải để tự làm
đẹp mình, mà chỉ để thân này
được an trú, được bảo dưỡng,
khỏi bị thương hại, để hỗ
trợ Phạm hạnh; vị ấy nghĩ
rằng: "Như vậy, ta diệt trừ
các cảm thọ cũ, không cho
khởi lên các cảm thọ mới, và
ta sẽ không có lỗi lầm, sống
được an lạc".
Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo tiết độ trong ăn uống.
8) Và như thế nào, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo chú tâm tỉnh
giác?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ban ngày trong khi đi kinh
hành hay ngồi, tâm trừ sạch
các chướng ngại pháp. Ban
đêm canh một, khi đi kinh
hành hay ngồi, tâm trừ sạch
các chướng ngại pháp. Ban
đêm canh giữa, vị ấy nằm
phía hông bên phải, trong
dáng nằm con sư tử, hai chân
để trên nhau, chánh niệm
tỉnh giác, tác ý đến lúc
thức dậy. Ban đêm trong canh
cuối cùng, vị ấy thức dậy và
trong khi đi kinh hành và
ngồi, tâm trừ sạch các
chướng ngại pháp.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo chú tâm tỉnh giác.
9) Này các Tỷ-kheo, đầy đủ ba pháp ấy, Tỷ-kheo ngay trong
hiện tại, sống nhiều an lạc,
hoan hỷ, và tạo nguyên nhân
bắt đầu đoạn tận các lậu
hoặc.
_ ________________________________________________
Bản dịch của Hoà thượng
Thích Minh Châu
197. I. Rắn Ðộc (S.iv,172)
1-2) Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú ở
Sàvatthi... gọi các
Tỷ-kheo... Thế Tôn nói như
sau:
3) -- Ví như, này các
Tỷ-kheo, có bốn con rắn độc,
với sức nóng tột độ, với nọc
độc mãnh liệt. Rồi có người
đến, muốn sống, không muốn
chết, muốn lạc, ghét khổ.
Người ta nói với người ấy:
"Này Bạn, có bốn con rắn độc
này, với sức nóng tột độ,
với nọc độc mãnh liệt. Thỉnh
thoảng hãy thức chúng dậy,
thỉnh thoảng hãy tắm cho
chúng, thỉnh thoảng hãy cho
chúng ăn, thỉnh thoảng hãy
cho chúng vào huyệt (để
ngủ). Này Bạn, nếu một trong
bốn con rắn độc này, với sức
nóng tột độ, với nọc độc
mãnh liệt, tức giận, thời
này Bạn, Bạn sẽ đi đến chết,
hay đau khổ gần như chết.
Vậy này Bạn, hãy làm những
gì Bạn nghĩ cần phải làm".
4) Rồi này các Tỷ-kheo,
người ấy quá sợ hãi bốn con
rắn độc, với sức nóng tột
độ, với nọc độc mãnh liệt,
chạy trốn chỗ này, chỗ kia.
Người ta nói với người ấy:
"Này Bạn, có năm kẻ sát nhân
thù địch này, đang đi theo
sau lưng Bạn. Chúng nói:
'Khi nào chúng ta thấy nó,
chúng ta sẽ giết nó'. Này
Bạn, hãy làm những gì Bạn
nghĩ là phải làm".
5) Rồi này các Tỷ-kheo,
người ấy quá sợ hãi bốn con
rắn độc ấy, với sức nóng tột
độ, với nọc độc mãnh liệt,
quá sợ hãi năm tên sát nhân
thù địch ấy, chạy đi trốn
chỗ này, chỗ kia. Người ta
nói với người ấy: "Này Bạn,
có một tên thứ sáu cướp nhà,
giết người, với ngọn kiếm dơ
lên, đang đi theo sau lưng
Bạn. Nó nói: 'Khi nào ta
thấy nó, ta sẽ chém đầu nó'.
Này Bạn, hãy làm những gì
Bạn nghĩ là phải làm".
6) Rồi, này các Tỷ-kheo,
người ấy quá sợ hãi bốn con
rắn độc, với sức nóng tột
độ, với nọc độc mãnh liệt,
quá sợ hãi năm tên sát nhân
thù địch, quá sợ hãi tên thứ
sáu cướp nhà, giết người với
ngọn kiếm dơ lên, chạy đi
trốn chỗ này, chỗ kia. Rồi
người ấy thấy một ngôi làng
trống không. Nhà nào người
ấy đi vào, người ấy vào chỗ
trống không, vào chỗ rỗng
không, vào chỗ tuyệt không.
Người ấy sờ đến đồ dùng nào,
người ấy sờ chỗ trống không,
người ấy sờ chỗ rỗng không,
người ấy sờ chỗ tuyệt không.
Người ta nói với người ấy:
"Này Bạn, bọn cướp phá hoại
làng, sẽ đánh cướp ngôi làng
trống không này. Này Bạn,
hãy làm những gì Bạn nghĩ là
phải làm".
7) Rồi này các Tỷ-kheo,
người ấy quá sợ hãi bốn con
rắn độc với sức nóng tột độ,
với nọc độc mãnh liệt, quá
sợ hãi năm tên giết người
thù địch, quá sợ hãi tên thứ
sáu cướp nhà, giết người với
ngọn kiếm dơ lên, quá sợ hãi
các tên cướp làng, liền chạy
đi trốn chỗ này, chỗ kia.
Rồi người ấy thấy một đầm
nước lớn, bờ bên này đầy
những sợ hãi nguy hiểm, bờ
bên kia được an ổn, không có
sợ hãi, nhưng không có
thuyền để vượt qua, không có
cầu để đi qua đi lại.
8) Rồi này các Tỷ-kheo,
người ấy suy nghĩ như sau:
"Ðây là vùng nước đọng, bờ
bên này nguy hiểm và hãi
hùng, bờ bên kia an ổn,
không kinh hãi, nhưng không
có thuyền để vượt qua, cũng
không có cầu bắc qua từ bờ
bên này đến bờ bên kia. Nay
ta hãy thâu góp cỏ cây,
nhành lá, cột lại thành
chiếc bè, nhờ chiếc bè này,
tinh tấn dùng tay chân, ta
có thể vượt qua bờ bên kia
một cách an toàn".
9) Rồi này các Tỷ-kheo,
người ấy thâu góp cỏ cây,
nhành lá, cột lại thành
chiếc bè, nhờ chiếc bè này,
tinh tấn dùng tay chân,
người ấy vượt qua bờ bên kia
một cách an toàn. Vị
Bà-la-môn vượt qua bờ bên
kia, đứng trên đất liền.
10) Ví dụ này, này các
Tỷ-kheo, Ta làm để giải
thích ý nghĩa. Và đây là ý
nghĩa:
11) Bốn con rắn độc với sức
nóng tột độ, với nọc độc
mãnh liệt, này các Tỷ-kheo,
là đồng nghĩa với bốn đại
chủng: địa đại, thủy đại,
hỏa đại và phong đại.
12) Năm tên giết người thù
địch, này các Tỷ-kheo, là
đồng nghĩa với năm thủ uẩn:
sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn,
tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn,
thức thủ uẩn.
13) Tên thứ sáu cướp nhà,
giết người với cây kiếm giơ
lên, này các Tỷ-kheo, là
đồng nghĩa với dục tham.
14) Ngôi làng trống không,
này các Tỷ-kheo, là đồng
nghĩa với sáu nội xứ. Này
các Tỷ-kheo, nếu một người
hiền, kinh nghiệm, có trí,
tìm hiểu nó với con mắt; vị
ấy thấy nó là trống không,
là rỗng không, là tuyệt
không... Nếu tìm hiểu nó với
ý; vị ấy thấy nó là trống
không, là rỗng không, là
tuyệt không.
15) Bọn cướp phá làng, này
các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa
với sáu ngoại xứ. Này các
Tỷ-kheo, mắt bị tàn hại
trong các sắc khả ái và
không khả ái. Này các
Tỷ-kheo, tai bị tàn hại
trong các tiếng khả ái và
không khả ái. Này các
Tỷ-kheo, mũi bị tàn hại
trong các hương khả ái và
không khả ái. Này các
Tỷ-kheo, lưỡi bị tàn hại
trong các vị khả ái và không
khả ái. Này các Tỷ-kheo,
thân bị tàn hại trong các
xúc khả ái và không khả ái.
Này các Tỷ-kheo, ý bị tàn
hại trong các pháp khả ái và
không khả ái.
16) Vùng nước lớn, này các
Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với
bốn bộc lưu: dục bộc lưu,
hữu bộc lưu, kiến bộc lưu và
vô minh bộc lưu.
17) Bờ bên này nguy hiểm và
hãi hùng, này các Tỷ-kheo,
là đồng nghĩa với thân kiến
này.
18) Bờ bên kia an ổn và
không kinh hãi, này các
Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với
Niết-bàn.
19) Cái bè, này các Tỷ-kheo,
là đồng nghĩa với Thánh đạo
Tám ngành.
20) Tinh tấn dùng tay và
dùng chân, này các Tỷ-kheo,
là đồng nghĩa với tinh tấn,
tinh cần.
21) Vị Bà-la-môn vượt qua bờ
bên kia và đứng trên đất
liền, này các Tỷ-kheo, là
đồng nghĩa với bậc A-la-hán. -ooOoo- |