BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Ba, ngày 24 tháng 06, 2025

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập III – Chương 35. Tương Ưng Sáu Xứ - Phẩm Rắn Độc- SN 35.239.
Bài 442.TINH LUYỆN TRONG ĐỜI SỐNG TU TẬP - Kinh Ví Dụ Xe Ngựa (Rathopamasuttaṃ) .
...
****** http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-442.jpg









http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png

 

Cuộc tu thường được hiểu là nếp sống theo lý tưởng. Điều nầy thường dẫn tới sự thiếu vắng sự ứng dụng cụ thể. Đức Phật chỉ rõ con đường trung đạo với nếp sống hài hoà tỉnh thức lợi lạc cả hai phương diện thân tâm. Sự an lạc đích thực không phải là nếp sống nhàn hạ mà chính là sự sung mãn nội lực. Hạnh phúc không đến từ những niềm vui nhất thời mà khéo xây dựng trên căn bản. Một xa phu lão luyện điều khiển xe ngựa chaỵ như ý muốn phải trải qua công phu đào luyện. Thành quả của sự an lạc đích thực trong cuộc sống cần hảo công phu.

KINH VĂN

239. “tīhi, bhikkhave, dhammehi samannāgato bhikkhu diṭṭheva dhamme sukhasomanassabahulo viharati, yoni cassa āraddhā hoti āsavānaṃ khayāya. katamehi tīhi? indriyesu guttadvāro hoti, bhojane mattaññū, jāgariyaṃ anuyutto.

 “kathañca, bhikkhave, bhikkhu indriyesu guttadvāro hoti? idha, bhikkhave, bhikkhu cakkhunā rūpaṃ disvā na nimittaggāhī hoti, nānubyañjanaggāhī; yatvādhikaraṇamenaṃ cakkhundriyaṃ asaṃvutaṃ viharantaṃ abhijjhādomanassā pāpakā akusalā dhammā anvāssaveyyuṃ. tassa saṃvarāya paṭipajjati; rakkhati cakkhundriyaṃ; cakkhundriye saṃvaraṃ āpajjati. sotena saddaṃ sutvā... ghānena gandhaṃ ghāyitvā... jivhāya rasaṃ sāyitvā... kāyena phoṭṭhabbaṃ phusitvā... manasā dhammaṃ viññāya na nimittaggāhī hoti nānubyañjanaggāhī; yatvādhikaraṇamenaṃ manindriyaṃ asaṃvutaṃ viharantaṃ abhijjhādomanassā pāpakā akusalā dhammā anvāssaveyyuṃ, tassa saṃvarāya paṭipajjati; rakkhati manindriyaṃ; manindriye saṃvaraṃ āpajjati. seyyathāpi, bhikkhave, subhūmiyaṃ cātumahāpathe ājaññaratho yutto assa ṭhito odhastapatodo {odhatapatodo (syā. kaṃ.), odhasatapatodo (pī.)} . tamenaṃ dakkho yoggācariyo assadammasārathi abhiruhitvā vāmena hatthena rasmiyo gahetvā, dakkhiṇena hatthena patodaṃ gahetvā, yenicchakaṃ yadicchakaṃ sāreyyapi paccāsāreyyapi. evameva kho, bhikkhave, bhikkhu imesaṃ channaṃ indriyānaṃ ārakkhāya sikkhati, saṃyamāya sikkhati, damāya sikkhati, upasamāya sikkhati. evaṃ kho, bhikkhave, bhikkhu indriyesu guttadvāro hoti.

“kathañca, bhikkhave, bhikkhu bhojane mattaññū hoti? idh

“Này chư Tỳ khưu, với ba pháp, một Tỳ khưu sống đầy hỷ lạc ngay trong đời sống hiện tại, và đã đặt nền tảng cho sự diệt trừ các lậu hoặc. Ba pháp ấy là gì? Đó là: biết hộ trì các căn môn, biết tiết độ trong ăn uống, và tinh cần tỉnh giác trong sinh hoạt.

Và này chư Tỳ khưu, thế nào là Tỳ khưu biết hộ trì các căn môn? Ở đây, khi thấy sắc bằng mắt, Tỳ khưu không chấp thủ vào tướng chung và tướng riêng. Vì nếu để mắt không được chế ngự, các pháp bất thiện như tham ái và sân hận có thể xâm nhập. Do vậy, vị ấy thực hành phương pháp chế ngự, hộ trì nhãn căn, thọ trì việc chế ngự nhãn căn. Khi nghe âm thanh bằng tai … ngửi hương bằng mũi … nếm vị bằng lưỡi … xúc chạm bằng thân … nhận thức pháp trần bằng ý, vị Tỳ khưu cũng không nắm giữ tướng chung và tướng riêng. Vì nếu để ý căn không được chế ngự, các pháp bất thiện như tham ái và sân hận có thể xâm nhập. Do vậy, vị ấy thực hành chế ngự ý căn, hộ trì ý căn, thọ trì việc chế ngự ý căn.

Ví như, này chư Tỳ khưu, một chiếc xe ngựa được cột với những con ngựa thuần thục, đứng sẵn trên đất bằng ở ngã tư đường, và người đánh xe có roi trong tay. Người huấn luyện ngựa thuần thục ấy bước lên xe, tay trái cầm dây cương, tay phải cầm roi, rồi điều khiển xe đi về bất cứ hướng nào mình muốn, bất cứ lúc nào. Cũng vậy, Tỳ khưu tu tập để hộ trì sáu căn môn này, tu tập để điều phục chúng, huấn luyện chúng, làm cho chúng an tịnh. Này chư Tỳ khưu, đó là cách một Tỳ khưu hộ trì các căn môn.

Và này chư Tỳ khưu, thế nào là Tỳ khưu biết tiết độ trong ăn uống? Ở đây, vị ấy suy xét chánh niệm và trí tuệ khi thọ thực, không vì mục đích vui chơi, không vì đắm say, không vì làm đẹp thân thể hay làm tăng vẻ quyến rũ, mà chỉ vì để duy trì và nuôi dưỡng thân này, để dứt trừ khổ thọ, hỗ trợ đời sống phạm hạnh, với tư duy: ‘Như vậy, ta sẽ đoạn trừ cảm thọ cũ, không khởi lên cảm thọ mới, ta sẽ sống không bệnh, không lỗi, và an lạc.’ Ví như người thoa thuốc lên vết thương chỉ để vết thương lành, hoặc tra dầu vào trục bánh xe chỉ để xe chuyển vận, cũng vậy, Tỳ khưu với chánh niệm và trí tuệ thọ thực chỉ để hỗ trợ đời sống phạm hạnh. Này chư Tỳ khưu, đó là cách một Tỳ khưu tiết độ trong ăn uống.

Và này chư Tỳ khưu, thế nào là Tỳ khưu chuyên tâm tỉnh thức? Ở đây, ban ngày, khi đi kinh hành hay khi ngồi, vị ấy tịnh hóa tâm khỏi các pháp chướng ngại. Trong canh đầu của đêm, khi đi kinh hành hay khi ngồi, vị ấy tịnh hóa tâm khỏi các pháp chướng ngại. Trong canh giữa, vị ấy nằm nghiêng bên phải theo thế sư tử nằm, chân này chồng lên chân kia, chánh niệm và tỉnh giác, ghi nhớ ý định thức dậy trong tâm. Sau khi thức dậy, trong canh cuối của đêm, vị ấy tiếp tục đi kinh hành hoặc ngồi, tịnh hóa tâm khỏi các pháp chướng ngại. Này chư Tỳ khưu, đó là cách một Tỳ khưu chuyên tâm canh thức.

Này chư Tỳ khưu, với ba pháp này, một Tỳ khưu sống đầy hỷ lạc trong hiện tại và đã đặt nền móng cho sự đoạn tận các lậu hoặc.”

Chú Thích

Ba pháp hộ trì các căn môn, biết tiết độ trong ăn uống, và tinh cần tỉnh giác trong sinh hoạt là ba phương châm tu tập căn bản của người xuất gia về cả hai phương diện giáo nghĩa và luật nghi.

Ở mỗi pháp đều có nhưng chi tiết cần lưu tâm để ứng dụng.

Bài kinh nầy cho thấy sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa sự huân tu thiền quán vipassana và những pháp như thu thúc lục căn, quán tưởng khi thọ dụng… Mặc dù ngày nay nhiều trường thiền chỉ đặc biệt chú trọng riêng pháp tu thiền quán. (…)

Bản Sớ giải của kinh nầy rất dài. Một số được lược bớt để tập trung vào ý chính.

Sớ Giải

239. dutiye sukhasomanassabahuloti kāyikasukhañceva cetasikasomanassañca bahulaṃ assāti sukhasomanassabahulo. yoni cassa āraddhā hotīti kāraṇañcassa paripuṇṇaṃ hoti. āsavānaṃ khayāyāti idha āsavakkhayoti arahattamaggo adhippeto, tadatthāyāti attho. odhastapatodoti rathamajjhe tiriyaṃ ṭhapitapatodo. yenicchakanti yena disābhāgena icchati. yadicchakanti yaṃ yaṃ gamanaṃ icchati. sāreyyāti peseyya. paccāsāreyyāti paṭivinivatteyya. ārakkhāyāti rakkhaṇatthāya. saṃyamāyāti veganiggahaṇatthāya. damāyāti nibbisevanatthāya. upasamāyāti kilesūpasamatthāya.

evameva khoti ettha yathā akusalassa sārathino adante sindhave yojetvā visamamaggena rathaṃ pesentassa cakkānipi bhijjanti, akkhopi sindhavānañca khurā, attanāpi anayabyasanaṃ pāpuṇāti, na ca icchiticchitena gamanena sāretuṃ sakkoti; evaṃ chasu indriyesu aguttadvāro bhikkhu na icchiticchitaṃ samaṇaratiṃ anubhavituṃ sakkoti. yathā pana cheko sārathi dante sindhave yojetvā, same bhūmibhāge rathaṃ otāretvā rasmiyo gahetvā, sindhavānaṃ khuresu satiṃ ṭhapetvā, patodaṃ ādāya nibbisevane katvā, pesento icchiticchitena gamanena sāreti. evameva chasu indriyesu guttadvāro bhikkhu imasmiṃ sāsane icchiticchitaṃ samaṇaratiṃ anubhoti, sace aniccānupassanābhimukhaṃ ñāṇaṃ pesetukāmo hoti, tadabhimukhaṃ ñāṇaṃ gacchati. dukkhānupassanādīsupi eseva nayo.

 bhojane mattaññūti bhojanamhi pamāṇaññū. tattha dve pamāṇāni — paṭiggahaṇapamāṇañca paribhogapamāṇañca. tattha paṭiggahaṇapamāṇe dāyakassa vaso veditabbo, deyyadhammassa vaso veditabbo, attano thāmo jānitabbo. evarūpo hi bhikkhu sace deyyadhammo bahuko hoti, dāyako appaṃ dātukāmo, dāyakassa vasena appaṃ gaṇhāti. deyyadhammo appo, dāyako bahuṃ dātukāmo, deyyadhammassa vasena appaṃ gaṇhāti. deyyadhammopi bahu, dāyakopi bahuṃ dātukāmo, attano thāmaṃ ñatvā pamāṇena gaṇhāti. so tāya paṭiggahaṇe mattaññutāya anuppannañca lābhaṃ uppādeti, uppannañca thāvaraṃ karoti dhammikatissamahārājakāle sattavassiko sāmaṇero viya.

rañño kira pañcahi sakaṭasatehi guḷaṃ āhariṃsu. rājā “manāpo paṇṇākāro, ayyehi vinā na khādissāmā”ti aḍḍhateyyāni sakaṭasatāni mahāvihāraṃ pesetvā sayampi bhuttapātarāso agamāsi. bheriyā pahaṭāya dvādasa bhikkhusahassāni sannipatiṃsu. rājā ekamante ṭhito ārāmikaṃ pakkosāpetvā āha — “rañño nāma dāne pattapūrova pamāṇaṃ, gahitabhājanaṃ pūretvāva dehi, sace koci mattapaṭiggahaṇe ṭhito na gaṇhāti, mayhaṃ āroceyyāsī”ti.

 atheko mahāthero “mahābodhimahācetiyāni vandissāmī”ti cetiyapabbatā āgantvā, vihāraṃ pavisanto mahāmaṇḍapaṭṭhāne bhikkhū guḷaṃ gaṇhante disvā pacchato āgacchantaṃ sāmaṇeraṃ āha, “natthi te guḷena attho”ti. “āma, bhante, natthī”ti. sāmaṇera mayaṃ maggakilantā, ekena kapiṭṭhaphalamattena piṇḍakena amhākaṃ atthoti. sāmaṇero thālakaṃ nīharitvā therassa vassaggapaṭipāṭiyaṃ aṭṭhāsi. ārāmiko gahaṇamānaṃ pūretvā ukkhipi, sāmaṇero aṅguliṃ cālesi. tāta sāmaṇera, rājakulānaṃ dāne bhājanapūrameva pamāṇaṃ, thālakapūraṃ gaṇhāhīti. āma, upāsaka, rājāno nāma mahajjhāsayā honti, amhākaṃ pana upajjhāyassa ettakeneva atthoti.

rājā tassa kathaṃ sutvā, “kiṃ bho sāmaṇero bhaṇatī”ti? tassa santikaṃ gato. ārāmiko āha — “sāmi, sāmaṇerassa bhājanaṃ khuddakaṃ, bahuṃ na gaṇhātī”ti. rājā āha, “ānītabhājanaṃ pūretvā gaṇhatha, bhante”ti. mahārāja, rājāno nāma mahajjhāsayā honti, ukkhittabhājanaṃ pūretvāva dātukāmā, amhākaṃ pana upajjhāyassa ettakeneva atthoti. rājā cintesi — “ayaṃ sattavassikadārako, ajjāpissa mukhato khīragandho na muccati, gahetvā kuṭe vā kuṭumbe vā pūretvā svepi punadivasepi khādissāmāti na vadati, sakkā buddhasāsanaṃ pariggahetun”ti purise āṇāpesi, “bho, pasannomhi sāmaṇerassa, itarānipi aḍḍhateyyāni sakaṭasatāni ānetvā saghaṃssa dethā”ti.

soyeva pana rājā ekadivasaṃ tittiramaṃsaṃ khāditukāmo cintesi — “sace ahaṃ aṅgārapakkaṃ tittiramaṃsaṃ khāditukāmosmīti aññassa kathessāmi, samantā yojanaṭṭhāne tittirasamugghātaṃ karissantī”ti uppannaṃ pipāsaṃ adhivāsento tīṇi saṃvaccharāni vītināmesi. athassa kaṇṇesu pubbo saṇṭhāsi, so adhivāsetuṃ asakkonto “atthi nu kho, bho, amhākaṃ koci upaṭṭhākupāsako sīlarakkhako”ti pucchi. āma, deva, atthi, tisso nāma so akhaṇḍasīlaṃ rakkhatīti. atha naṃ vīmaṃsitukāmo pakkosāpesi. so āgantvā rājānaṃ vanditvā aṭṭhāsi. tato naṃ āha — “tvaṃ, tāta, tisso nāmā”ti? “āma devā”ti. tena hi gacchāti. tasmiṃ gate ekaṃ kukkuṭaṃ āharāpetvā ekaṃ purisaṃ āṇāpesi, “gaccha tissaṃ vadāhi, imaṃ tīhi pākehi pacitvā amhākaṃ upaṭṭhāpehī”ti. so gantvā tathā avoca. so āha — “sace, bho, ayaṃ matako assa, yathā jānāmi, tathā pacitvā upaṭṭhaheyyaṃ. pāṇātipātaṃ panāhaṃ na karomī”ti. so āgantvā rañño ārocesi.

rājā puna “ekavāraṃ gacchā”ti pesesi. so gantvā, “bho, rājupaṭṭhānaṃ nāma bhāriyaṃ, mā evaṃ kari, punapi sīlaṃ sakkā samādātuṃ, pacetan”ti āha. atha naṃ tisso avoca, “bho, ekasmiṃ nāma attabhāve dhuvaṃ ekaṃ maraṇaṃ, nāhaṃ pāṇātipātaṃ karissāmī”ti. so punapi rañño ārocesi. rājā tatiyampi pesetvā asampaṭicchantaṃ pakkosāpetvā attanā pucchi. raññopi tatheva paṭivacanaṃ adāsi. atha rājā purise āṇāpesi, “ayaṃ rañño āṇaṃ kopeti, gacchathetassa āghātanabhaṇḍikāyaṃ ṭhapetvā, sīsaṃ chindathā”ti. raho ca pana nesaṃ saññamadāsi — “imaṃ santajjayamānā netvā sīsamassa āghātanabhaṇḍikāyaṃ ṭhapetvā āgantvā mayhaṃ ārocethā”ti.

te taṃ āghātanabhaṇḍikāyaṃ nipajjāpetvā tamassa kukkuṭaṃ hatthesu ṭhapayiṃsu. so taṃ hadaye ṭhapetvā “ahaṃ, tāta, mama jīvitaṃ tuyhaṃ demi, tava jīvitaṃ ahaṃ gaṇhāmi, tvaṃ nibbhayo gacchā”ti vissajjesi. kukkuṭo pakkhe papphoṭetvā ākāsena gantvā vaṭarukkhe nilīyi. tassa kukkuṭassa abhayadinnaṭṭhānaṃ kukkuṭagiri nāma jātaṃ.

rājā taṃ pavattiṃ sutvā amaccaputtaṃ pakkosāpetvā sabbābharaṇehi alaṅkaritvā āha — “tāta, mayā tvaṃ etadatthameva vīmaṃsito, mayhaṃ tittiramaṃsaṃ khāditukāmassa tīṇi saṃvaccharāni atikkantāni, sakkhissasi me tikoṭiparisuddhaṃ katvā upaṭṭhāpetun”ti. “etaṃ nāma, deva, mayhaṃ kamman”ti nikkhamitvā dvārantare ṭhito ekaṃ purisaṃ pātova tayo tittire gahetvā pavisantaṃ disvā, dve kahāpaṇe datvā tittire ādāya parisodhetvā, jīrakādīhi vāsetvā, aṅgāresu supakke pacitvā rañño upaṭṭhāpesi. rājā mahātale sirīpallaṅke nisinnova ekaṃ gahetvā thokaṃ chinditvā mukhe pakkhipi, tāvadevassa sattarasaharaṇīsahassāni pharitvā aṭṭhāsi.

tasmiṃ samaye bhikkhusaṅghaṃ saritvā, “mādiso nāma pathavissaro rājā tittiramaṃsaṃ khāditukāmo tīṇi saṃvaccharāni na labhi, apaccamāno bhikkhusaṅgho kuto labhissatī”ti? mukhe pakkhittakkhaṇḍaṃ bhūmiyaṃ chaḍḍesi. amaccaputto jaṇṇukehi patitvā mukhena gaṇhi. rājā “apehi, tāta, jānāmahaṃ tava niddosabhāvaṃ, iminā nāma kāraṇena mayā etaṃ chaḍḍitan”ti kathetvā, “sesakaṃ tatheva saṅgopetvā ṭhapehī”ti āha.

punadivase rājakulūpako thero piṇḍāya pāvisi. amaccaputto taṃ disvā pattaṃ gahetvā rājagehaṃ pavesesi. aññataro vuḍḍhapabbajitopi therassa pacchāsamaṇo viya hutvā anubandhanto pāvisi. thero “raññā pakkosāpitabhikkhu bhavissatī”ti pamajji. amaccaputtopi “therassa upaṭṭhāko bhavissatī”ti pamādaṃ āpajji. tesaṃ nisīdāpetvā yāguṃ adaṃsu. yāguyā pītāya rājā tittire upanesi. thero ekaṃ gaṇhi, itaropi ekaṃ gaṇhi. rājā “anubhāgo atthi, anāpucchitvā khādituṃ na yuttan”ti mahātheraṃ āpucchi. thero hatthaṃ pidahi, mahallakatthero sampaṭicchi. rājā anattamano hutvā katabhattakiccaṃ theraṃ pattaṃ ādāya anugacchanto āha — “bhante, kulagehaṃ āgacchantehi uggahitavattaṃ bhikkhuṃ gahetvā āgantuṃ vaṭṭatī”ti. thero tasmiṃ khaṇe aññāsi “na esa raññā pakkosāpito”ti.

punadivase upaṭṭhākasāmaṇeraṃ gahetvā pāvisi. rājā tadāpi yāguyā pītāya tittire upanāmesi. thero ekaṃ aggahesi, sāmaṇero aṅguliṃ cāletvā majjhe chindāpetvā ekakoṭṭhāsameva aggahesi. rājā taṃ koṭṭhāsaṃ mahātherassa upanāmesi. mahāthero hatthaṃ pidahi, sāmaṇeropi pidahi. rājā avidūre nisīditvā khaṇḍākhaṇḍaṃ chinditvā khādanto “uggahitavatte nissāya diyaḍḍhatittire khādituṃ labhimhā”ti āha. tassa maṃse khāditamatteva kaṇṇehi pubbo nikkhami. tato mukhaṃ vikkhāletvā sāmaṇeraṃ upasaṅkamitvā, “pasannosmi, tāta, aṭṭha te dhuvabhattāni demī”ti āha. ahaṃ, mahārāja, upajjhāyassa dammīti. aparāni aṭṭha demīti. tāni amhākaṃ ācariyassa dammīti. aparānipi aṭṭha demīti. tāni samānupajjhāyānaṃ dammīti. aparānipi aṭṭha demīti. tāni bhikkhusaṅghassa dammīti. aparānipi aṭṭha demīti. sāmaṇero adhivāsesi. evaṃ paṭiggahaṇamattaṃ jānanto anuppannañceva lābhaṃ uppādeti, uppannañca thāvaraṃ karoti. idaṃ paṭiggahaṇapamāṇaṃ nāma. tattha paribhogapamāṇaṃ paccavekkhaṇapayojanaṃ, “idamatthiyaṃ bhojanaṃ bhuñjāmī”ti pana paccavekkhitaparibhogasseva payojanattā paribhogapamāṇaṃyeva nāma, taṃ idha adhippetaṃ. teneva paṭisaṅkhā yonisotiādimāha, itarampi pana vaṭṭatiyeva.

sīhaseyyanti ettha kāmabhogiseyyā, petaseyyā, sīhaseyyā, tathāgataseyyāti catasso seyyā. tattha “yebhuyyena, bhikkhave, kāmabhogī vāmena passena sentī”ti (a. ni. 4.246) ayaṃ kāmabhogiseyyā. tesañhi yebhuyyena dakkhiṇapassena sayāno nāma natthi.

“yebhuyyena, bhikkhave, petā uttānā sentī”ti (a. ni. 4.246) ayaṃ petaseyyā. petā hi appamaṃsalohitattā aṭṭhisaṅghāṭajaṭitā ekena passena sayituṃ na sakkonti, uttānāva sayanti.

“yebhuyyena, bhikkhave, sīho migarājā naṅguṭṭhaṃ antarasatthimhi anupakkhipitvā dakkhiṇena passena sayatī”ti ayaṃ sīhaseyyā. tejussadattā hi sīho migarājā dve purimapāde ekasmiṃ, pacchimapāde ekasmiṃ ṭhāne ṭhapetvā naṅguṭṭhaṃ antarasatthimhi pakkhipitvā purimapādapacchimapādanaṅguṭṭhānaṃ ṭhitokāsaṃ sallakkhetvā dvinnaṃ purimapādānaṃ matthake sīsaṃ ṭhapetvā sayati, divasampi sayitvā pabujjhamāno na utrasanto pabujjhati, sīsaṃ pana ukkhipitvā purimapādādīnaṃ ṭhitokāsaṃ sallakkheti. sace kiñci ṭhānaṃ vijahitvā ṭhitaṃ hoti, “nayidaṃ tuyhaṃ jātiyā sūrabhāvassa ca anurūpan”ti anattamano hutvā tattheva sayati, na gocarāya pakkamati. avijahitvā ṭhite pana “tuyhaṃ jātiyā ca sūrabhāvassa ca anurūpamidan”ti haṭṭhatuṭṭho uṭṭhāya sīhavijambhitaṃ vijambhitvā kesarabhāraṃ vidhunitvā tikkhattuṃ sīhanādaṃ naditvā gocarāya pakkamati.

catutthajjhānaseyyā pana tathāgataseyyāti vuccati. tāsu idha sīhaseyyā āgatā. ayañhi tejussadairiyāpathattā uttamaseyyā nāma.

pāde pādanti dakkhiṇapāde vāmapādaṃ. accādhāyāti atiādhāya, īsakaṃ atikkamma ṭhapetvā. gopphakena hi gopphake, jāṇunā vā jāṇumhi saṅghaṭṭiyamāne abhiṇhaṃ vedanā uppajjati, cittaṃ ekaggaṃ na hoti, seyyā aphāsukā hoti. yathā pana na saṅghaṃṭṭeti, evaṃ atikkamma ṭhapite vedanā nuppajjati, cittaṃ ekaggaṃ hoti, seyyā phāsukā hoti. tasmā evaṃ seyyaṃ kappeti.

sato sampajānoti satiyā ceva sampajaññena ca samannāgato. kathaṃ niddāyanto sato sampajāno hotīti? satisampajaññassa appahānena. ayañhi divasañceva sakalayāmañca āvaraṇīyehi dhammehi cittaṃ parisodhetvā paṭhamayāmāvasāne caṅkamā oruyha pāde dhovantopi mūlakammaṭṭhānaṃ avijahantova dhovati, taṃ avijahantova dvāraṃ vivarati, mañce nisīdati, avijahantova niddaṃ okkamati. pabujjhanto pana mūlakammaṭṭhānaṃ gahetvāva pabujjhati. evaṃ niddaṃ okkamantopi sato sampajāno hoti. evaṃ pana ñāṇadhātukanti na rocayiṃsu.

vuttanayena panesa cittaṃ parisodhetvā paṭhamayāmāvasāne “upādinnakaṃ sarīraṃ niddāya samassāsessāmī”ti caṅkamā oruyha mūlakammaṭṭhānaṃ avijahantova pāde dhovati, dvāraṃ vivarati, mañce pana nisīditvā mūlakammaṭṭhānaṃ pahāya, “khandhāva khandhesu, dhātuyova dhātūsu paṭihaññantī”ti senāsanaṃ paccavekkhanto kamena niddaṃ okkamati, pabujjhanto pana mūlakammaṭṭhānaṃ gahetvāva pabujjhati. evaṃ niddaṃ okkamantopi sato sampajāno nāma hotīti veditabbo.

iti imasmiṃ sutte tivaṅgikā pubbabhāgavipassanāva kathitā. ettakeneva pana vosānaṃ anāpajjitvā tāneva indriyabalabojjhaṅgāni samodhānetvā vipassanaṃ vaḍḍhetvā bhikkhu arahattaṃ pāpuṇātīti. evaṃ yāva arahattā desanā kathetabbā.

“Sukhasomanassabahulo” nghĩa là có nhiều hỷ lạc, gồm thân an (kāyikasukha) và tâm hỷ lạc (cetasikasomanassa). "Yoni cassa āraddhā hoti" nghĩa là căn nguyên (nguyên nhân) đã đầy đủ. "Āsavānaṃ khayāya" ở đây chỉ đạo quả A-la-hán, tức là con đường đưa đến sự đoạn tận các lậu hoặc.

“Patoda” là roi điều khiển ngựa được đặt ngang trên xe. “Yenicchakaṃ” là theo hướng nào mình muốn, “yadicchakaṃ” là muốn đi cách nào thì đi cách ấy. “Sāreyya” là sẽ điều khiển, “paccāsāreyya” là quay ngược lại. "Ārakkhāya" để phòng hộ, "saṃyamāya" để kiểm soát tốc độ, "damāya" để thuần hóa, và "upasamāya" để làm lắng dịu phiền não.

Ví như người đánh xe vụng về điều khiển xe với ngựa chưa thuần trên đường gồ ghề thì sẽ bị hỏng trục xe, gãy bánh, ngựa bị thương và bản thân cũng gặp nạn — không thể điều khiển theo ý muốn. Cũng vậy, vị Tỳ khưu không hộ trì sáu căn thì không thể hưởng được niềm an lạc của đời sống phạm hạnh. Ngược lại, người đánh xe khéo léo, dùng dây cương, có roi, có tránh né, sẽ điều khiển xe theo đúng hướng. Cũng vậy, vị Tỳ khưu hộ trì căn môn có thể hướng tâm mình đến quán vô thường hay khổ hay vô ngã theo đúng ý muốn.

Có hai loại hạn lượng: 1) Hạn lượng khi nhận vật thực (paṭiggahaṇapamāṇa), 2) Hạn lượng khi sử dụng (paribhogapamāṇa).

Khi nhận vật thực:

  • Nếu phẩm vật nhiều, thí chủ muốn cho ít → nhận ít theo ý thí chủ.
  • Nếu phẩm vật ít, thí chủ muốn cho nhiều → nhận ít theo khả năng vật thực.
  • Nếu cả hai đều nhiều → nhận theo sức mình.

Vị ấy nhờ sự hiểu biết đúng mức khi nhận vật thực mà có thể phát sinh tài sản chưa có, làm vững chắc cái đã có.

Chuyện về vị sa di bảy tuổi thời vua Dhammika là một ví dụ minh họa.Vua dâng đường phèn cho đại chúng Tỳ khưu. Một chú tiểu vì tôn kính thầy nên chỉ lấy một ít. Vua rất cảm động, sau đó cho mang tiếp 350 xe đường để dâng lên Tăng chúng gồm 12 ngàn vị tỳ khưu. Sau đó, vua muốn thử đạo đức một cư sĩ tên Tissa bằng cách sai giết chim cút. Tissa từ chối vì không muốn phạm giới sát. Vua tức giận, định chém đầu, nhưng người lính giả vờ thi hành án. Tissa tha cho con vật và vua cảm phục đức hạnh. (bản dịch giản lược đoạn nầy)

5. Sự kiểm soát trong tư thế nằm: Có bốn kiểu nằm: nằm như người hưởng dục lạc (trái bên), như ngạ quỷ (nằm ngửa), như sư tử (bên phải, đuôi giữa hai chân), và như đức Phật (nhập định). Ở đây là nói đến tư thế nằm sư tử (sīhaseyyā) — uy nghi, cẩn trọng, không dễ bị rơi vào mê mờ.

6. Quán sát khi đi ngủ: Khi nằm xuống, vị ấy vẫn giữ chánh niệm, không buông bỏ đề mục thiền. Khi thức dậy, tâm liền trở lại đề mục cũ. Đây là trạng thái “sato sampajāno” — tỉnh giác và có sự nhận biết rõ ràng ngay cả khi ngủ.

Bài kinh này trình bày rõ thiền minh sát (pubbabhāgavipassanā) trong ba yếu tố: hộ trì sáu căn, tiết độ ăn uống, canh thức tỉnh giác. Khi tiếp tục phát triển năm căn, năm lực, bảy giác chi, thì sẽ đạt đến A-la-hán quả.

 Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

198. II. Hỷ Lạc (S.iv,175)

1-2) ...

3) -- Này các Tỷ-kheo, đầy đủ được ba pháp ấy, một Tỷ-kheo ngay trong hiện tại, sống nhiều an lạc, hoan hỷ, và tạo nguyên nhân bắt đầu đoạn tận các lậu hoặc. Thế nào là ba? Hộ trì các căn, tiết độ trong ăn uống và chú tâm tỉnh giác.

4) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo hộ trì các căn? Ở đây, này các Tỷ-kheo, khi mắt thấy sắc, Tỷ-kheo không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì khiến nhãn căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, Tỷ-kheo tự chế ngự những nguyên nhân ấy, hộ trì nhãn căn, thực hành hộ trì nhãn căn. Khi tai nghe tiếng... mũi ngửi hương... lưỡi nếm vị... thân cảm xúc.... ý nhận thức các pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì khiến ý căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, Tỷ-kheo tự chế ngự những nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành hộ trì ý căn.

5) Ví như, này các Tỷ-kheo, trên đất bằng, tại chỗ ngã tư, có chiếc xe đang đậu, thắng với ngựa hay, có roi ngựa đặc biệt đang sẵn sàng. Có người mã thuật sư thiện xảo, người đánh xe điều ngự các con ngựa đáng được điều ngự, leo lên xe ấy, tay trái nắm lấy dây cương, tay mặt cầm lấy roi ngựa, có thể đánh xe ngựa đi tới đi lui, như thế nào và tại chỗ nào theo ý mình muốn. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo học hộ trì, học chế ngự, học điều ngự, học tịnh chỉ sáu căn này. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo hộ trì các căn.

6) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo tiết độ trong ăn uống?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chân chánh giác sát thọ dụng món ăn không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để tự làm đẹp mình, mà chỉ để thân này được an trú, được bảo dưỡng, khỏi bị thương hại, để hỗ trợ Phạm hạnh; vị ấy nghĩ rằng: "Như vậy, ta diệt trừ các cảm thọ cũ, không cho khởi lên các cảm thọ mới, và ta sẽ không có lỗi lầm, sống được an lạc".

7) Ví như, này các Tỷ-kheo, một người bôi thuốc vào một vết thương để chữa lành vết thương ấy. Ví như một người bôi dầu vào trục xe với mục đích để có thể chở đồ nặng. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chân chánh giác sát thọ dụng món ăn không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để tự làm đẹp mình, mà chỉ để thân này được an trú, được bảo dưỡng, khỏi bị thương hại, để hỗ trợ Phạm hạnh; vị ấy nghĩ rằng: "Như vậy, ta diệt trừ các cảm thọ cũ, không cho khởi lên các cảm thọ mới, và ta sẽ không có lỗi lầm, sống được an lạc".

Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo tiết độ trong ăn uống.

8) Và như thế nào, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo chú tâm tỉnh giác?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ban ngày trong khi đi kinh hành hay ngồi, tâm trừ sạch các chướng ngại pháp. Ban đêm canh một, khi đi kinh hành hay ngồi, tâm trừ sạch các chướng ngại pháp. Ban đêm canh giữa, vị ấy nằm phía hông bên phải, trong dáng nằm con sư tử, hai chân để trên nhau, chánh niệm tỉnh giác, tác ý đến lúc thức dậy. Ban đêm trong canh cuối cùng, vị ấy thức dậy và trong khi đi kinh hành và ngồi, tâm trừ sạch các chướng ngại pháp.

Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo chú tâm tỉnh giác.

9) Này các Tỷ-kheo, đầy đủ ba pháp ấy, Tỷ-kheo ngay trong hiện tại, sống nhiều an lạc, hoan hỷ, và tạo nguyên nhân bắt đầu đoạn tận các lậu hoặc.

 

 

 

 

_________________________________________________

Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

197. I. Rắn Ðộc (S.iv,172)

1-2) Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi... gọi các Tỷ-kheo... Thế Tôn nói như sau:

3) -- Ví như, này các Tỷ-kheo, có bốn con rắn độc, với sức nóng tột độ, với nọc độc mãnh liệt. Rồi có người đến, muốn sống, không muốn chết, muốn lạc, ghét khổ. Người ta nói với người ấy: "Này Bạn, có bốn con rắn độc này, với sức nóng tột độ, với nọc độc mãnh liệt. Thỉnh thoảng hãy thức chúng dậy, thỉnh thoảng hãy tắm cho chúng, thỉnh thoảng hãy cho chúng ăn, thỉnh thoảng hãy cho chúng vào huyệt (để ngủ). Này Bạn, nếu một trong bốn con rắn độc này, với sức nóng tột độ, với nọc độc mãnh liệt, tức giận, thời này Bạn, Bạn sẽ đi đến chết, hay đau khổ gần như chết. Vậy này Bạn, hãy làm những gì Bạn nghĩ cần phải làm".

4) Rồi này các Tỷ-kheo, người ấy quá sợ hãi bốn con rắn độc, với sức nóng tột độ, với nọc độc mãnh liệt, chạy trốn chỗ này, chỗ kia. Người ta nói với người ấy: "Này Bạn, có năm kẻ sát nhân thù địch này, đang đi theo sau lưng Bạn. Chúng nói: 'Khi nào chúng ta thấy nó, chúng ta sẽ giết nó'. Này Bạn, hãy làm những gì Bạn nghĩ là phải làm".

5) Rồi này các Tỷ-kheo, người ấy quá sợ hãi bốn con rắn độc ấy, với sức nóng tột độ, với nọc độc mãnh liệt, quá sợ hãi năm tên sát nhân thù địch ấy, chạy đi trốn chỗ này, chỗ kia. Người ta nói với người ấy: "Này Bạn, có một tên thứ sáu cướp nhà, giết người, với ngọn kiếm dơ lên, đang đi theo sau lưng Bạn. Nó nói: 'Khi nào ta thấy nó, ta sẽ chém đầu nó'. Này Bạn, hãy làm những gì Bạn nghĩ là phải làm".

6) Rồi, này các Tỷ-kheo, người ấy quá sợ hãi bốn con rắn độc, với sức nóng tột độ, với nọc độc mãnh liệt, quá sợ hãi năm tên sát nhân thù địch, quá sợ hãi tên thứ sáu cướp nhà, giết người với ngọn kiếm dơ lên, chạy đi trốn chỗ này, chỗ kia. Rồi người ấy thấy một ngôi làng trống không. Nhà nào người ấy đi vào, người ấy vào chỗ trống không, vào chỗ rỗng không, vào chỗ tuyệt không. Người ấy sờ đến đồ dùng nào, người ấy sờ chỗ trống không, người ấy sờ chỗ rỗng không, người ấy sờ chỗ tuyệt không. Người ta nói với người ấy: "Này Bạn, bọn cướp phá hoại làng, sẽ đánh cướp ngôi làng trống không này. Này Bạn, hãy làm những gì Bạn nghĩ là phải làm".

7) Rồi này các Tỷ-kheo, người ấy quá sợ hãi bốn con rắn độc với sức nóng tột độ, với nọc độc mãnh liệt, quá sợ hãi năm tên giết người thù địch, quá sợ hãi tên thứ sáu cướp nhà, giết người với ngọn kiếm dơ lên, quá sợ hãi các tên cướp làng, liền chạy đi trốn chỗ này, chỗ kia. Rồi người ấy thấy một đầm nước lớn, bờ bên này đầy những sợ hãi nguy hiểm, bờ bên kia được an ổn, không có sợ hãi, nhưng không có thuyền để vượt qua, không có cầu để đi qua đi lại.

8) Rồi này các Tỷ-kheo, người ấy suy nghĩ như sau: "Ðây là vùng nước đọng, bờ bên này nguy hiểm và hãi hùng, bờ bên kia an ổn, không kinh hãi, nhưng không có thuyền để vượt qua, cũng không có cầu bắc qua từ bờ bên này đến bờ bên kia. Nay ta hãy thâu góp cỏ cây, nhành lá, cột lại thành chiếc bè, nhờ chiếc bè này, tinh tấn dùng tay chân, ta có thể vượt qua bờ bên kia một cách an toàn".

9) Rồi này các Tỷ-kheo, người ấy thâu góp cỏ cây, nhành lá, cột lại thành chiếc bè, nhờ chiếc bè này, tinh tấn dùng tay chân, người ấy vượt qua bờ bên kia một cách an toàn. Vị Bà-la-môn vượt qua bờ bên kia, đứng trên đất liền.

10) Ví dụ này, này các Tỷ-kheo, Ta làm để giải thích ý nghĩa. Và đây là ý nghĩa:

11) Bốn con rắn độc với sức nóng tột độ, với nọc độc mãnh liệt, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với bốn đại chủng: địa đại, thủy đại, hỏa đại và phong đại.

12) Năm tên giết người thù địch, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với năm thủ uẩn: sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn.

13) Tên thứ sáu cướp nhà, giết người với cây kiếm giơ lên, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với dục tham.

14) Ngôi làng trống không, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với sáu nội xứ. Này các Tỷ-kheo, nếu một người hiền, kinh nghiệm, có trí, tìm hiểu nó với con mắt; vị ấy thấy nó là trống không, là rỗng không, là tuyệt không... Nếu tìm hiểu nó với ý; vị ấy thấy nó là trống không, là rỗng không, là tuyệt không.

15) Bọn cướp phá làng, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với sáu ngoại xứ. Này các Tỷ-kheo, mắt bị tàn hại trong các sắc khả ái và không khả ái. Này các Tỷ-kheo, tai bị tàn hại trong các tiếng khả ái và không khả ái. Này các Tỷ-kheo, mũi bị tàn hại trong các hương khả ái và không khả ái. Này các Tỷ-kheo, lưỡi bị tàn hại trong các vị khả ái và không khả ái. Này các Tỷ-kheo, thân bị tàn hại trong các xúc khả ái và không khả ái. Này các Tỷ-kheo, ý bị tàn hại trong các pháp khả ái và không khả ái.

16) Vùng nước lớn, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với bốn bộc lưu: dục bộc lưu, hữu bộc lưu, kiến bộc lưu và vô minh bộc lưu.

17) Bờ bên này nguy hiểm và hãi hùng, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với thân kiến này.

18) Bờ bên kia an ổn và không kinh hãi, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với Niết-bàn.

19) Cái bè, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với Thánh đạo Tám ngành.

20) Tinh tấn dùng tay và dùng chân, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với tinh tấn, tinh cần.

21) Vị Bà-la-môn vượt qua bờ bên kia và đứng trên đất liền, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với bậc A-la-hán.

-ooOoo-