|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Năm, ngày 26 tháng 06, 2025
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
... ******
Không có hành trình cao quý nào hoàn toàn xuôi
chèo mát mái từ đầu đến
cuối. Chắc chắn phải có
những chướng ngại cần vượt
qua. Cuộc tu không ngoại lệ.
Hành giả không thể chủ quan
với niềm tin suông hay ỷ lại
bất cứ tha lực nào hoá giải
những thử thách. Phải hiểu
những cạm bẩy, đặc biệt là
những thứ đến từ nội tại.
Chỉ có những “những bậc nhập
lưu” mới chắc chắn đạt đến
cứu cánh. Tất cả những phàm
nhân phấn đấu đều phải cẩn
trọng với nguyên nhân khiến
bao nhiêu công sức trở thành
‘dã tràng xe cát biển Đông”.
KINH VĂN
241. ekaṃ samayaṃ bhagavā kosambiyaṃ viharati gaṅgāya nadiyā
tīre. addasā kho bhagavā
mahantaṃ dārukkhandhaṃ
gaṅgāya nadiyā sotena
vuyhamānaṃ. disvāna bhikkhū
āmantesi — “passatha no
tumhe, bhikkhave, amuṃ
mahantaṃ dārukkhandhaṃ
gaṅgāya nadiyā sotena
vuyhamānan”ti? “evaṃ,
bhante”. “sace so,
bhikkhave, dārukkhandho na
orimaṃ tīraṃ upagacchati, na
pārimaṃ tīraṃ upagacchati,
na majjhe saṃsīdissati, na
thale ussīdissati, na
manussaggāho gahessati, na
amanussaggāho gahessati, na
āvaṭṭaggāho gahessati, na
antopūti bhavissati; evañhi
so, bhikkhave, dārukkhandho
samuddaninno bhavissati
samuddapoṇo samuddapabbhāro.
taṃ kissa hetu?
samuddaninno, bhikkhave,
gaṅgāya nadiyā soto
samuddapoṇo samuddapabbhāro.
“evameva kho, bhikkhave, sace tumhepi na orimaṃ tīraṃ
upagacchatha, na pārimaṃ
tīraṃ upagacchatha; na
majjhe saṃsīdissatha, na
thale ussīdissatha, na
manussaggāho gahessati, na
amanussaggāho gahessati, na
āvaṭṭaggāho gahessati, na
antopūtī bhavissatha; evaṃ
tumhe, bhikkhave,
nibbānaninnā bhavissatha
nibbānapoṇā nibbānapabbhārā.
taṃ kissa hetu?
nibbānaninnā, bhikkhave,
sammādiṭṭhi nibbānapoṇā
nibbānapabbhārā”ti. evaṃ
vutte, aññataro bhikkhu
bhagavantaṃ etadavoca — “kiṃ
nu kho, bhante, orimaṃ
tīraṃ, kiṃ pārimaṃ tīraṃ, ko
majjhe saṃsādo {saṃsīdo
(ka.), saṃsīdito (syā.
kaṃ.)}, ko thale ussādo, ko
manussaggāho, ko
amanussaggāho, ko
āvaṭṭaggāho, ko
antopūtibhāvo”ti?
“‘orimaṃ tīran’ti kho, bhikkhu, channetaṃ ajjhattikānaṃ
āyatanānaṃ adhivacanaṃ.
‘pārimaṃ tīran’ti kho,
bhikkhu, channetaṃ bāhirānaṃ
āyatanānaṃ adhivacanaṃ.
‘majjhe saṃsādo’ti kho,
bhikkhu, nandīrāgassetaṃ
adhivacanaṃ. ‘thale
ussādo’ti kho, bhikkhu,
asmimānassetaṃ adhivacanaṃ.
“katamo ca, bhikkhu, manussaggāho? idha, bhikkhu, gihīhi
saṃsaṭṭho {gihisaṃsaṭṭho
(ka.)} viharati, sahanandī
sahasokī, sukhitesu sukhito,
dukkhitesu dukkhito,
uppannesu kiccakaraṇīyesu
attanā tesu yogaṃ āpajjati.
ayaṃ vuccati, bhikkhu,
manussaggāho.
“katamo ca, bhikkhu, amanussaggāho? idha, bhikkhu, ekacco
aññataraṃ devanikāyaṃ
paṇidhāya brahmacariyaṃ
carati — ‘imināhaṃ sīlena vā
vatena vā tapena vā
brahmacariyena vā devo vā
bhavissāmi devaññataro
vā’ti. ayaṃ vuccati,
bhikkhu, amanussaggāho.
‘āvaṭṭaggāho’ti kho,
bhikkhu, pañcannetaṃ
kāmaguṇānaṃ adhivacanaṃ.
“katamo ca, bhikkhu, antopūtibhāvo? idha, bhikkhu, ekacco
dussīlo hoti pāpadhammo
asucisaṅkassarasamācāro
paṭicchannakammanto assamaṇo
samaṇapaṭiñño abrahmacārī
brahmacāripaṭiñño antopūti
avassuto kasambujāto. ayaṃ
vuccati, bhikkhu,
‘antopūtibhāvo’”ti.
tena kho pana samayena nando gopālako bhagavato avidūre
ṭhito hoti. atha kho nando
gopālako bhagavantaṃ
etadavoca — “ahaṃ kho,
bhante, na orimaṃ tīraṃ
upagacchāmi, na pārimaṃ
tīraṃ upagacchāmi, na majjhe
saṃsīdissāmi, na thale
ussīdissāmi, na maṃ
manussaggāho gahessati, na
amanussaggāho gahessati, na
āvaṭṭaggāho gahessati, na
antopūti bhavissāmi.
labheyyāhaṃ, bhante,
bhagavato santike pabbajjaṃ,
labheyyaṃ upasampadan”ti.
“tena hi tvaṃ, nanda,
sāmikānaṃ gāvo niyyātehī”ti
{nīyyādehīti (sī.),
niyyādehīti (syā. kaṃ. pī.)}
. “gamissanti, bhante, gāvo
vacchagiddhiniyo”ti.
“niyyāteheva tvaṃ, nanda,
sāmikānaṃ gāvo”ti. atha kho
nando gopālako sāmikānaṃ
gāvo niyyātetvā yena bhagavā
tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā
bhagavantaṃ etadavoca —
“niyyātitā {niyyātā (syā.
kaṃ. ka. sī. aṭṭha.)},
bhante, sāmikānaṃ gāvo.
labheyyāhaṃ, bhante,
bhagavato santike pabbajjaṃ,
labheyyaṃ upasampadan”ti.
alattha kho nando gopālako
bhagavato santike pabbajjaṃ,
alattha upasampadaṃ.
acirūpasampanno ca panāyasmā
nando eko vūpakaṭṭho ... pe
... aññataro ca panāyasmā
nando arahataṃ ahosīti.
catutthaṃ.
Một thuở Đức Tôn đang trú tại Kosambī, bên bờ sông Hằng. Lúc bấy giờ, Thế
Tôn nhìn thấy một khúc gỗ
lớn đang trôi theo dòng nước
sông Hằng, liền gọi chư Tỳ
khưu và nói:
“Này chư Tỳ khưu, các thầy có thấy khúc
gỗ lớn kia đang trôi theo
dòng sông Hằng không?”
“Bạch Thế Tôn, vâng, chúng con thấy.”
“Này chư Tỳ khưu, nếu khúc gỗ ấy:
1.
không bị tấp vào bờ gần,
2.
không tấp vào bờ xa,
3.
không chìm giữa dòng,
4.
không bị mắc cạn trên chỗ nước nông,
5.
không bị con người với lên,
6.
không bị phi nhân giữ lấy,
7.
không bị cuốn vào nước xoáy,
8.
và không bị hư mục từ bên trong,
thì nó sẽ hướng
và trôi xuôi về biển cả.
Vì sao vậy? Vì dòng nước sông Hằng vốn
chảy xuôi hướng về biển cả.
Cũng vậy, này chư Tỳ khưu, nếu các
thầy:
1.
không bị tấp vào bờ gần,
2.
không tấp vào bờ xa,
3.
không chìm giữa dòng,
4.
không bị mắc cạn trên chỗ nước nông,
5.
không bị con người với lên,
6.
không bị phi nhân giữ lấy,
7.
không bị cuốn vào nước xoáy,
8.
và không bị hư mục từ bên trong,
thì các thầy cũng sẽ hướng và trôi xuôi
về Niết-bàn.
Vì sao vậy? Vì chánh kiến vốn hướng và
trôi xuôi về Niết-bàn.”
Lúc ấy, một Tỳ khưu hỏi Thế Tôn:
“Bạch Thế Tôn, thế nào là bờ gần? Thế
nào là bờ xa? Thế nào là
chìm giữa dòng? Thế nào là
mắc cạn chỗ nước nông? Thế
nào là bị người với lên, bị
phi nhân giữ lấy, bị cuốn
vào xoáy nước, và hư mục từ
bên trong?”
Đức Thế Tôn đáp:
“Bờ gần, này Tỳ khưu, là sáu căn nội
(mắt, tai, mũi, lưỡi, thân,
ý).
Bờ xa là sáu trần ngoại (sắc, thanh,
hương, vị, xúc, pháp).
Chìm giữa dòng là hỷ lạc và ái dục.
Mắc cạn chỗ nước nông chỉ cho kiêu mạn
‘ta là’.
“Bị người với lên là: một người sống
gần gũi với cư sĩ, vui buồn
theo họ, vui khi họ vui,
buồn khi họ buồn, và dính
mắc vào việc đời, bổn phận,
trách nhiệm của họ. Đó gọi
là bị người với lên.
Bị phi nhân giữ lấy là: một người hành
trì phạm hạnh với mong cầu
được tái sinh vào cõi trời,
nghĩ rằng: ‘Với giới hạnh,
hạnh nguyện, khổ hạnh, hay
phạm hạnh này, ta sẽ trở
thành chư thiên.’ Đó gọi là
bị phi nhân giữ lấy.
Bị cuốn vào xoáy nước là: bị cuốn vào
năm trần dục lạc (sắc,
thanh, hương, vị, xúc hấp
dẫn).
Hư mục từ bên trong là: một người bất
thiện, tà hạnh, có hành vi
giả dối, bí mật, tự xưng là
phạm hạnh nhưng không thật
sự sống phạm hạnh, tự xưng
là độc cư nhưng không chân
thật, thối nát từ bên trong,
bại hoại. Đó gọi là hư mục
từ bên trong.”
Bấy giờ có người chăn bò tên là Nanda đang đứng gần Thế Tôn. Nanda bạch
Thế Tôn:
“Bạch Thế Tôn, con sẽ không bị tấp vào
bờ gần,
không tấp vào bờ xa,
không chìm giữa dòng,
không bị mắc cạn trên chỗ
nước nông, không bị con
người với lên, không bị phi
nhân giữ lấy, không bị cuốn
vào nước xoáy, và không bị
hư mục từ bên trong. Cúi xin
Thế Tôn cho con xuất gia,
thọ đại giới.”
Thế Tôn bảo:
“Nanda, hãy giao bò lại cho chủ của
chúng.”
“Bạch Thế Tôn, đàn bò sẽ tự về chuồng
vì nhớ con của chúng.”
Thế Tôn vẫn bảo:
“Nanda, hãy giao bò lại cho chủ của
chúng.”
Rồi người chăn bò Nanda giao bò lại cho chủ, quay lại, đảnh lễ Thế Tôn và
thưa:
“Bạch Thế Tôn, con đã trả bò cho chủ.
Xin Thế Tôn cho con xuất
gia, thọ giới.”
Và người chăn bò Nanda được Thế Tôn cho xuất gia và thọ đại giới. Không
bao lâu sau khi thọ giới,
sống viễn ly, nhiệt tâm,
tinh cần, không phóng dật…
Tôn giả Nanda đã trở thành
một vị A-la-hán.
242. Thí Dụ Khúc Gỗ
Lớn II
242. ekaṃ samayaṃ bhagavā
kimilāyaṃ {kimbilāyaṃ (sī.
pī.), kimmilāyaṃ (syā.
kaṃ.)} viharati gaṅgāya
nadiyā tīre. addasā kho
bhagavā mahantaṃ
dārukkhandhaṃ gaṅgāya nadiyā
sotena vuyhamānaṃ. disvāna
bhikkhū āmantesi — “passatha
no tumhe, bhikkhave, amuṃ
mahantaṃ dārukkhandhaṃ
gaṅgāya nadiyā sotena
vuyhamānan”ti? “evaṃ bhante”
... pe ... evaṃ vutte,
āyasmā kimilo bhagavantaṃ
etadavoca — kiṃ nu kho,
bhante, orimaṃ tīraṃ ... pe
... katamo ca, kimila,
antopūtibhāvo. idha, kimila,
bhikkhu aññataraṃ
saṃkiliṭṭhaṃ āpattiṃ āpanno
hoti yathārūpāya āpattiyā na
vuṭṭhānaṃ paññāyati. ayaṃ
vuccati, kimila,
antopūtibhāvoti. pañcamaṃ.
Tám khúc gỗ và tám loại người không thể đến được “biển lớn Niết-bàn”
1. Khúc gỗ thối nát tại chỗ – Tà kiến
Giống như khúc gỗ mọc gần sông, bị mối mọt, côn trùng ăn mòn, không thể
rời chỗ, mục rữa mà không
trôi được,
2. Gốc bên ngoài, cành bên trong – Tu sĩ hình thức, tâm còn nặng thế tục
Giống như cây mọc bên bờ, rễ hướng ra ngoài (đời), cành hướng vào trong
(đạo),
3. Cây giữa dòng bị dây leo buộc – Tu sai chỗ, lệch hướng
Người sống trong Tăng đoàn nhưng sống bằng tà mạng, nương vào tài sản của
Tăng để mưu cầu danh lợi.
4. Khúc gỗ bị vùi trong cát – Lười biếng, ham hưởng
Người ham ăn, lười tu, không học, không hành, sống buông lung, để cho năm
triền cái (ngũ triền cái)
như các loài thú dữ xâu xé
tinh thần.
5. Mắc giữa hai tảng đá – Chấp thủ tà kiến
Người cố chấp các quan điểm sai lầm, ví dụ: "Niết-bàn vẫn có sắc", "Tâm
vẫn tồn tại sau khi chết",
hoặc "Người đắc đạo vẫn còn
thọ nghiệp"...
6. Bị nâng dựng đứng lên trời – Người già xuất gia, tu hời hợt
Người già mới xuất gia, ít tiếp xúc Tăng đoàn, ít nghe pháp, sống nơi hẻo
lánh, thi thoảng mới tiếp
xúc đạo pháp, nên không đủ
duyên hành trì sâu sắc.
7. Cây yếu mềm, chỉ biết múa theo sóng – Người nhẹ dạ, chỉ biết vui miệng
Người có khả năng nói pháp, giọng dịu ngọt, được người cư sĩ quý mến,
nhưng không thật sự hành
trì, chỉ thích danh tiếng.
8. Khúc gỗ chắn ngang dòng, đầy rác – Tu sĩ dính mắc vào tài sản Tăng
Người tích lũy quyền lực và vật chất nhờ vào Tăng đoàn, trở thành trung
tâm, kiểm soát tài sản, thu
hút kẻ xấu, bị ô uế bởi lòng
tham, sân, si. Chú Thích
Hai bài kinh Ví Dụ Khúc Gỗ Lớn có điểm khác biệt ở điều thứ 8. Trong điều
nầy ở bài kinh I, sự hư mục
từ bên trong khúc gỗ chỉ cho
sự giả dối không thật ở sự
sự tu tập. Ở bài kinh thứ
hai chỉ cho sự liên quan tới
giới luật. Có những học giới
không thể phục vị như bốn
bất cộng trụ (ba la di).
Có nhiều đệ tử Phật tên Nanda. Vị tôn giả trong kinh I được gọi là Nanda
Gopālaka (Nanda người chăn
bò).
Gopālaka không mang ý
nghĩa tầm thường như trẻ em
chăn bò (hay mục đồng) trong
tiếng Việt hay đậm chất
Hollywood như từ “cao bồi –
cowboy” trong văn hoá Mỹ. Đó
là một nghề nghiệp cần nhiều
kỹ năng để chăm sóc một đàn
bò lớn. Nghề nghiệp gopālaka
được đề cập nhiều trong kinh
điển Pāli.
Tôn giả Kimbilā - được viết trong chánh văn là
Kimila - người xuất thân từ
Kimbilā đôi khi gọi là
Setthiputta Kimbila
để phân biệt với Tôn
giả Kimbila – nguyên là một
hoàng tử dòng Thích Ca.
Đây là pháp thoại mà Đức Phật nêu rõ những chướng duyên khiến một người tu
tập bị ngăn ngại không hoàn
tất được hành trình đến chỗ
giải thoát rốt ráo.
Đức Phật đặc biệt lưu ý chánh kiến có hiệu năng xuôi hướng về sự chứng đạt
Niết bàn như dòng sông chảy
từ thượng nguồn ra biển.
Nhưng không phải hễ có chánh
kiến mà không bị chướng
ngại. Hành trình tu tập vẫn
bị dở dang nếu không vượt
qua những thử thách.
Bản Sớ giải của bài kinh nầy hơi lạ. Chú thích rất dài như một tiểu luận.
Chi pháp không tương đồng
với chánh kinh. Bản Sớ giải
mang hình thức như một huấn
thị của vị trưởng lão dành
cho Tăng chúng trong một tu
viện. Có thể dùng bản Sớ
giải để tham khảo thêm ý
nhưng không có những chú
thích rạch ròi cho chánh
kinh.
Sớ Giải
241. catutthe addasāti gaṅgātīre paññattavarabuddhāsane nisinno addasa.
vuyhamānanti caturassaṃ
tacchetvā pabbatantare
ṭhapitaṃ vātātapena
suparisukkhaṃ pāvussake
meghe vassante udakena
uplavitvā anupubbena gaṅgāya
nadiyā sote patitaṃ tena
sotena vuyhamānaṃ. bhikkhū
āmantesīti “iminā
dārukkhandhena sadisaṃ katvā
mama sāsane saddhāpabbajitaṃ
kulaputtaṃ dassessāmī”ti
dhammaṃ desetukāmatāya
āmantesi. amuṃ mahantaṃ
dārukkhandhaṃ gaṅgāya nadiyā
sotena vuyhamānanti idaṃ
pana aṭṭhadosavimuttattā
sotapaṭipannassa
dārukkhandhassa apare
samuddapattiyā antarāyakare
aṭṭha dose dassetuṃ ārabhi.
♦ tatrassa evaṃ
aṭṭhadosavimuttatā veditabbā
— eko hi gaṅgāya nadiyā
avidūre pabbatatale jāto
nānāvallīhi paliveṭhito
paṇḍupalāsataṃ āpajjitvā
upacikādīhi khajjamāno
tasmiṃyeva ṭhāne
apaṇṇattikabhāvaṃ gacchati,
ayaṃ dārukkhandho gaṅgaṃ
otaritvā vaṅkaṭṭhānesu
vilāsamāno sāgaraṃ patvā
maṇivaṇṇe ūmipiṭṭhe sobhituṃ
na labhati. ♦ aparo
gaṅgātīre bahimūlo antosākho
hutvā jāto, ayaṃ kiñcāpi
kālena kālaṃ olambinīhi
sākhāhi udakaṃ phusati,
bahimūlattā pana gaṅgaṃ
otaritvā vaṅkaṭṭhānesu
vilāsamāno sāgaraṃ patvā
maṇivaṇṇe ūmipiṭṭhe sobhituṃ
na labhati. ♦ aparo majjhe
gaṅgāya jāto, daḷhamūlena
pana suppatiṭṭhito, bahi
cassa gatā vaṅkasākhā
nānāvallīhi ābaddhā, ayampi
daḷhamūlattā bahiddhā
vallīhi ābaddhattā ca gaṅgaṃ
otaritvā ... pe ... sobhituṃ
na labhati. ♦ aparo
patitaṭṭhāneyeva vālikāya
otthaṭo pūtibhāvaṃ āpajjati,
ayampi gaṅgaṃ otaritvā ...
pe ... na labhati. ♦ aparo
dvinnaṃ pāsāṇānaṃ antare
jātattā, sunikhāto viya
niccalo ṭhito, āgatāgataṃ
udakaṃ dvidhā phāleti, ayaṃ
pāsāṇantare suṭṭhu
patiṭṭhitattā gaṅgaṃ
otaritvā ... pe ... na
labhati. ♦ aparo
abbhokāsaṭṭhāne nabhaṃ
pūretvā vallīhi ābaddho
ṭhito. ekaṃ dve saṃvacchare
atikkamitvā āgate mahoghe
sakiṃ vā dvikkhattuṃ vā
temeti, ayampi nabhaṃ
pūretvā ṭhitatāya ceva
ekassa vā dvinnaṃ vā
saṃvaccharānaṃ accayena
sakiṃ vā dvikkhattuṃ vā
temanatāya ca gaṅgaṃ
otaritvā ... pe ... na
labhati. ♦ aparopi majjhe
gaṅgāya dīpake jāto
mudukkhandhasākho oghe āgate
anusotaṃ nipajjitvā, udake
gate sīsaṃ ukkhipitvā,
naccanto viya tiṭṭhati.
yassatthāya sāgaro gaṅgaṃ
evaṃ viya vadati, “bhoti
gaṅge tvaṃ mayhaṃ
candanasārasalaḷasārādīni
nānādārūni āharasi,
dārukkhandhaṃ pana
nāharasī”ti. sulabho esa,
deva, punavāre jānissāmīti.
punavāre tambavaṇṇena
udakena āliṅgamānā viya
āgacchati. sopi tatheva
anusotaṃ nipajjitvā, udake
gate sīsaṃ ukkhipitvā,
naccanto viya tiṭṭhati. ayaṃ
attano mudutāya gaṅgaṃ
otaritvā ... pe ... na
labhati. ♦ aparo gaṅgāya
nadiyā tiriyaṃ patito
vālikāya ottharito
antarasetu viya bahūnaṃ
paccayo jāto, ubhosu tīresu
veḷunaḷakarañjakakudhādayo
uplavitvā tattheva lagganti.
tathā nānāvidhā gacchā
vuyhamānā
bhinnamusalabhinnasuppāhikukkurahatthiassādikuṇapānipi
tattheva lagganti.
mahāgaṅgāpi naṃ āsajja
bhijjitvā dvidhā gacchati,
macchakacchapakumbhīlamakarādayopi
tattheva vāsaṃ kappenti.
ayampi tiriyaṃ patitvā
mahājanassa
paccayattakatabhāvena gaṅgaṃ
otaritvā vaṅkaṭṭhānesu
vilāsamāno sāgaraṃ patvā
maṇivaṇṇe ūmipiṭṭhe sobhituṃ
na labhati.
241. (Bài kinh thứ tư) – Thấy khúc gỗ
Khi Thế Tôn đang ngồi trên pháp tòa cao quý nơi bờ sông Hằng, Ngài thấy
một khúc gỗ lớn bị cuốn trôi
theo dòng nước. Khúc gỗ ấy
là một cây vuông vức được
đẽo gọt, đặt giữa núi đá,
phơi khô dưới gió nắng, và
khi mưa lớn đến, nước cuốn
trôi nó, làm nó trôi lần
theo dòng sông Hằng.
Ngài muốn giảng dạy chư Tỳ khưu bằng cách so sánh hình ảnh khúc gỗ ấy với
một thiện gia nam tử đã xuất
gia theo giáo pháp với niềm
tin, nên Ngài nói:
“Này các Tỳ khưu, các thầy thấy khúc gỗ lớn đang trôi theo dòng sông chứ?”
– và từ đó bắt đầu nói về
tám chướng duyên (aṭṭhadosa)
có thể cản trở người ấy đạt
đến biển lớn là Niết-bàn.
Giải thích tám thứ gỗ:
1. Khúc gỗ mục nát tại chỗ (thối rữa từ
đầu):
Một khúc gỗ sinh ra gần dòng sông, bị dây leo quấn chặt, lá úa vàng, bị
kiến v.v. gặm nhấm và cuối
cùng bị mục nát ngay tại
chỗ. Tượng trưng cho người
có tà kiến, hoài nghi, không
khởi niềm tin nơi giáo pháp.
Dù tiếp cận đạo pháp nhưng
không thể đi đến Niết-bàn.
2. Gốc ở ngoài bờ, cành bên trong:
Một cây mọc trên bờ sông, rễ vươn ra ngoài, cành vươn vào trong. Dù cành
đôi khi chạm nước, nhưng do
gốc không cắm trong dòng,
nên cuối cùng không thể trôi
về biển. Tượng trưng cho
người vẫn gắn bó với đời
sống thế tục, như cư sĩ đội
lốt tu sĩ, tuy hình thức là
tu sĩ nhưng tâm vẫn hướng về
gia đình, tài sản.
3. Cắm chắc giữa dòng, nhưng bị dây leo
quấn:
Khúc gỗ có gốc bám chắc vào đá giữa dòng, nhưng cành nhánh bị dây leo rối
rắm. Tượng trưng cho người
đã xuất gia đúng pháp, nhưng
bị dính mắc vào các hệ lụy,
lợi dưỡng, giao du sai lệch,
không thể hành trì trọn vẹn.
4. Vùi trong cát, bị mục:
Khúc gỗ bị chôn một phần dưới lớp cát, dần mục nát. Là người lười biếng,
tham ăn, buông lung giới
hạnh, không tinh tấn, không
thể tiến đạo.
5. Mắc giữa hai tảng đá, đứng yên một
chỗ:
Khúc gỗ mọc giữa hai tảng đá, đứng cứng như đóng cọc, làm dòng nước bị
chia đôi. Tượng trưng cho
người cố chấp tà kiến, không
tiếp nhận giáo pháp, như cây
chắn đường, không trôi đi
đâu được.
6. Dựng đứng lên trời, lâu lâu mới thấm
nước:
Cây bị dây leo kéo dựng đứng lên không trung, chỉ sau một, hai năm mưa lớn
mới ướt nhẹ.Tượng trưng cho
người tuổi già mới xuất gia,
sống nơi hẻo lánh, ít gặp
thiện tri thức, ít nghe
pháp, thi thoảng mới hành
trì — nên không đi xa được.
7. Khúc gỗ nhẹ, mềm yếu, nổi bập bềnh:
Cây mọc trên đảo nhỏ giữa sông, thân và cành mềm yếu, chỉ biết nổi lên và
lắc lư như múa khi nước
chảy. Là người thiếu ý chí,
dễ bị cám dỗ bởi lời khen,
danh lợi, sống chỉ để tồn
tại, không dấn thân hành
trì.
8. Nằm ngang dòng như cầu, thành nơi
nương tựa cho nhiều thứ:
Khúc gỗ nằm chắn ngang dòng, làm cây cỏ rác bám vào, cá sấu, rùa cũng ở
lại quanh nó, nước sông phải
tách làm đôi mà đi. Tượng
trưng cho người có uy tín,
làm nhiều việc thiện nhưng
lại bám chấp vào công đức,
danh tiếng, ảnh hưởng, khiến
đạo hạnh không thể sâu, tâm
không hướng đến giải thoát.
iti bhagavā
imehi aṭṭhahi dosehi
vimuttattā sotapaṭipannassa
dārukkhandhassa apare
samuddapattiyā antarāyakare
aṭṭha dose dassetuṃ amuṃ
mahantaṃ dārukkhandhaṃ
gaṅgāya nadiyā sotena
vuyhamānantiādimāha. tattha
na thale ussīdissatīti
thalaṃ nābhiruhissati. na
manussaggāho gahessatīti
“mahā vatāyaṃ
dārukkhandho”ti disvā,
uḷumpena taramānā gantvā,
gopānasīādīnaṃ atthāya
manussā na gaṇhissanti. na
amanussaggāho gahessatīti
“mahaggho ayaṃ candanasāro,
vimānadvāre naṃ
ṭhapessāmā”ti maññamānā na
amanussā gaṇhissanti. ♦
evameva khoti ettha saddhiṃ
bāhirehi aṭṭhahi dosehi evaṃ
opammasaṃsandanaṃ veditabbaṃ
— gaṅgāya avidūre
pabbatatale jāto tattheva
upacikādīhi khajjamāno
apaṇṇattikabhāvaṃ
gatadārukkhandho viya hi
“natthi dinnan”tiādikāya
micchādiṭṭhiyā samannāgato
puggalo veditabbo. ayañhi
sāsanassa dūrībhūtattā
ariyamaggaṃ oruyha
samādhikulle nisinno
nibbānasāgaraṃ pāpuṇituṃ na
sakkoti. ♦ gaṅgātīre
bahimūlo antosākho hutvā
jāto viya
acchinnagihibandhano
samaṇakuṭimbikapuggalo
daṭṭhabbo. ayañhi “cittaṃ
nāmetaṃ anibaddhaṃ,
‘samaṇomhī’ti vadantova gihī
hoti, ‘gihīmhī’ti vadantova
samaṇo hoti. ko jānissati,
kiṃ bhavissatī”ti?
mahallakakāle pabbajantopi
gihibandhanaṃ na vissajjeti.
mahallakapabbajitānañca
sampatti nāma natthi. tassa
sace cīvaraṃ pāpuṇāti,
antacchinnakaṃ vā
jiṇṇadubbaṇṇaṃ vā pāpuṇāti.
senāsanampi vihārapaccante
paṇṇasālā vā maṇḍapo vā
pāpuṇāti. piṇḍāya
carantenāpi puttanattakānaṃ
dārakānaṃ pacchato
caritabbaṃ hoti, pariyante
nisīditabbaṃ hoti. tena so
dukkhī dummano assūni
muñcanto, “atthi me
kulasantakaṃ dhanaṃ, kappati
nu kho taṃ khādantena
jīvitun”ti cintetvā ekaṃ
vinayadharaṃ pucchati —
“kiṃ, bhante ācariya, attano
santakaṃ vicāretvā khādituṃ
kappati, no kappatī”ti?
“natthettha doso,
kappatetan”ti. so attano
bhajamānake katipaye dubbace
durācāre bhikkhū gahetvā,
sāyanhasamaye antogāmaṃ
gantvā, gāmamajjhe ṭhito
gāmike pakkosāpetvā,
“amhākaṃ payogato uṭṭhitaṃ
āyaṃ kassa dethā”ti āha.
bhante, tumhe pabbajitā,
mayaṃ kassa dassāmāti? kiṃ
pabbajitānaṃ attano santakaṃ
na vaṭṭatīti?
kuddāla-piṭakaṃ gahetvā,
khettamariyādabandhanādīni
karonto nānāppakāraṃ
pubbaṇṇāparaṇṇañceva
phalāphale ca saṅgaṇhitvā,
hemantagimhavassānesu yaṃ
yaṃ icchati, taṃ taṃ
pacāpetvā khādanto
samaṇakuṭumbiko hutvā
jīvati. kevalamassa
pañcacūḷakena dārakena
saddhiṃ pādaparicārikāva ekā
natthi. ayaṃ puggalo kiñcāpi
olambinīhi sākhāhi udakaṃ
phusamāno antosākho rukkho
viya
cetiyaṅgaṇabodhiyaṅgaṇādīsu
bhikkhūnaṃ kāyasāmaggiṃ
deti, gihibandhanassa pana
acchinnatāya bahimūlattā
ariyamaggaṃ otaritvā
samādhikulle nisinno
nibbānasāgaraṃ pāpuṇituṃ na
sakkoti. ♦ gaṅgāya majjhe
jāto bahiddhā vallīhi
ābaddhavaṅkasākhā viya
saṅghasantakaṃ nissāya
jīvamāno bhinnājīvapuggalo
daṭṭhabbo. ekacco
gihibandhanaṃ pahāya
pabbajantopi sāruppaṭṭhāne
pabbajjaṃ na labhati.
pabbajjā hi nāmesā
paṭisandhiggahaṇasadisā.
yathā manussā yattha
paṭisandhiṃ gaṇhanti,
tesaṃyeva kulānaṃ ācāraṃ
sikkhanti, evaṃ bhikkhūpi
yesaṃ santike pabbajanti,
tesaṃyeva ācāraṃ gaṇhanti.
tasmā ekacco asāruppaṭṭhāne
pabbajitvā
ovādānusāsanīuddesaparipucchādīhi
paribāhiro hutvā pātova
muṇḍaghaṭaṃ gahetvā
udakatitthaṃ gacchati,
ācariyupajjhāyānaṃ
bhattatthāya khandhe pattaṃ
katvā bhattasālaṃ gacchati,
dubbacasāmaṇerehi saddhiṃ
nānākīḷaṃ kīḷati,
ārāmikadārakehi saṃsaṭṭho
viharati. ♦ so
daharabhikkhukāle attano
anurūpehi daharabhikkhūhi
ceva ārāmikehi ca saddhiṃ
saṅghabhogaṃ gantvā, “ayaṃ
khīṇāsavehi asukarañño
santikā
paṭiggahitasaṅghabhogo,
tumhe saṅghassa idañcidañca
na detha, na hi tumhākaṃ
pavattiṃ sutvā rājā vā
rājamahāmattā vā attamanā
bhavissanti, etha dāni
idañcidañca karothā”ti
kuddāla-piṭakāni gāhāpetvā
heṭṭhā taḷākamātikāsu
kattabbakiccāni kārāpetvā
bahuṃ pubbaṇṇāparaṇṇaṃ
vihāraṃ pavesetvā ārāmikehi
attano upakārabhāvaṃ
saṅghassa ārocāpeti. saṅgho
“ayaṃ daharo bahūpakāro,
imassa sataṃ vā dvisataṃ vā
dethā”ti dāpeti. iti so ito
cito ca saṅghasantakeneva
vaḍḍhanto bahiddhā
ekavīsatividhāhi anesanāhi
baddho ariyamaggaṃ otaritvā
samādhikulle nisinno
nibbānasāgaraṃ pāpuṇituṃ na
sakkoti. ♦ patitaṭṭhāneyeva
vālikāya ottharitvā
pūtibhāvaṃ āpāditarukkho
viya ālasiyamahagghaso
veditabbo. evarūpañhi
puggalaṃ āmisacakkhuṃ
paccayalolaṃ
vissaṭṭhāacariyupajjhāyavattaṃ
uddesaparipucchāyonisomanasikāravajjitaṃ
sandhāya pañca nīvaraṇāni
atthato evaṃ vadanti — “bho,
kassa santikaṃ gacchāmā”ti?
atha thinamiddhaṃ uṭṭhāya
evamāha — “kiṃ na passatha?
eso asukavihāravāsī
kusītapuggalo asukaṃ nāma
gāmaṃ gantvā yāgumatthake
yāguṃ, pūvamatthake pūvaṃ,
bhattamatthake bhattaṃ
ajjhoharitvā vihāraṃ āgamma
vissaṭṭhasabbavatto
uddesādivirahito mañcaṃ
upagacchanto mayhaṃ okāsaṃ
karotī”ti. ♦ tato
kāmacchandanīvaraṇaṃ
uṭṭhāyāha — “bho, tava okāse
kate mayhaṃ katova hoti,
idāneva so niddāyitvā
kilesānurañjitova
pabujjhitvā kāmavitakkaṃ
vitakkessatī”ti. tato
byāpādanīvaraṇaṃ uṭṭhāyāha —
“tumhākaṃ okāse kate mayhaṃ
katova hoti. idāneva
niddāyitvā vuṭṭhito
‘vattapaṭivattaṃ karohī’ti
vuccamāno, ‘bho, ime attano
kammaṃ akatvā amhesu
byāvaṭā’ti nānappakāraṃ
pharusavacanaṃ vadanto
akkhīni nīharitvā
vicarissatī”ti. tato
uddhaccanīvaraṇaṃ uṭṭhāyāha
— “tumhākaṃ okāse kate
mayhaṃ katova hoti, kusīto
nāma vātāhato aggikkhandho
viya uddhato hotī”ti. atha
kukuccanīvaraṇaṃ uṭṭhāyāha —
“tumhākaṃ okāse kate mayhaṃ
katova hoti, kusīto nāma
kukkuccapakatova hoti,
akappiye kappiyasaññaṃ
kappiye ca akappiyasaññaṃ
uppādetī”ti. atha
vicikicchānīvaraṇaṃ
uṭṭhāyāha — “tumhākaṃ okāse
kate mayhaṃ katova hoti.
evarūpo hi aṭṭhasu ṭhānesu
mahāvicikicchaṃ uppādesī”ti.
evaṃ ālasiyamahagghasaṃ
pañca nīvaraṇāni
caṇḍasunakhādayo viya
siṅgacchinnaṃ jaraggavaṃ
ajjhottharitvā gaṇhanti.
sopi ariyamaggasotaṃ
otaritvā samādhikulle
nisinno nibbānasāgaraṃ
pāpuṇituṃ na sakkoti.
Tám khúc gỗ và tám loại người không thể đến được “biển lớn Niết-bàn”
1. Khúc gỗ thối nát tại chỗ – Tà kiến
Giống như khúc gỗ mọc gần sông, bị mối mọt, côn trùng ăn mòn, không thể
rời chỗ, mục rữa mà không
trôi được,
2. Gốc bên ngoài, cành bên trong – Tu sĩ hình thức, tâm còn nặng thế tục
Giống như cây mọc bên bờ, rễ hướng ra ngoài (đời), cành hướng vào trong
(đạo),
3. Cây giữa dòng bị dây leo buộc – Tu sai chỗ, lệch hướng
Người sống trong Tăng đoàn nhưng sống bằng tà mạng, nương vào tài sản của
Tăng để mưu cầu danh lợi.
4. Khúc gỗ bị vùi trong cát – Lười biếng, ham hưởng
Người ham ăn, lười tu, không học, không hành, sống buông lung, để cho năm
triền cái (ngũ triền cái)
như các loài thú dữ xâu xé
tinh thần.
5. Mắc giữa hai tảng đá – Chấp thủ tà kiến
Người cố chấp các quan điểm sai lầm, ví dụ: "Niết-bàn vẫn có sắc", "Tâm
vẫn tồn tại sau khi chết",
hoặc "Người đắc đạo vẫn còn
thọ nghiệp"...
6. Bị nâng dựng đứng lên trời – Người già xuất gia, tu hời hợt
Người già mới xuất gia, ít tiếp xúc Tăng đoàn, ít nghe pháp, sống nơi hẻo
lánh, thi thoảng mới tiếp
xúc đạo pháp, nên không đủ
duyên hành trì sâu sắc.
7. Cây yếu mềm, chỉ biết múa theo sóng – Người nhẹ dạ, chỉ biết vui miệng
Người có khả năng nói pháp, giọng dịu ngọt, được người cư sĩ quý mến,
nhưng không thật sự hành
trì, chỉ thích danh tiếng.
8. Khúc gỗ chắn ngang dòng, đầy rác – Tu sĩ dính mắc vào tài sản Tăng
Người tích lũy quyền lực và vật chất nhờ vào Tăng đoàn, trở thành trung
tâm, kiểm soát tài sản, thu
hút kẻ xấu, bị ô uế bởi lòng
tham, sân, si.
iti bhagavā imehi aṭṭhahi dosehi vimuttattā sotapaṭipannassa
dārukkhandhassa apare
samuddapattiyā antarāyakare
aṭṭha dose dassetuṃ amuṃ
mahantaṃ dārukkhandhaṃ
gaṅgāya nadiyā sotena
vuyhamānantiādimāha. tattha
na thale ussīdissatīti
thalaṃ nābhiruhissati. na
manussaggāho gahessatīti
“mahā vatāyaṃ
dārukkhandho”ti disvā,
uḷumpena taramānā gantvā,
gopānasīādīnaṃ atthāya
manussā na gaṇhissanti. na
amanussaggāho gahessatīti
“mahaggho ayaṃ candanasāro,
vimānadvāre naṃ
ṭhapessāmā”ti maññamānā na
amanussā gaṇhissanti. ♦
evameva khoti ettha saddhiṃ
bāhirehi aṭṭhahi dosehi evaṃ
opammasaṃsandanaṃ veditabbaṃ
— gaṅgāya avidūre
pabbatatale jāto tattheva
upacikādīhi khajjamāno
apaṇṇattikabhāvaṃ
gatadārukkhandho viya hi
“natthi dinnan”tiādikāya
micchādiṭṭhiyā samannāgato
puggalo veditabbo. ayañhi
sāsanassa dūrībhūtattā
ariyamaggaṃ oruyha
samādhikulle nisinno
nibbānasāgaraṃ pāpuṇituṃ na
sakkoti. gaṅgātīre bahimūlo
antosākho hutvā jāto viya
acchinnagihibandhano
samaṇakuṭimbikapuggalo
daṭṭhabbo. ayañhi “cittaṃ
nāmetaṃ anibaddhaṃ,
‘samaṇomhī’ti vadantova gihī
hoti, ‘gihīmhī’ti vadantova
samaṇo hoti. ko jānissati,
kiṃ bhavissatī”ti?
mahallakakāle pabbajantopi
gihibandhanaṃ na vissajjeti.
mahallakapabbajitānañca
sampatti nāma natthi. tassa
sace cīvaraṃ pāpuṇāti,
antacchinnakaṃ vā
jiṇṇadubbaṇṇaṃ vā pāpuṇāti.
senāsanampi vihārapaccante
paṇṇasālā vā maṇḍapo vā
pāpuṇāti. piṇḍāya
carantenāpi puttanattakānaṃ
dārakānaṃ pacchato
caritabbaṃ hoti, pariyante
nisīditabbaṃ hoti. tena so
dukkhī dummano assūni
muñcanto, “atthi me
kulasantakaṃ dhanaṃ, kappati
nu kho taṃ khādantena
jīvitun”ti cintetvā ekaṃ
vinayadharaṃ pucchati —
“kiṃ, bhante ācariya, attano
santakaṃ vicāretvā khādituṃ
kappati, no kappatī”ti?
“natthettha doso,
kappatetan”ti. so attano
bhajamānake katipaye dubbace
durācāre bhikkhū gahetvā,
sāyanhasamaye antogāmaṃ
gantvā, gāmamajjhe ṭhito
gāmike pakkosāpetvā,
“amhākaṃ payogato uṭṭhitaṃ
āyaṃ kassa dethā”ti āha.
bhante, tumhe pabbajitā,
mayaṃ kassa dassāmāti? kiṃ
pabbajitānaṃ attano santakaṃ
na vaṭṭatīti?
kuddāla-piṭakaṃ gahetvā,
khettamariyādabandhanādīni
karonto nānāppakāraṃ
pubbaṇṇāparaṇṇañceva
phalāphale ca saṅgaṇhitvā,
hemantagimhavassānesu yaṃ
yaṃ icchati, taṃ taṃ
pacāpetvā khādanto
samaṇakuṭumbiko hutvā
jīvati. kevalamassa
pañcacūḷakena dārakena
saddhiṃ pādaparicārikāva ekā
natthi. ayaṃ puggalo kiñcāpi
olambinīhi sākhāhi udakaṃ
phusamāno antosākho rukkho
viya
cetiyaṅgaṇabodhiyaṅgaṇādīsu
bhikkhūnaṃ kāyasāmaggiṃ
deti, gihibandhanassa pana
acchinnatāya bahimūlattā
ariyamaggaṃ otaritvā
samādhikulle nisinno
nibbānasāgaraṃ pāpuṇituṃ na
sakkoti. gaṅgāya majjhe jāto
bahiddhā vallīhi
ābaddhavaṅkasākhā viya
saṅghasantakaṃ nissāya
jīvamāno bhinnājīvapuggalo
daṭṭhabbo. ekacco
gihibandhanaṃ pahāya
pabbajantopi sāruppaṭṭhāne
pabbajjaṃ na labhati.
pabbajjā hi nāmesā
paṭisandhiggahaṇasadisā.
yathā manussā yattha
paṭisandhiṃ gaṇhanti,
tesaṃyeva kulānaṃ ācāraṃ
sikkhanti, evaṃ bhikkhūpi
yesaṃ santike pabbajanti,
tesaṃyeva ācāraṃ gaṇhanti.
tasmā ekacco asāruppaṭṭhāne
pabbajitvā
ovādānusāsanīuddesaparipucchādīhi
paribāhiro hutvā pātova
muṇḍaghaṭaṃ gahetvā
udakatitthaṃ gacchati,
ācariyupajjhāyānaṃ
bhattatthāya khandhe pattaṃ
katvā bhattasālaṃ gacchati,
dubbacasāmaṇerehi saddhiṃ
nānākīḷaṃ kīḷati,
ārāmikadārakehi saṃsaṭṭho
viharati. so
daharabhikkhukāle attano
anurūpehi daharabhikkhūhi
ceva ārāmikehi ca saddhiṃ
saṅghabhogaṃ gantvā, “ayaṃ
khīṇāsavehi asukarañño
santikā
paṭiggahitasaṅghabhogo,
tumhe saṅghassa idañcidañca
na detha, na hi tumhākaṃ
pavattiṃ sutvā rājā vā
rājamahāmattā vā attamanā
bhavissanti, etha dāni
idañcidañca karothā”ti
kuddāla-piṭakāni gāhāpetvā
heṭṭhā taḷākamātikāsu
kattabbakiccāni kārāpetvā
bahuṃ pubbaṇṇāparaṇṇaṃ
vihāraṃ pavesetvā ārāmikehi
attano upakārabhāvaṃ
saṅghassa ārocāpeti. saṅgho
“ayaṃ daharo bahūpakāro,
imassa sataṃ vā dvisataṃ vā
dethā”ti dāpeti. iti so ito
cito ca saṅghasantakeneva
vaḍḍhanto bahiddhā
ekavīsatividhāhi anesanāhi
baddho ariyamaggaṃ otaritvā
samādhikulle nisinno
nibbānasāgaraṃ pāpuṇituṃ na
sakkoti. patitaṭṭhāneyeva
vālikāya ottharitvā
pūtibhāvaṃ āpāditarukkho
viya ālasiyamahagghaso
veditabbo. evarūpañhi
puggalaṃ āmisacakkhuṃ
paccayalolaṃ
vissaṭṭhāacariyupajjhāyavattaṃ
uddesaparipucchāyonisomanasikāravajjitaṃ
sandhāya pañca nīvaraṇāni
atthato evaṃ vadanti — “bho,
kassa santikaṃ gacchāmā”ti?
atha thinamiddhaṃ uṭṭhāya
evamāha — “kiṃ na passatha?
eso asukavihāravāsī
kusītapuggalo asukaṃ nāma
gāmaṃ gantvā yāgumatthake
yāguṃ, pūvamatthake pūvaṃ,
bhattamatthake bhattaṃ
ajjhoharitvā vihāraṃ āgamma
vissaṭṭhasabbavatto
uddesādivirahito mañcaṃ
upagacchanto mayhaṃ okāsaṃ
karotī”ti.
"Khúc gỗ trôi và tám lỗi làm chướng ngại cho người tu hành"
Vì Đức Thế Tôn muốn chỉ rõ tám lỗi có thể ngăn cản một người đã bước vào
dòng thánh (sotāpattimagga)
không thể đạt được bờ bên
kia là Niết-bàn, Ngài đã nói
câu mở đầu:
“Các thầy thấy khúc gỗ lớn kia đang trôi theo dòng sông Hằng…”
Câu “không bị mắc cạn trên đất” nghĩa là khúc gỗ ấy không bị mắc lại trên
bờ.
So sánh ẩn dụ – tám loại lỗi như tám loại khúc gỗ:
1. Người có tà kiến như khúc gỗ bị mối mọt ăn mục nát tại chỗ:
Khúc gỗ mọc trên núi gần dòng sông, bị dây leo bao phủ, lá úa vàng, bị
kiến mối ăn mòn đến mức mục
ruỗng không còn sử dụng
được.
→ Tương tự, người có tà kiến như: “Không có bố thí, không có quả báo của
nghiệp” v.v...
2. Tu sĩ còn gắn bó đời sống thế tục như cây có rễ ngoài, cành trong:
Giống như cây mọc bên bờ sông, rễ bám ngoài đất, cành chìa vào trong nước,
dù có chạm nước nhưng do rễ
nằm ngoài nên không thể trôi
ra biển.
→ Như một tu sĩ còn vương víu gia đình, tài sản, chỉ “gọi là tu”, còn tâm
vẫn ở đời.
3. Người sống nhờ vào của Tăng nhưng sống sai pháp như khúc gỗ bị dây leo
trói buộc:
Giống như cây mọc giữa dòng, rễ bám chắc, nhưng cành bị dây leo quấn chặt,
khiến không thể trôi theo
dòng.
→ Tương tự là người nương tựa Tăng đoàn nhưng sống bằng tà mạng, không giữ
giới, không học pháp, không
vâng lời thầy, chỉ biết lợi
dưỡng.
4. Người lười biếng, tham ăn như khúc gỗ bị vùi lấp trong cát và mục nát:
→ Tu sĩ tham ăn, biếng nhác, không giữ bổn phận với thầy tổ, không học
pháp, không hành thiền.
5. Người cố chấp tà kiến như khúc gỗ bị kẹt giữa hai tảng đá:
→ Cây mọc giữa hai tảng đá, nước đến thì bị tách làm đôi, không thể đi
đâu.
6. Người sống cô lập, ít tiếp xúc thiện pháp như cây mọc thẳng lên trời,
lâu lâu mới bị ướt:
→ Khúc gỗ dựng thẳng lên trời, bị dây leo treo cao, chỉ sau vài năm mưa
lớn mới thấm nước chút ít.
7. Người dễ bị ảnh hưởng, nhẹ dạ như khúc gỗ trôi bồng bềnh như múa theo
sóng:
→ Người tu thiếu nghị lực, thích được khen ngợi, sống phụ thuộc vào người
khác, thích làm màu mè hình
thức.
8. Người tích lũy quyền lợi từ Tăng đoàn như khúc gỗ nằm ngang dòng, chặn
nước, hút rác rưởi:
→ Khúc gỗ rơi nằm ngang sông, thành cầu tạm, thu hút rác rưởi, cỏ cây, cá
sấu, rùa v.v... tụ lại sống
quanh đó, khiến dòng sông bị
chia làm đôi.
→ Tu sĩ này tích trữ của cải, quyền lực trong Tăng đoàn, trở thành trung
tâm danh lợi, bị ô nhiễm bởi
quyền thế.
tato kāmacchandanīvaraṇaṃ uṭṭhāyāha — “bho, tava okāse kate
mayhaṃ katova hoti, idāneva
so niddāyitvā
kilesānurañjitova
pabujjhitvā kāmavitakkaṃ
vitakkessatī”ti. tato
byāpādanīvaraṇaṃ uṭṭhāyāha —
“tumhākaṃ okāse kate mayhaṃ
katova hoti. idāneva
niddāyitvā vuṭṭhito
‘vattapaṭivattaṃ karohī’ti
vuccamāno, ‘bho, ime attano
kammaṃ akatvā amhesu
byāvaṭā’ti nānappakāraṃ
pharusavacanaṃ vadanto
akkhīni nīharitvā
vicarissatī”ti. tato
uddhaccanīvaraṇaṃ uṭṭhāyāha
— “tumhākaṃ okāse kate
mayhaṃ katova hoti, kusīto
nāma vātāhato aggikkhandho
viya uddhato hotī”ti. atha
kukuccanīvaraṇaṃ uṭṭhāyāha —
“tumhākaṃ okāse kate mayhaṃ
katova hoti, kusīto nāma
kukkuccapakatova hoti,
akappiye kappiyasaññaṃ
kappiye ca akappiyasaññaṃ
uppādetī”ti. atha
vicikicchānīvaraṇaṃ
uṭṭhāyāha — “tumhākaṃ okāse
kate mayhaṃ katova hoti.
evarūpo hi aṭṭhasu ṭhānesu
mahāvicikicchaṃ uppādesī”ti.
evaṃ ālasiyamahagghasaṃ
pañca nīvaraṇāni
caṇḍasunakhādayo viya
siṅgacchinnaṃ jaraggavaṃ
ajjhottharitvā gaṇhanti.
sopi ariyamaggasotaṃ
otaritvā samādhikulle
nisinno nibbānasāgaraṃ
pāpuṇituṃ na sakkoti.
dvinnaṃ pāsāṇānaṃ antare
nikhātamūlākārena
ṭhitarukkho viya diṭṭhiṃ
uppādetvā ṭhito diṭṭhigatiko
veditabbo. so hi “arūpabhave
rūpaṃ atthi, asaññībhave
cittaṃ pavattati,
bahucittakkhaṇiko
lokuttaramaggo, anusayo
cittavippayutto, te ca sattā
sandhāvanti saṃsarantī”ti
vadanto ariṭṭho viya
kaṇṭakasāmaṇero viya ca
vicarati. pisuṇavāco pana
hoti, upajjhāyādayo
saddhivihārikādīhi bhindanto
vicarati. sopi
ariyamaggasotaṃ otaritvā
samādhikulle nisinno
nibbānasāgaraṃ pāpuṇituṃ na
sakkoti. abbhokāse nabhaṃ
pūretvā vallīhi ābaddho
ṭhito ekaṃ dve saṃvacchare
atikkamitvā āgate mahoghe
sakiṃ vā dvikkhattuṃ vā
temanarukkho viya
mahallakakāle pabbajitvā
paccante vasamāno
dullabhasaṅghadassano ceva
dullabhadhammassavano ca
puggalo veditabbo. ekacco hi
vuḍḍhakāle pabbajito
katipāhena upasampadaṃ
labhitvā pañcavassakāle
pātimokkhaṃ paguṇaṃ katvā
dasavassakāle
vinayadharattherassa santike
vinayakathākāle maricaṃ vā
harītakakhaṇḍaṃ vā mukhe
ṭhapetvā bījanena mukhaṃ
pidhāya niddāyanto nisīditvā
lesakappena katavinayo nāma
hutvā pattacīvaraṃ ādāya
paccantaṃ gacchati. tatra
naṃ manussā sakkaritvā
bhikkhudassanassa
dullabhatāya “idheva,
bhante, vasathā”ti vihāraṃ
kāretvā
pupphūpagaphalūpagarukkhe
ropetvā tattha vāsenti. atha
mahāvihārasadisavihārā
bahussutā bhikkhū, “janapade
cīvararajanādīni katvā
āgamissāmā”ti tattha
gacchanti. so te disvā,
haṭṭhatuṭṭho vattapaṭivattaṃ
katvā, punadivase ādāya
bhikkhācāragāmaṃ pavisitvā,
“asuko thero suttantiko,
asuko abhidhammiko, asuko
vinayadharo, asuko tepiṭako,
evarūpe there kadā
labhissatha, dhammasavanaṃ
kārethā”ti vadati. upāsakā
“dhammassavanaṃ kāressāmā”ti
vihāramaggaṃ sodhetvā,
sappitelādīni ādāya,
mahātheraṃ upasaṅkamitvā,
“bhante, dhammassavanaṃ
kāressāma, dhammakathikānaṃ
vicārethā”ti vatvā
punadivase āgantvā dhammaṃ
suṇanti. nevāsikatthero
āgantukānaṃ pattacīvarāni
paṭisāmento antogabbheyeva
divasabhāgaṃ vītināmeti.
divākathiko uṭṭhito
sarabhāṇako ghaṭena udakaṃ
vamento viya sarabhāṇaṃ
bhaṇitvā uṭṭhito, tampi so
na jānāti. rattikathiko
sāgaraṃ khobhento viya
rattiṃ kathetvā uṭṭhito,
tampi so na jānāti.
paccūsakathiko kathetvā
uṭṭhāsi, tampi so na jānāti.
pātova pana uṭṭhāya mukhaṃ
dhovitvā, therānaṃ
pattacīvarāni upanāmetvā,
bhikkhācāraṃ upagacchanto
mahātheraṃ āha — “bhante,
divākathiko kataraṃ jātakaṃ
nāma kathesi, sarabhāṇako
kataraṃ suttaṃ nāma bhaṇi,
rattikathiko kataraṃ
dhammakathaṃ nāma kathesi,
paccūsakathiko kataraṃ
jātakaṃ nāma kathesi,
khandhā nāma kati, dhātuyo
nāma kati, āyatanā nāma
katī”ti. evarūpo ekaṃ dve
saṃvaccharāni atikkamitvā
bhikkhudassanañceva
dhammassavanañca labhantopi
oghe āgate udakena sakiṃ vā
dvikkhattuṃ vā
temitarukkhasadiso hoti. so
evaṃ saṅghadassanato ca
dhammassavanato ca
paṭikkamma dūre vasanto
ariyamaggaṃ otaritvā
samādhikulle nisinno
nibbānasāgaraṃ pāpuṇituṃ na
sakkoti. majjhe gaṅgāya
dīpake jāto mudurukkho viya
madhurassarabhāṇakapuggalo
veditabbo. so hi abhiññātāni
abhiññātāni vessantarādīni
jātakāni uggaṇhitvā,
dullabhabhikkhudassanaṃ
paccantaṃ gantvā, tattha
dhammakathāya
pasāditahadayena janena
upaṭṭhiyamāno attānaṃ
uddissa kate
sampannapupphaphalarukkhe
nandanavanābhirāme vihāre
vasati. athassa
bhārahārabhikkhū taṃ
pavattiṃ sutvā, “asuko kira
evaṃ upaṭṭhākesu
paṭibaddhacitto viharati.
paṇḍito bhikkhu paṭibalo
buddhavacanaṃ vā uggaṇhituṃ,
kammaṭṭhānaṃ vā manasikātuṃ,
ānetvā tena saddhiṃ
asukattherassa santike
dhammaṃ uggaṇhissāma,
asukattherassa santike
kammaṭṭhānan”ti tattha
gacchanti. so tesaṃ vattaṃ
katvā sāyanhasamayaṃ
vihāracārikaṃ nikkhantehi
tehi “imaṃ, āvuso, cetiyaṃ
tayā kāritan”ti puṭṭho,
“āma, bhante”ti vadati.
“ayaṃ bodhi, ayaṃ maṇḍapo,
idaṃ uposathāgāraṃ, esā
aggisālā, ayaṃ caṅkamo tayā
kārito. ime rukkhe ropāpetvā
tayā nandanavanābhirāmo
vihāro kārito”ti. “āma,
bhante”ti, vadati.
Năm triền cái ngự trị người tu lười biếng:
Sau đó, triền cái dục tham (kāmacchanda) lên tiếng:
"Này, nếu dành chỗ cho ta rồi, thì cũng là dành chỗ cho ta vậy thôi!
Tiếp theo, sân hận (byāpāda) lên tiếng:
"Các ngươi dành chỗ cho ta cũng là dành cho ta vậy!
Rồi trạo cử (uddhacca) lên tiếng:
"Chỗ các ngươi dành là của ta vậy thôi!
Kế đến, hối hận (kukkucca) nói:
"Dành chỗ cho ta cũng như dành cho ta thôi!
Sau cùng, nghi hoặc (vicikicchā) lên tiếng:
"Dành chỗ cho ta là dành cho ta rồi!
→ Như vậy, năm triền cái giống như những con thú dữ vồ lấy một con trâu
già què cụt, không sừng —
tượng trưng cho người tu
lười biếng, thiếu tinh tấn.
Người ấy tuy đã vào dòng Thánh, ngồi nơi nền thiền, nhưng không thể vượt
đến biển lớn Niết-bàn.
Người cố chấp tà kiến như cây bị chôn giữa hai tảng đá:
Cũng như cây mọc giữa hai tảng đá, rễ cắm sâu không lay chuyển được, người
ấy sanh khởi tà kiến như:
“Có sắc pháp ở cõi vô sắc”,
Người này như Tỳ-kheo Ariṭṭha, hoặc như chú sa-di Kanta — nói năng chia
rẽ, gây mâu thuẫn trong
Tăng.Tuy đã bước vào đạo,
nhưng không thể đạt đến biển
Niết-bàn. Người già mới xuất
gia sống ở vùng xa, ít cơ
hội học pháp.
Giống như cây cao bị dây leo treo lơ lửng, chỉ chạm nước sau một hoặc hai
năm có trận lụt lớn. Là
người xuất gia lúc già, sống
ở vùng hẻo lánh, hiếm khi
được gặp Tăng đoàn và nghe
pháp. Người ấy, sau khi thọ
Cụ túc, học chút giới luật
rồi mang y bát về quê, sống
trong ngôi chùa do cư dân
địa phương xây dựng và cung
kính cúng dường.
Khi các vị đại đức có học đến đó, người ấy mừng rỡ:
"Vị kia là bậc tinh thông Kinh, vị nọ là bậc giỏi Thắng Pháp, người này
thạo giới luật… Các ông nên
mau sắp xếp để nghe pháp!"
Dân làng sửa sang đường đi, chuẩn bị dầu, bơ, hoa quả… để cúng dường và
nghe pháp. Vị Tỳ-kheo cư trú
kia không hiểu nội dung các
thời pháp, cũng không hỏi
han, nhưng mỗi sáng sớm, ông
vẫn đến gần các đại đức:
"Bạch thầy, tối qua ngài giảng Jātaka nào? Giới là bao nhiêu? Uẩn có mấy?
Căn, xứ, giới là gì?"
Mặc dù ông được tiếp xúc với Tăng đoàn và nghe pháp một vài lần, nhưng như
cây cao chỉ được mưa thấm
đôi chút, không thể thấm
nhuần đạo lộ, không thể đạt
đến Niết-bàn.
so tesaṃ vattaṃ katvā sāyanhasamayaṃ vihāracārikaṃ nikkhantehi
tehi “imaṃ, āvuso, cetiyaṃ
tayā kāritan”ti puṭṭho,
“āma, bhante”ti vadati.
“ayaṃ bodhi, ayaṃ maṇḍapo,
idaṃ uposathāgāraṃ, esā
aggisālā, ayaṃ caṅkamo tayā
kārito. ime rukkhe ropāpetvā
tayā nandanavanābhirāmo
vihāro kārito”ti. “āma,
bhante”ti, vadati.
so sāyaṃ therupaṭṭhānaṃ gantvā vanditvā pucchati — “kasmā,
bhante, āgatatthā”ti?
“āvuso, taṃ ādāya gantvā,
asukattherassa santike
dhammaṃ uggaṇhitvā,
asukattherassa santike
kammaṭṭhānaṃ, asukasmiṃ nāma
araññe samaggā samaṇadhammaṃ
karissāmāti iminā kāraṇena
āgatamhā”ti. sādhu, bhante,
tumhe nāma mayhaṃ atthāya
āgatā, ahampi ciranivāsena
idha ukkaṇṭhito gacchāmi,
pattacīvaraṃ gaṇhāmi,
bhanteti. āvuso,
sāmaṇeradaharā maggakilantā,
ajja vasitvā sve
pacchābhattaṃ gamissāmāti.
sādhu, bhanteti punadivase
tehi saddhiṃ piṇḍāya
pavisati. gāmavāsino
“amhākaṃ ayyo bahū āgantuke
bhikkhū gahetvā āgato”ti
āsanāni paññāpetvā yāguṃ
pāyetvā sukhanisinnakathaṃ
sutvā bhattaṃ adaṃsu. therā
“tvaṃ, āvuso, anumodanaṃ
katvā nikkhama, mayaṃ
udakaphāsukaṭṭhāne
bhattakiccaṃ karissāmā”ti
nikkhantā. gāmavāsino
anumodanaṃ sutvā pucchiṃsu,
“kuto, bhante, therā
āgatā”ti? ete amhākaṃ
ācariyupajjhāyā
samānupajjhāyā sandiṭṭhā
sambhattāti. kasmā āgatāti?
maṃ gahetvā gantukāmatāyāti.
tumhe pana gantukāmāti?
āmāvusoti. kiṃ vadetha,
bhante, amhehi kassa
uposathāgāraṃ kāritaṃ, kassa
bhojanasālā, kassa
aggisālādayo kāritā, mayaṃ
maṅgalāmaṅgalesu kassa
santikaṃ gamissāmāti?
mahāupāsikāyopi tattheva
nisīditvā assūni
pavattayiṃsu. daharo
“tumhesu evaṃ dukkhitesu
ahaṃ gantvā kiṃ karissāmi?
there uyyojessāmī”ti vihāraṃ
gato. therāpi
katabhattakiccā
pattacīvarāni gahetvā
nisinnā taṃ disvāva, “kiṃ,
āvuso, cirāyasi, divā hoti,
gacchāmā”ti āhaṃsu. āma,
bhante, tumhe sukhitā,
asukagehassa iṭṭhakāmūlaṃ
ṭhitasaṇṭhāneneva ṭhitaṃ,
asukagehādīnaṃ
cittakammamūlādīni atthi,
gatassāpi me cittavikkhepo
bhavissati, tumhe purato
gantvā asukavihāre
cīvaradhovanarajanādīni
karotha, ahaṃ tattha
sampāpuṇissāmīti. te tassa
osakkitukāmataṃ ñatvā tvaṃ
pacchā āgaccheyyāsīti
pakkamiṃsu. so there
anugantvā nivatto vihārameva
āgantvā bhojanasālādīni
olokento vihāraṃ
rāmaṇeyyakaṃ disvā cintesi —
“sādhu vatamhi na gato. sace
agamissaṃ, koci, deva,
dhammakathiko āgantvā,
sabbesaṃ manaṃ bhinditvā,
vihāraṃ attano
nikāyasantakaṃ kareyya, atha
mayā pacchā āgantvā etassa
pacchato laddhapiṇḍaṃ
bhuñjantena caritabbaṃ
bhavissatī”ti. so aparena
samayena suṇāti, “te kira
bhikkhū gataṭṭhāne
ekanikāyadvenikāyaekapiṭakadvepiṭakādivasena
buddhavacanaṃ uggaṇhitvā
aṭṭhakathācariyā jātā
vinayadharā jātā
sataparivārāpi
sahassaparivārāpi caranti.
ye panettha samaṇadhammaṃ
kātuṃ gatā, te ghaṭentā
vāyamantā sotāpannā jātā,
sakadāgāmino anāgāmino
arahanto jātā, mahāsakkārena
parinibbutā”ti. so cintesi —
“sace ahampi agamissaṃ,
mayhampesā sampatti
abhavissa, imaṃ pana ṭhānaṃ
muñcituṃ asakkonto ativiya
parihīnamhī”ti. ayaṃ puggalo
attano mudutāya taṃ ṭhānaṃ
amuñcanto ariyamaggaṃ
otaritvā samādhikulle
nisinno nibbānasāgaraṃ
pāpuṇituṃ na sakkoti.
gaṅgāya nadiyā tiriyaṃ
patitvā, vālikāya
otthaṭabhāvena antarasetu
viya hutvā, bahūnaṃ paccayo
jātarukkho viya
rathavinītamahāariyavaṃsacandopamādipaṭipadāsu
aññataraṃ paṭipadaṃ
uggahetvā ṭhito olīnavuttiko
puggalo veditabbo. so hi taṃ
paṭipattinissitaṃ dhammaṃ
uggahetvā pakatiyā
mañjussaro
cittalapabbatādisadisaṃ
mahantaṃ ṭhānaṃ gantvā
cetiyaṅgaṇavattādīni karoti.
atha naṃ dhammassavanaggaṃ
pattaṃ āgantukā daharā
“dhammaṃ kathehī”ti vadanti.
so sammā uggahitaṃ dhammaṃ
paṭipadaṃ dīpetvā katheti.
athassa
paṃsukūlikapiṇḍapātikādayo
sabbe theranavamajjhimā
bhikkhū “aho sappuriso”ti
attamanā bhavanti. so
kassaci nidānamattaṃ,
kassaci upaḍḍhagāthaṃ,
kassaci gāthaṃ upaṭṭhāpento
ayapaṭṭakena ābandhanto viya
daharasāmaṇere saṅgaṇhitvā
mahāthere upasaṅkamitvā,
“bhante, ayaṃ porāṇakavihāro
atthi, ettha koci
tatruppādo”ti?, pucchati.
therā — “kiṃ vadesi, āvuso,
catuvīsati karīsasahassāni
tatruppādo”ti. bhante, tumhe
evaṃ vadetha, uddhane pana
aggipi na jalatīti. āvuso,
mahāvihāravāsīhi laddhā nāma
evameva nassanti, na koci
saṇṭhapetīti. bhante,
porāṇakarājūhi dinnaṃ
khīṇāsavehi paṭiggahitaṃ
kasmā ete nāsentīti? āvuso,
tādisena dhammakathikena
sakkā bhaveyya laddhunti.
bhante, mā evaṃ vadetha,
amhe
paṭipattidīpakadhammakathikā
nāma, tumhe maṃ
“saṅghakuṭumbiko
vihārupaṭṭhāko”ti maññamānā
kātukāmāti. kiṃ nu kho,
āvuso, akappiyametaṃ,
tumhādisehi pana kathite
amhākaṃ uppajjeyyāti? tena
hi, bhante, ārāmikesu
āgatesu amhākaṃ bhāraṃ
karotha, ekaṃ kappiyadvāraṃ
kathessāmāti. ♦ so pātova
gantvā, sannipātasālāyaṃ
ṭhatvā, ārāmikesu āgatesu
“upāsakā asukakhette bhāgo
kuhiṃ, asukakhette kahāpaṇaṃ
kuhin”tiādīni vatvā, aññassa
khettaṃ gahetvā, aññassa
deti. evaṃ anukkamena taṃ
taṃ paṭisedhento tassa tassa
dento tathā akāsi, yathā
yāguhatthā pūvahatthā
bhattahatthā
telamadhuphāṇitaghatādihatthā
ca attanova santikaṃ
āgacchanti. sakalavihāro
ekakolāhalo hoti, pesalā
bhikkhū nibbijja
apakkamiṃsu. sopi
ācariyupajjhāyehi
vissaṭṭhakānaṃ bahūnaṃ
dubbacapuggalānaṃ upajjhaṃ
dento vihāraṃ pūreti.
āgantukā bhikkhū vihāradvāre
ṭhatvāva “vihāre ke
vasantī”ti, pucchitvā,
“evarūpā nāma bhikkhū”ti
sutvā bāhireneva pakkamanti.
ayaṃ puggalo sāsane tiriyaṃ
nipannatāya mahājanassa
paccayabhāvaṃ upagato
ariyamaggaṃ otaritvā
samādhikulle nisinno
nibbānasāgaraṃ pāpuṇituṃ na
sakkoti. bhagavantaṃ
etadavocāti
“nibbānapabbhārā”ti padena
osāpitaṃ dhammadesanaṃ ñatvā
anusandhikusalatāya etaṃ
“kiṃ nu kho,
bhante”tiādivacanaṃ avoca.
tathāgatopi hi imissaṃ
parisati nisinno
“anusandhikusalo bhikkhu
atthi, so maṃ pañhaṃ
pucchissatī”ti tasseva
okāsakaraṇatthāya imasmiṃ
ṭhāne desanaṃ niṭṭhāpesi.
Người dùng lời ngọt ngào để thu phục người khác:
Giống như cây mềm yếu mọc giữa đảo, người ấy có giọng nói êm ái, thuộc
nhiều Jātaka như Vessantara.
Được người dân vùng
sâu kính mến, xây chùa,
trồng cây, phục vụ đầy đủ.
Khi các Tỳ-kheo nghe danh,
đến xin học pháp hay thiền,
ông hoan hỷ dẫn đi khắp nơi,
giới thiệu:
"Đây là chánh điện do tôi xây, kia là cây bồ đề do tôi trồng, đây là giảng
đường do tôi dựng..."
Người ấy, tuy dường như đạo hạnh, nhưng vẫn bị trói buộc bởi lòng tự hào
và sự gắn bó với người cúng
dường, không thể thâm nhập
đạo lộ. Người ấy đến hầu
thăm các vị trưởng lão vào
buổi chiều, đảnh lễ rồi hỏi:
“Bạch quý ngài, sao quý ngài lại đến đây?”
Các trưởng lão đáp:
“Này hiền giả, chúng tôi đến đây để đón ông cùng đi. Chúng ta sẽ học pháp
từ vị trưởng lão này, hành
thiền dưới sự hướng dẫn của
vị trưởng lão kia, rồi cùng
sống đời phạm hạnh trong khu
rừng ấy.”
Người ấy nói:
“Lành thay, bạch quý ngài! Quý ngài đến vì tôi, tôi cũng đã nhàm chán nơi
này từ lâu. Tôi sẽ mang y
bát cùng đi.”
Nhưng các trưởng lão bảo:
“Các sa-di còn trẻ, đi đường dài sẽ mệt. Hãy nghỉ lại đêm nay, mai sau giờ
ăn hãy lên đường.”
Người ấy đồng ý, hôm sau đi khất thực cùng họ. Dân làng thấy ông dẫn theo
nhiều Tỳ-kheo thì vui mừng,
trải chỗ ngồi, dâng cháo,
lắng nghe lời đạo lý rồi
dâng cơm. Các trưởng lão
nói:
“Này hiền giả, ông hãy nói lời hồi hướng rồi đi trước. Chúng tôi sẽ ăn ở
nơi mát bên bờ nước.”
Người ấy làm theo.
Khi dân làng nghe lời hồi hướng, họ hỏi:
“Bạch quý ngài, quý ngài từ đâu đến?”
— “Đây là các vị thầy, các vị cùng thầy tế độ với tôi.”
— “Sao các ngài lại đến?”
— “Vì muốn đưa tôi đi tu học.”
— “Thế ông định đi thật à?”
— “Vâng, thưa quý vị.”
Nghe vậy, họ nói:
“Bạch quý ngài, chúng con đã xây cho ngài giảng đường, nhà ăn, nhà lửa...
Các tín nữ lớn tuổi cũng ngồi xuống, khóc nức nở. Người ấy nghĩ:
“Khi mọi người đau buồn thế này, mình đi thì ích gì? Mình nên tiễn các
trưởng lão rồi quay về.”
Rồi quay lại chùa, nhìn giảng đường, phòng ốc, thấy nơi ấy đẹp đẽ, ông
nghĩ:
“Thật tốt là mình không đi. Nếu mình đi, ai đó đến giảng pháp, quy tụ lòng
dân, biến chùa này thành
chùa của tông phái họ, rồi
mình phải sống theo kiểu ăn
xin từ người ấy thì sao?”
Rồi ông nghe tin:
“Những vị Tỳ-kheo ấy đã học pháp, trở thành các bậc giảng sư, thầy về
Luật, có hàng trăm người
theo. Một số hành thiền đắc
quả Thánh, chứng A-la-hán,
nhập Niết-bàn với đại sự
kính lễ.”
Ông nghĩ:
“Giá như mình đã đi, mình cũng có thể đắc đạo như họ. Nhưng vì không buông
được nơi này, mình giờ đã
thoái hóa nghiêm trọng.”
Người này, do tính mềm yếu, không buông bỏ được chỗ mình đang ở, nên dù đi
đúng hướng (trôi theo dòng),
vẫn không thể đến được biển
lớn Niết-bàn.
Người làm “cầu nối” lợi dưỡng – như khúc gỗ chắn ngang dòng sông
Người này giống như khúc gỗ nằm ngang dòng, phủ cát, trở thành cầu nối,
chướng ngại cho dòng chảy,
và là chỗ dựa của người đời
— tượng trưng cho người sống
đời hộ pháp hơn là hành giả.
Người ấy học một phần Pháp, một phần kệ tụng, rồi đến nơi danh tiếng như
núi Cittalapabbata, dạy nghi
lễ, làm người lãnh đạo.
Khi được người ta thỉnh giảng, ông giảng đúng pháp, nói đúng đường lối.
Mọi người – từ các bậc Tăng sĩ lớn tuổi đến các vị trẻ – đều tán thán:
“Ồ, vị này là bậc thánh thiện!”
Ông thu hút các sa-di, dẫn họ đến các bậc trưởng lão:
“Bạch ngài, chùa cổ này có người trụ trì không?”
— “Không, hiền giả. Chỗ đó rộng lớn mấy vạn công đất, nhưng chẳng ai chăm
sóc.”
— “Sao lại vậy?”
— “Của chư Tăng đời xưa để lại, nhưng vì không ai duy trì, nên hoang phế.”
— “Nếu có người như tôi thì sẽ giữ được!”
→ Nhưng ông nói thêm:
“Đừng nghĩ tôi là cư sĩ, tôi là người giảng pháp theo đường tu tập, chứ
không phải là ‘cư sĩ khoác
áo Tăng’.”
Rồi ông tổ chức kiểm kê tài sản, phân phối theo ý mình, khiến mọi vật phẩm
như cháo, bánh, cơm, dầu,
mật ong, ghee… đều đổ về chỗ
mình. Cả ngôi chùa trở nên
ồn ào, xáo trộn, các Tỳ-kheo
thuần tu tập thì chán nản mà
rời đi. Ông thu nhận nhiều
người thiếu đạo hạnh, cho họ
cư trú trong chùa, đến mức
các Tỳ-kheo khách hỏi "Ai
đang sống trong chùa?" rồi
nghe danh mà tránh xa.Người
này tuy có danh nghĩa là
người tu, nhưng thực chất
chặn đường đạo, cản trở dòng
thánh, nên không thể đạt đến
Niết-bàn.
Khi một Tỳ-kheo nghe bài thuyết pháp mang ẩn dụ "nghiêng về Niết-bàn"
(nibbānapabbhārā), ông khởi
tâm hoan hỷ, hỏi Phật:
“Bạch Thế Tôn, ý nghĩa của điều này là gì?”
Phật biết tâm ông chín muồi, Ngài kết thúc thời pháp đúng lúc để mở đường
cho người ấy tiếp tục câu
hỏi, nhằm kéo dài dòng pháp
thoại có khả năng đưa đến
giác ngộ.
idāni orimaṃ tīrantiādinā nayena vuttesu
ajjhattikāyatanādīsu evaṃ
upagamanānupagamanādīni
veditabbāni. “mayhaṃ
cakkhu-pasannaṃ, ahaṃ
appamattakampi rūpārammaṇaṃ
paṭivijjhituṃ sakkomī”ti
etaṃ nissāya cakkhuṃ
assādentopi timirakavātādīhi
upahatapasādo “amanāpaṃ
mayhaṃ cakkhu, mahantampi
rūpārammaṇaṃ vibhāvetuṃ na
sakkomī”ti domanassaṃ
āpajjantopi cakkhāyatanaṃ
upagacchati nāma. aniccaṃ
dukkhaṃ anattāti tiṇṇaṃ
lakkhaṇānaṃ vasena
vipassanto pana na
upagacchati nāma. sotādīsupi
eseva nayo. ♦ manāyatane
pana “manāpaṃ vata me mano,
kiñci vāmato aggahetvā
sabbaṃ dakkhiṇatova
gaṇhātī”ti vā “manena me
cintitacintitassa alābho
nāma natthī”ti vā evaṃ
assādentopi,
“ducintitacintitassa me mano
appadakkhiṇaggāhī”ti evaṃ
domanassaṃ uppādentopi
manāyatanaṃ upagacchati
nāma. iṭṭhe pana rūpe rāgaṃ,
aniṭṭhe paṭighaṃ uppādento
rūpāyatanaṃ upagacchati
nāma. saddāyatanādīsupi
eseva nayo. nandīrāgassetaṃ
adhivacananti yathā hi
majjhe saṃsīditvā thalaṃ
pattaṃ dārukkhandhaṃ
saṇhathūlavālikā pidahati,
so puna sīsaṃ ukkhipituṃ na
sakkoti, evaṃ nandīrāgena
ābaddho puggalo catūsu
mahāapāyesu patito
mahādukkhena pidhīyati, so
anekehipi vassasahassehi
puna sīsaṃ ukkhipituṃ na
sakkoti. tena vuttaṃ
“nandīrāgassetaṃ
adhivacanan”ti.
asmimānassetaṃ adhivacananti
yathā hi thale āruḷho
dārukkhandho heṭṭhā
gaṅgodakena ceva upari
vassena ca temento
anukkamena
sevālapariyonaddho “pāsāṇo
nu kho esa khāṇuko”ti
vattabbataṃ āpajjati,
evameva asmimānena unnato
puggalo paṃsukūlikaṭṭhāne
paṃsukūliko hoti,
dhammakathikaṭṭhāne
dhammakathiko,
bhaṇḍanakārakaṭṭhāne
bhaṇḍanakārako, vejjaṭṭhāne
vejjo, pisuṇaṭṭhāne pisuṇo.
so nānappakāraṃ anesanaṃ
āpajjanto tāhi tāhi āpattīhi
paliveṭhito “atthi nu kho
assa abbhantare kiñci sīlaṃ,
udāhu natthī”ti vattabbataṃ
āpajjati. tena vuttaṃ
“asmimānassetaṃ
adhivacanan”ti. pañcannetaṃ
kāmaguṇānaṃ adhivacananti
yathā hi āvaṭṭe
patitadārukhandho antoyeva
pāsāṇādīsu āhatasamabbhāhato
bhijjitvā cuṇṇavicuṇṇaṃ
hoti, evaṃ
pañcakāmaguṇāvaṭṭe
patitapuggalo catūsu apāyesu
kammakāraṇakhuppipāsādidukkhehi
āhatasamabbhāhato
dīgharattaṃ cuṇṇavicuṇṇataṃ
āpajjati. tena vuttaṃ
“pañcannetaṃ kāmaguṇānaṃ
adhivacanan”ti. dussīloti
nissīlo. pāpadhammoti
lāmakadhammo. asucīti na
suci. saṅkassarasamācāroti
“imassa maññe imassa maññe
idaṃ kamman”ti evaṃ parehi
saṅkāya saritabbasamācāro.
saṅkāya vā paresaṃ samācāraṃ
saratītipi
saṅkassarasamācāro. tassa hi
dve tayo jane kathente
disvā, “mama dosaṃ maññe
kathentī”ti tesaṃ samācāraṃ
saṅkassarati dhāvatīti
saṅkassarasamācāro.
samaṇapaṭiññoti
salākaggahaṇādīsu “kittakā
vihāre samaṇā”ti gaṇanāya
āraddhāya “ahampi samaṇo,
ahampi samaṇo”ti paṭiññaṃ
deti, salākaggahaṇādīni
karoti. brahmacāripaṭiññoti
uposathapavāraṇādīsu “ahampi
brahmacārī”ti paṭiññāya tāni
kammāni pavisati. antopūtīti
vakkahadayādīsu apūtikassapi
guṇānaṃ pūtibhāvena,
antopūti. avassutoti rāgena
tinto. kasambujātoti
rāgādīhi kilesehi
kacavarajāto. etadavocāti
gogaṇaṃ gaṅgātīrābhimukhaṃ
katvā parisapariyante ṭhito
ādito paṭṭhāya yāva
pariyosānā satthu
dhammadesanaṃ sutvā, “satthā
orimatīrādīnaṃ
anupagacchantādivasena sakkā
paṭipattiṃ pūretunti vadati.
yadi evaṃ pūretuṃ sakkā,
ahaṃ pabbajitvā pūressāmī”ti
cintetvā etaṃ “ahaṃ kho,
bhante”tiādivacanaṃ avoca. ♦
vacchagiddhiniyoti vacchesu
sasnehā thanehi khīraṃ
paggharantehi
vacchakasnehena sayameva
gamissantīti. niyyātehevāti
niyyātehiyeva. gāvīsu hi
aniyyātitāsu gosāmikā
āgantvā, “ekā gāvī na
dissati, eko goṇo, eko
vacchako na dissatī”ti
tuyhaṃ piṭṭhito piṭṭhito
vicarissanti, iti te
aphāsukaṃ bhavissati.
pabbajjā ca nāmesā saiṇassa
na ruhati, aṇaṇā pabbajjā ca
buddhādīhi saṃvaṇṇitāti
dassanatthaṃ evamāha.
niyyātāti niyyātitā. imasmiṃ
sutte vaṭṭavivaṭṭaṃ
kathitaṃ.
(1) Về sự “tiếp cận” hay “không tiếp cận” các nội xứ (cakkhāyatana - nhãn
xứ, v.v.)
“Bây giờ, đối với các nội xứ như nhãn xứ v.v., nên hiểu như sau về sự tiếp
cận hay không tiếp cận:
Ví dụ, một người nghĩ: “Con mắt ta thật tốt đẹp, ta có thể phân biệt cả
những cảnh sắc rất nhỏ.” Nếu
vì vậy mà người ấy sinh tâm
ưa thích con mắt, hoặc khi
mắt bị mờ vì bệnh hay do
gió, rồi nghĩ: “Mắt ta thật
khó chịu, đến cảnh lớn cũng
không thấy rõ”, và khởi lên
sầu muộn, thì được gọi là đã
tiếp cận nhãn xứ. Trái lại,
nếu vị ấy quán sát vô
thường, khổ, vô ngã trong
các pháp ấy thì gọi là không
tiếp cận. Các xứ khác như
nhĩ, tỉ, thiệt, thân, ý cũng
được hiểu tương tự.
(2) Về ý xứ và ái lạc
Với ý xứ, nếu người ấy nghĩ: “Ý của ta thật tuyệt, không bỏ sót điều gì,
chỉ nhận toàn điều đúng”
hoặc: “Tâm ta nghĩ gì là
được nấy”, và vì vậy mà sinh
tâm ưa thích, hoặc khi tâm
không như ý mà sinh phiền
não, thì cũng gọi là đã tiếp
cận ý xứ. Nếu khởi dục với
cảnh đẹp, hay sân với cảnh
xấu, thì gọi là đã tiếp cận
sắc xứ. Tương tự với thanh,
hương, vị, xúc.
(3) Nandīrāga – Tham ái buộc trói
“Nandīrāga” là tên gọi của tham ái luyến ái. Như một khúc gỗ sa lầy trong
vùng lầy, bị cát mịn và thô
vùi lấp, không thể ngóc đầu
dậy;tương tự, người bị trói
buộc bởi tham ái, rơi vào
bốn ác đạo, bị dày vò khổ
sở,
(4) Asmimāna – Ngã mạn
“Asmimāna” là tên gọi của kiêu mạn.
(5) Pañcakāmaguṇā – Năm dục lạc
“Pañcakāmaguṇā” là năm pháp thuộc về dục lạc.
(6) Về người dối trá giả danh tu hành
Người tà hạnh (dussīlo) tức là không có giới.
Ví dụ, thấy người khác thì thầm, liền nghi:
“Chắc họ đang nói xấu tôi!”
(7) Người tu chỉ để có danh xưng
“Samaṇapaṭiññā” là tuyên bố mình là Tỳ-kheo khi phát quà, chia thẻ.
Người này chỉ có danh mà không có thực hành, trong tâm thì bẩn thỉu, ngập
tràn dục vọng, đầy ô nhiễm,
giống như cỏ dại mọc ngầm.
Khi Đức Thế Tôn thuyết giảng như vậy, có một người đứng ngoài rìa đại
chúng, dẫn bò hướng về bờ
sông. Nghe pháp từ đầu đến
cuối, ông suy nghĩ:
Rồi ông nói lên lời thỉnh cầu:
“Bạch Thế Tôn, con xin được xuất gia tu tập theo giáo pháp.”
(9) Về sự cần thiết phải dứt bỏ tài sản
_ _______________________________________
Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu
200. IV. Khúc Gỗ (1) (S.iv,179)
1) Một thời Thế Tôn trú ở Kosambi, trên bờ sông Gangà.
2) Thế Tôn thấy một khúc gỗ lớn trôi theo dòng nước sông
Hằng, thấy vậy liền gọi các
Tỷ-kheo:
-- Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy khúc gỗ to lớn này đang
trôi theo dòng nước sông
Hằng không?
-- Thưa có, bạch Thế Tôn.
3) -- Này các Tỷ-kheo, nếu khúc gỗ không đâm vào bờ bên này,
không đâm vào bờ bên kia,
không chìm giữa dòng, không
mắc cạn trên miếng đất nổi,
không bị loài Người nhặt
lấy, không bị phi nhân nhặt
lấy, không bị mắc vào xoáy
nước, không bị mục bên
trong; như vậy, này các
Tỷ-kheo, khúc gỗ ấy sẽ hướng
về biển, sẽ xuôi theo biển,
sẽ nghiêng nhập vào biển. Vì
sao? Vì rằng, này các
Tỷ-kheo, dòng sông Hằng
hướng về biển, xuôi theo
biển, nghiêng trôi về biển.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo,
nếu các Ông không đâm vào bờ
bên này, không đâm vào bờ
bên kia, không chìm giữa
dòng, không mắc cạn trên
miếng đất nổi, không bị loài
Người nhặt lấy, không bị phi
nhân nhặt lấy, không bị mắc
vào xoáy nước, không bị mục
bên trong; như vậy, này các
Tỷ-kheo, các Ông sẽ hướng về
Niết-bàn, sẽ xuôi theo
Niết-bàn, sẽ nghiêng nhập
vào Niết-bàn. Vì sao? Vì
rằng, này các Tỷ-kheo, chánh
kiến hướng về Niết-bàn, xuôi
theo Niết-bàn, nghiêng nhập
vào Niết-bàn.
4) Khi được nghe nói vậy, một Tỷ-kheo bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, bờ bên này là gì? Bờ bên kia là gì? Thế nào
là chìm giữa dòng? Thế nào
là mắc cạn trên miếng đất
nổi? Thế nào là bị loài
Người nhặt lấy? Thế nào là
bị phi nhân nhặt lấy? Thế
nào là bị mắc vào xoáy nước?
Thế nào là bị mục nát bên
trong?
5) -- Bờ bên này, này Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với sáu nội xứ
này.
6) Bờ bên kia, này Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với sáu ngoại xứ.
7) Bị chìm giữa dòng, này Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với hỷ
tham.
8) Bị mắc cạn trên miếng đất nổi, này Tỷ-kheo, là đồng nghĩa
với ngã mạn.
9) Và này Tỷ-kheo, thế nào là bị người nhặt lấy? Ở đây,
Tỷ-kheo sống quá liên hệ với
cư sĩ, chung vui, chung
buồn, an lạc khi họ an lạc,
đau khổ khi họ bị đau khổ,
tự trói buộc mình trong các
công việc phải làm được khởi
lên của họ. Ðây gọi là
Tỷ-kheo bị loài Người nhặt
lấy.
10) Và thế nào, này Tỷ-kheo, là bị phi nhân nhặt lấy? Ở đây,
Tỷ-kheo sống Phạm hạnh với
ước nguyện được sanh cộng
trú với một hạng chư Thiên:
"Mong rằng với giới luật
này, với cấm giới này, với
khổ hạnh này, với Phạm hạnh
này, ta sẽ trở thành Thiên
nhân hay một loài chư
Thiên!" Ðây, này Tỷ-kheo,
được gọi là bị phi nhân nhặt
lấy.
11) Bị mắc vào xoáy nước, này Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với năm
dục công đức.
12) Và này Tỷ-kheo, thế nào là bị mục nát bên trong? Ở đây,
này Tỷ-kheo, có người thọ tà
giới, theo ác pháp, bất
tịnh, có những hành vi đáng
nghi ngờ, có những hành động
che đậy, không phải Sa-môn
nhưng hiện tướng Sa-môn,
không phải Phạm hạnh nhưng
hiện tướng Phạm hạnh, nội
tâm bị hủ bại, đầy dục vọng,
là một đống rác bẩn. Ðây,
này Tỷ-kheo, được gọi là bị
mục nát bên trong.
11) Lúc bấy giờ Nanda, người chăn bò, đứng không xa Thế Tôn
bao nhiêu.
12) Rồi người chăn bò Nanda bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, con không đâm vào bờ bên này, con không đâm
vào bờ bên kia, con không bị
chìm giữa dòng, con không bị
mắc cạn trên miếng đất nổi,
con không bị loài Người nhặt
lấy, con không bị phi nhân
nhặt lấy, con không bị mắc
vào xoáy nước, con không bị
mục nát bên trong. Bạch Thế
Tôn, mong Thế Tôn cho con
được xuất gia với Thế Tôn,
được thọ đại giới.
13) -- Này Nanda, hãy đem trả các con bò cho người chủ.
-- Bạch Thế Tôn, chúng sẽ đi trở về. Các bò mẹ đang trông
mong gặp lại các con bê của
chúng.
-- Tuy vậy, này Nanda, Ông hãy trả lui các con bò cho những
người chủ.
14) Rồi Nanda, người chăn bò, sau khi trả lui các con bò cho
những người chủ, đi đến Thế
Tôn; sau khi đến, bạch Thế
Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, các con bò đã được trả lui cho những người
chủ. Bạch Thế Tôn, xin hãy
cho con được xuất gia với
Thế Tôn. Hãy cho con thọ đại
giới.
15) Nanda, người chăn bò được xuất gia với Thế Tôn, được thọ
đại giới. Sau khi thọ đại
giới không bao lâu, Tôn giả
Nanda sống một mình, an
tịnh...
16) Tôn giả Nanda trở thành một vị A-la-hán nữa. 201. V. Khúc Gỗ (2) (S.iv,181)
1) Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở tại Kimbilà, trên bờ sông Hằng.
2) Thế Tôn thấy một khúc gỗ trôi theo dòng nước sông Hằng,
thấy vậy, liền gọi các
Tỷ-kheo:
-- Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy khúc gỗ lớn này bị trôi
theo dòng nước sông Hằng?
-- Thưa có, bạch Thế Tôn.
3) (Như kinh trước cho đến: Nghiêng nhập vào Niết-bàn).
4) Ðược nghe nói vậy, Tôn giả Kimbilà bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, bờ bên này là gì?... (như trên) ...
12) -- Và này Kimbilà, thế nào là bị mục nát bên trong? Ở
đây, này Kimbilà, Tỷ-kheo
phạm một giới tội (àpatti),
một giới tội không thể giải
trừ. Này Kimbilà, đây gọi là
mục nát bên trong. -ooOoo- |