BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Tư, ngày 25 tháng 06, 2025

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập III – Chương 35. Tương Ưng Sáu Xứ - Phẩm Rắn Độc- SN 35.240. Bài 443.MỘT CHỐN BÌNH AN - Kinh Ví Dụ Con Rùa (Kummopamasuttaṃ) .
...
****** http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-443.jpg









http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png

 Người tu tập luôn phải đối phó với ma chướng. Một phương cách an toàn là biết đâu là chốn bình an thật sự. Phòng hộ sáu căn và biết hướng nội là cách vượt qua những chi phối thô tế. Một người khéo tu sẽ ít bị chi phối mà cũng ít có thái độ trách móc phiền hà vì khi nội tâm đủ an tịnh sẽ sung mãn. Sự bất mãn chỉ là dấu hiệu của vết thương không được băng bó chăm sóc cẩn thận để tự chuốc lấy phiền luỵ.

KINH VĂN

240. “bhūtapubbaṃ, bhikkhave, kummo kacchapo sāyanhasamayaṃ anunadītīre gocarapasuto ahosi. siṅgālopi {sigālopi (sī. syā. kaṃ. pī.)} kho, bhikkhave, sāyanhasamayaṃ anunadītīre gocarapasuto ahosi. addasā kho, bhikkhave, kummo kacchapo siṅgālaṃ dūratova gocarapasutaṃ. disvāna soṇḍipañcamāni aṅgāni sake kapāle samodahitvā appossukko tuṇhībhūto saṅkasāyati. siṅgālopi kho, bhikkhave, addasa kummaṃ kacchapaṃ dūratova gocarapasutaṃ. disvāna yena kummo kacchapo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā kummaṃ kacchapaṃ paccupaṭṭhito ahosi — ‘yadāyaṃ kummo kacchapo soṇḍipañcamānaṃ aṅgānaṃ aññataraṃ vā aññataraṃ vā aṅgaṃ abhininnāmessati, tattheva naṃ gahetvā uddālitvā khādissāmī’ti. yadā kho, bhikkhave, kummo kacchapo soṇḍipañcamānaṃ aṅgānaṃ aññataraṃ vā aññataraṃ vā aṅgaṃ na abhininnāmi, atha siṅgālo kummamhā nibbijja pakkāmi, otāraṃ alabhamāno.

“evameva kho, bhikkhave, tumhepi māro pāpimā satataṃ samitaṃ paccupaṭṭhito — ‘appeva nāmāhaṃ imesaṃ cakkhuto vā otāraṃ labheyyaṃ ... pe ... jivhāto vā otāraṃ labheyyaṃ ... pe ... manato vā otāraṃ labheyyan’ti. tasmātiha, bhikkhave, indriyesu guttadvārā viharatha. cakkhunā rūpaṃ disvā mā nimittaggāhino ahuvattha, mā anubyañjanaggāhino. yatvādhikaraṇamenaṃ cakkhundriyaṃ asaṃvutaṃ viharantaṃ abhijjhādomanassā pāpakā akusalā dhammā anvāssaveyyuṃ, tassa saṃvarāya paṭipajjatha, rakkhatha cakkhundriyaṃ, cakkhundriye saṃvaraṃ āpajjatha. sotena saddaṃ sutvā... ghānena gandhaṃ ghāyitvā... jivhāya rasaṃ sāyitvā... kāyena phoṭṭhabbaṃ phusitvā... manasā dhammaṃ viññāya mā nimittaggāhino ahuvattha, mā anubyañjanaggāhino. yatvādhikaraṇamenaṃ manindriyaṃ asaṃvutaṃ viharantaṃ abhijjhādomanassā pāpakā akusalā dhammā anvāssaveyyuṃ, tassa saṃvarāya paṭipajjatha, rakkhatha manindriyaṃ, manindriye saṃvaraṃ āpajjatha. yato tumhe, bhikkhave, indriyesu guttadvārā viharissatha, atha tumhehipi māro pāpimā nibbijja pakkamissati, otāraṃ alabhamāno — kummamhāva siṅgālo”ti.

“kummo aṅgāni sake kapāle,

samodahaṃ bhikkhu manovitakke.

anissito aññamaheṭhayāno,

parinibbuto nūpavadeyya kañcī”ti. tatiyaṃ.

“Này chư Tỳ khưu, thuở xưa có một con rùa đang tìm thức ăn dọc theo bờ sông vào buổi chiều. Cũng vào lúc đó, một con chó rừng cũng đang tìm thức ăn cũng nơi ấy. Khi con rùa từ xa trông thấy con chó rừng đang tìm thức ăn, nó liền thu bốn chân và cổ vào trong mai, rồi nằm yên lặng bất động.

Con chó rừng cũng đã trông thấy con rùa từ xa đang tìm thức ăn, nên nó tiến đến gần và chờ đợi, nghĩ rằng: ‘Khi con rùa này duỗi ra một chân nào đó hay cổ của nó, ta sẽ lập tức chộp lấy, lôi ra và ăn thịt.’ Nhưng vì con rùa không duỗi ra bất kỳ chân hay cổ nào, nên con chó rừng không thể nào tiếp cận được, đành từ bỏ ý định và bỏ đi.

Cũng vậy, này chư Tỳ khưu, Ác Ma luôn chực chờ gần bên các con với suy nghĩ: ‘Biết đâu ta có thể tiếp cận vị này qua con mắt, hoặc qua lỗ tai… hoặc qua tâm ý.’ Vì vậy, này chư Tỳ khưu, hãy sống với sự hộ trì các căn môn. Sau khi thấy sắc với con mắt, đừng nắm giữ các tướng và chi tiết của nó. Bởi vì nếu để mắt không được phòng hộ, các ác bất thiện pháp — như tham ái và bất mãn — có thể xâm nhập vào. Hãy thực hành pháp chế ngự, hộ trì nhãn căn, thực hiện sự phòng hộ đối với nhãn căn. Sau khi nghe âm thanh với tai… ngửi mùi với mũi… nếm vị với lưỡi… xúc chạm với thân… nhận biết pháp với tâm, đừng nắm giữ các tướng và chi tiết của nó. Bởi vì nếu để tâm ý không được phòng hộ, các ác bất thiện pháp — như tham ái và bất mãn — có thể xâm nhập vào. Hãy thực hành pháp chế ngự, hộ trì ý căn, thực hiện sự phòng hộ đối với ý căn.

Khi chư Tỳ khưu sống với sự hộ trì các căn môn,  Ác Ma không thể nào tiếp cận được, sẽ từ bỏ ý định và rời đi, cũng giống như con chó rừng đã bỏ đi khi không thể làm gì được con rùa.”

Như rùa rút vào mai
Tỳ khưu tâm hướng nội
Tự điều và bất hại
An tịnh, không phiền hà

Chú Thích

Ác ma chính là đối tượng hành giả phải đương đầu. Ác ma ở đây bao gồm cả ngũ ma; có cả nghĩa đen và nghĩa bóng; bao gồm hiện tượng và bản chất; cả cá thể và phi cá thế.

Nội tâm có tu tập như cái mai rùa là giáp cứng bảo vệ hành giả trước những chi phối.

Người khéo tu tập sẽ không nặng lòng trách móc khi gặp nghịch cảnh, mà thay vào đó, là sự điềm đạm hướng nội và luôn giữ được từ tâm. Trong rất nhiều bài kinh, Đức Phật đặc biệt đề cập đến thái độ thường có mà người tu tập phải cảnh giác là “khen mình chê người” và sự bất mãn trách móc khi đối diện nghịch cảnh.

Sớ Giải

 240. tatiye kummoti aṭṭhikummo. kacchapoti tasseva vevacanaṃ. anunadītīreti nadiyā anutīre. gocarapasutoti “sace kiñci phalāphalaṃ labhissāmi, khādissāmī”ti gocaratthāya pasuto ussukko tannibandho. samodahitvāti samugge viya pakkhipitvā. saṅkasāyatīti acchati. samodahanti samodahanto ṭhapento. idaṃ vuttaṃ hoti — yathā kummo aṅgāni sake kapāle samodahanto siṅgālassa otāraṃ na deti, na ca naṃ siṅgālo pasahati, evaṃ bhikkhu attano manovitakke sake ārammaṇakapāle samodahanto kilesamārassa otāraṃ na deti, na ca naṃ māro pasahati.

anissitoti taṇhādiṭṭhinissayehi anissito. aññamaheṭhayānoti aññaṃ kañci puggalaṃ aviheṭhento. parinibbutoti kilesaparinibbānena parinibbuto. nūpavadeyya kañcīti aññaṃ kañci puggalaṃ sīlavipattiyā vā ācāravipattiyā vā attānaṃ ukkaṃsetukāmatāya vā paraṃ vambhetukāmatāya vā na upavadeyya, aññadatthu pañca dhamme ajjhattaṃ upaṭṭhapetvā, “kālena vakkhāmi, no akālena, bhūtena vakkhāmi, no abhūtena, saṇhena vakkhāmi, no pharusena, atthasaṃhitena vakkhāmi, no anatthasaṃhitena, mettacitto vakkhāmi, no dosantaro”ti evaṃ ullumpanasabhāvasaṇṭhiteneva cittena viharati.
 
240. Trong bài kinh thứ thứ ba, “kummo” (con rùa) có nghĩa là “aṭṭhikummo” (rùa xương). “Kacchapo” là từ đồng nghĩa với “kummo”.

  • "Anunadītīre" nghĩa là: ở bờ đối diện của con sông.
  • "Gocarapasuto" có nghĩa là: chuyên chú vào việc tìm thức ăn, với ý nghĩ “Nếu ta tìm được thứ gì — trái cây hay vật thực — ta sẽ ăn”, nên bận rộn, gắn bó với việc tìm kiếm thực phẩm.
  • "Samodahitvā" nghĩa là: thu lại như thể đặt vào trong một giỏ (như thu rút vào bên trong mai).
  • "Saṅkasāyati" nghĩa là: nằm yên.
  • "Samodahanti" nghĩa là: thu lại và giữ yên như vậy.

Đoạn này có thể hiểu là:

“Giống như con rùa rút bốn chân và đầu vào trong mai, không để hở chỗ nào cho chó rừng tấn công, và vì vậy con chó rừng không thể làm gì được, cũng vậy, vị Tỳ khưu (bhikkhu) rút các tư tưởng của mình vào ‘chiếc mai’ là nội tâm tu tập, không để kẻ thù là Ma vương có cơ hội xâm nhập; và vì thế, Ma vương không thể nào làm hại vị ấy.”

[Giải thích thêm các từ trong bài kệ cuối:]

  • "Anissito": không nương tựa vào tham ái hay tà kiến, tức là không bị chi phối bởi chúng.
  • "Aññamaheṭhayāno": không làm hại hay gây tổn thương đến bất kỳ người nào khác.
  • "Parinibbuto": đã đạt đến Niết-bàn qua sự đoạn tận phiền não.
  • "Nūpavadeyya kañci": không phỉ báng hay chỉ trích ai cả — dù vì người ấy có lỗi về giới hay về oai nghi, hoặc vì muốn tự nâng mình lên hay muốn hạ thấp người khác.

Thay vào đó, vị ấy luôn giữ chánh niệm nội tâm và thực hành theo năm tiêu chuẩn của lời nói:

1. Nói đúng lúc (kālena vakkhāmi, no akālena),

2. Nói sự thật (bhūtena vakkhāmi, no abhūtena),

3.    Nói lời nhẹ nhàng (saṇhena vakkhāmi, no pharusena),

4.    Nói có lợi ích (atthasaṃhitena vakkhāmi, no anatthasaṃhitena),

5.    Nói với tâm từ (mettacitto vakkhāmi, no dosantaro).

Vị ấy sống với tâm luôn được nâng đỡ bởi lòng từ và tỉnh giác.

 Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

_____________________________________

Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

199. III. Con Rùa (S.iv,177)

1-2) ...

3) -- Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, có một con rùa, vào buổi chiều, đang đi kiếm mồi dọc theo bờ sông. Một con giả can, này các Tỷ-kheo, vào buổi chiều, cũng đi tìm mồi dọc theo bờ sông.

4) Này các Tỷ-kheo, con rùa từ đàng xa trông thấy con giả can đang đi tìm mồi, thấy vậy liền rụt bốn chân và thứ năm là cổ vào trong mai rùa của mình và nằm bất động, im lặng.

5) Này các Tỷ-kheo, con giả can từ đàng xa trông thấy con rùa, đi đến con rùa sau khi đến, đứng một bên và nghĩ rằng: "Khi nào con rùa này thò ra thân phần nào và cổ là thứ năm, ngay tại chỗ ấy, ta sẽ nắm lấy, bẻ gãy và ăn".

6) Nhưng, này các Tỷ-kheo, vì rằng con rùa không thò ra một thân phần nào và cổ là thứ năm, nên con giả can nhàm chán con rùa và bỏ đi, không nắm được cơ hội.

7) Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Ác ma thường xuyên không gián đoạn, đứng trong tư thế rình mò các Ông với ý nghĩ: "Rất có thể ta nắm được cơ hội để bắt gặp từ con mắt... từ cái lưỡi... hay từ ý".

8) Do vậy, này các Tỷ-kheo, hãy sống hộ trì các căn. Khi mắt thấy sắc, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì khiến nhãn căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, hãy tự chế ngự những nguyên nhân ấy, hộ trì nhãn căn, thực hành hộ trì nhãn căn. Khi tai nghe tiếng... mũi ngửi mùi... lưỡi nếm vị... thân cảm xúc... ý nhận thức các pháp, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì khiến ý căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, hãy tự chế ngự những nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành hộ trì ý căn. Này các Tỷ-kheo, khi nào các Ông sống hộ trì các căn, thời Ác ma nhàm chán các Ông và sẽ bỏ đi, không nắm giữ được cơ hội, như con giả can đối với con rùa.

Như rùa dấu thân phần,
Trong mai rùa của nó.
Cũng vậy, vị Tỷ-kheo,
Thâu nhóm mọi tâm tư,
Không nương tựa một ai,
Không hại một người nào,
Hoàn toàn đạt tịch tịnh,
Không nói xấu một ai.

-ooOoo-