|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Tư, ngày 25 tháng 06, 2025
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
... ******
Người tu tập luôn phải đối phó với ma chướng. Một
phương cách an toàn là biết
đâu là chốn bình an thật sự.
Phòng hộ sáu căn và biết
hướng nội là cách vượt qua
những chi phối thô tế. Một
người khéo tu sẽ ít bị chi
phối mà cũng ít có thái độ
trách móc phiền hà vì khi
nội tâm đủ an tịnh sẽ sung
mãn. Sự bất mãn chỉ là dấu
hiệu của vết thương không
được băng bó chăm sóc cẩn
thận để tự chuốc lấy phiền
luỵ.
KINH VĂN
240. “bhūtapubbaṃ, bhikkhave, kummo kacchapo sāyanhasamayaṃ
anunadītīre gocarapasuto
ahosi. siṅgālopi {sigālopi
(sī. syā. kaṃ. pī.)} kho,
bhikkhave, sāyanhasamayaṃ
anunadītīre gocarapasuto
ahosi. addasā kho,
bhikkhave, kummo kacchapo
siṅgālaṃ dūratova
gocarapasutaṃ. disvāna
soṇḍipañcamāni aṅgāni sake
kapāle samodahitvā
appossukko tuṇhībhūto
saṅkasāyati. siṅgālopi kho,
bhikkhave, addasa kummaṃ
kacchapaṃ dūratova
gocarapasutaṃ. disvāna yena
kummo kacchapo
tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā
kummaṃ kacchapaṃ
paccupaṭṭhito ahosi —
‘yadāyaṃ kummo kacchapo
soṇḍipañcamānaṃ aṅgānaṃ
aññataraṃ vā aññataraṃ vā
aṅgaṃ abhininnāmessati,
tattheva naṃ gahetvā
uddālitvā khādissāmī’ti.
yadā kho, bhikkhave, kummo
kacchapo soṇḍipañcamānaṃ
aṅgānaṃ aññataraṃ vā
aññataraṃ vā aṅgaṃ na
abhininnāmi, atha siṅgālo
kummamhā nibbijja pakkāmi,
otāraṃ alabhamāno.
“evameva kho, bhikkhave, tumhepi māro pāpimā satataṃ samitaṃ
paccupaṭṭhito — ‘appeva
nāmāhaṃ imesaṃ cakkhuto vā
otāraṃ labheyyaṃ ... pe ...
jivhāto vā otāraṃ labheyyaṃ
... pe ... manato vā otāraṃ
labheyyan’ti. tasmātiha,
bhikkhave, indriyesu
guttadvārā viharatha.
cakkhunā rūpaṃ disvā mā
nimittaggāhino ahuvattha, mā
anubyañjanaggāhino.
yatvādhikaraṇamenaṃ
cakkhundriyaṃ asaṃvutaṃ
viharantaṃ abhijjhādomanassā
pāpakā akusalā dhammā
anvāssaveyyuṃ, tassa
saṃvarāya paṭipajjatha,
rakkhatha cakkhundriyaṃ,
cakkhundriye saṃvaraṃ
āpajjatha. sotena saddaṃ
sutvā... ghānena gandhaṃ
ghāyitvā... jivhāya rasaṃ
sāyitvā... kāyena
phoṭṭhabbaṃ phusitvā...
manasā dhammaṃ viññāya mā
nimittaggāhino ahuvattha, mā
anubyañjanaggāhino.
yatvādhikaraṇamenaṃ
manindriyaṃ asaṃvutaṃ
viharantaṃ abhijjhādomanassā
pāpakā akusalā dhammā
anvāssaveyyuṃ, tassa
saṃvarāya paṭipajjatha,
rakkhatha manindriyaṃ,
manindriye saṃvaraṃ
āpajjatha. yato tumhe,
bhikkhave, indriyesu
guttadvārā viharissatha,
atha tumhehipi māro pāpimā
nibbijja pakkamissati,
otāraṃ alabhamāno —
kummamhāva siṅgālo”ti.
“kummo aṅgāni sake kapāle,
samodahaṃ bhikkhu manovitakke.
anissito aññamaheṭhayāno,
parinibbuto nūpavadeyya kañcī”ti. tatiyaṃ.
“Này chư Tỳ khưu, thuở xưa có một con rùa đang tìm thức ăn dọc theo bờ
sông vào buổi chiều. Cũng
vào lúc đó, một con chó rừng
cũng đang tìm thức ăn cũng
nơi ấy. Khi con rùa từ xa
trông thấy con chó rừng đang
tìm thức ăn, nó liền thu bốn
chân và cổ vào trong mai,
rồi nằm yên lặng bất động.
Con chó rừng cũng đã trông thấy con rùa từ xa đang tìm thức ăn, nên nó
tiến đến gần và chờ đợi,
nghĩ rằng: ‘Khi con rùa này
duỗi ra một chân nào đó hay
cổ của nó, ta sẽ lập tức
chộp lấy, lôi ra và ăn
thịt.’ Nhưng vì con rùa
không duỗi ra bất kỳ chân
hay cổ nào, nên con chó rừng
không thể nào tiếp cận được,
đành từ bỏ ý định và bỏ đi.
Cũng vậy, này chư Tỳ khưu, Ác Ma luôn chực chờ gần bên các con với suy
nghĩ: ‘Biết đâu ta có thể
tiếp cận vị này qua con mắt,
hoặc qua lỗ tai… hoặc qua
tâm ý.’ Vì vậy, này chư Tỳ
khưu, hãy sống với sự hộ trì
các căn môn. Sau khi thấy
sắc với con mắt, đừng nắm
giữ các tướng và chi tiết
của nó. Bởi vì nếu để mắt
không được phòng hộ, các ác
bất thiện pháp — như tham ái
và bất mãn — có thể xâm nhập
vào. Hãy thực hành pháp chế
ngự, hộ trì nhãn căn, thực
hiện sự phòng hộ đối với
nhãn căn. Sau khi nghe âm
thanh với tai… ngửi mùi với
mũi… nếm vị với lưỡi… xúc
chạm với thân… nhận biết
pháp với tâm, đừng nắm giữ
các tướng và chi tiết của
nó. Bởi vì nếu để tâm ý
không được phòng hộ, các ác
bất thiện pháp — như tham ái
và bất mãn — có thể xâm nhập
vào. Hãy thực hành pháp chế
ngự, hộ trì ý căn, thực hiện
sự phòng hộ đối với ý căn.
Khi chư Tỳ khưu sống với sự hộ trì các căn môn,
Ác Ma không thể nào
tiếp cận được, sẽ từ bỏ ý
định và rời đi, cũng giống
như con chó rừng đã bỏ đi
khi không thể làm gì được
con rùa.”
Như rùa rút vào mai
Chú Thích
Ác ma chính là đối tượng hành giả phải đương đầu. Ác ma ở đây bao gồm cả
ngũ ma; có cả nghĩa đen và
nghĩa bóng; bao gồm hiện
tượng và bản chất; cả cá thể
và phi cá thế.
Nội tâm có tu tập như cái mai rùa là giáp cứng bảo vệ hành giả trước những
chi phối.
Người khéo tu tập sẽ không nặng lòng trách móc khi gặp nghịch cảnh, mà
thay vào đó, là sự điềm đạm
hướng nội và luôn giữ được
từ tâm. Trong rất nhiều bài
kinh, Đức Phật đặc biệt đề
cập đến thái độ thường có mà
người tu tập phải cảnh giác
là “khen mình chê người” và
sự bất mãn trách móc khi đối
diện nghịch cảnh.
Sớ Giải
240. tatiye kummoti
aṭṭhikummo. kacchapoti
tasseva vevacanaṃ.
anunadītīreti nadiyā
anutīre. gocarapasutoti
“sace kiñci phalāphalaṃ
labhissāmi, khādissāmī”ti
gocaratthāya pasuto ussukko
tannibandho. samodahitvāti
samugge viya pakkhipitvā.
saṅkasāyatīti acchati.
samodahanti samodahanto
ṭhapento. idaṃ vuttaṃ hoti —
yathā kummo aṅgāni sake
kapāle samodahanto
siṅgālassa otāraṃ na deti,
na ca naṃ siṅgālo pasahati,
evaṃ bhikkhu attano
manovitakke sake
ārammaṇakapāle samodahanto
kilesamārassa otāraṃ na
deti, na ca naṃ māro
pasahati.
anissitoti
taṇhādiṭṭhinissayehi
anissito. aññamaheṭhayānoti
aññaṃ kañci puggalaṃ
aviheṭhento. parinibbutoti
kilesaparinibbānena
parinibbuto. nūpavadeyya
kañcīti aññaṃ kañci puggalaṃ
sīlavipattiyā vā
ācāravipattiyā vā attānaṃ
ukkaṃsetukāmatāya vā paraṃ
vambhetukāmatāya vā na
upavadeyya, aññadatthu pañca
dhamme ajjhattaṃ
upaṭṭhapetvā, “kālena
vakkhāmi, no akālena,
bhūtena vakkhāmi, no
abhūtena, saṇhena vakkhāmi,
no pharusena, atthasaṃhitena
vakkhāmi, no
anatthasaṃhitena, mettacitto
vakkhāmi, no dosantaro”ti
evaṃ
ullumpanasabhāvasaṇṭhiteneva
cittena viharati.
240. Trong bài kinh thứ thứ ba, “kummo” (con rùa) có nghĩa là “aṭṭhikummo” (rùa xương). “Kacchapo” là từ đồng nghĩa với “kummo”. |