BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Năm, ngày 26 tháng 06, 2025

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập III – Chương 35. Tương Ưng Sáu Xứ - Phẩm Rắn Độc- SN 35.241, SN 35. 242. Bài 444.NHỮNG NGUYÊN NHÂN LÀM HỎNG HÀNH TRÌNH - Kinh Ví Dụ Khúc Gỗ Lớn I & II (paṭhamadārukkhandhopamasuttaṃ) (Dutiyadārukkhandhopamasuttaṃ).
...
****** http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-444.jpg










http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png

 

Không có hành trình cao quý nào hoàn toàn xuôi chèo mát mái từ đầu đến cuối. Chắc chắn phải có những chướng ngại cần vượt qua. Cuộc tu không ngoại lệ. Hành giả không thể chủ quan với niềm tin suông hay ỷ lại bất cứ tha lực nào hoá giải những thử thách. Phải hiểu những cạm bẩy, đặc biệt là những thứ đến từ nội tại. Chỉ có những “những bậc nhập lưu” mới chắc chắn đạt đến cứu cánh. Tất cả những phàm nhân phấn đấu đều phải cẩn trọng với nguyên nhân khiến bao nhiêu công sức trở thành ‘dã tràng xe cát biển Đông”.

KINH VĂN

241. ekaṃ samayaṃ bhagavā kosambiyaṃ viharati gaṅgāya nadiyā tīre. addasā kho bhagavā mahantaṃ dārukkhandhaṃ gaṅgāya nadiyā sotena vuyhamānaṃ. disvāna bhikkhū āmantesi — “passatha no tumhe, bhikkhave, amuṃ mahantaṃ dārukkhandhaṃ gaṅgāya nadiyā sotena vuyhamānan”ti? “evaṃ, bhante”. “sace so, bhikkhave, dārukkhandho na orimaṃ tīraṃ upagacchati, na pārimaṃ tīraṃ upagacchati, na majjhe saṃsīdissati, na thale ussīdissati, na manussaggāho gahessati, na amanussaggāho gahessati, na āvaṭṭaggāho gahessati, na antopūti bhavissati; evañhi so, bhikkhave, dārukkhandho samuddaninno bhavissati samuddapoṇo samuddapabbhāro. taṃ kissa hetu? samuddaninno, bhikkhave, gaṅgāya nadiyā soto samuddapoṇo samuddapabbhāro.

“evameva kho, bhikkhave, sace tumhepi na orimaṃ tīraṃ upagacchatha, na pārimaṃ tīraṃ upagacchatha; na majjhe saṃsīdissatha, na thale ussīdissatha, na manussaggāho gahessati, na amanussaggāho gahessati, na āvaṭṭaggāho gahessati, na antopūtī bhavissatha; evaṃ tumhe, bhikkhave, nibbānaninnā bhavissatha nibbānapoṇā nibbānapabbhārā. taṃ kissa hetu? nibbānaninnā, bhikkhave, sammādiṭṭhi nibbānapoṇā nibbānapabbhārā”ti. evaṃ vutte, aññataro bhikkhu bhagavantaṃ etadavoca — “kiṃ nu kho, bhante, orimaṃ tīraṃ, kiṃ pārimaṃ tīraṃ, ko majjhe saṃsādo {saṃsīdo (ka.), saṃsīdito (syā. kaṃ.)}, ko thale ussādo, ko manussaggāho, ko amanussaggāho, ko āvaṭṭaggāho, ko antopūtibhāvo”ti?

“‘orimaṃ tīran’ti kho, bhikkhu, channetaṃ ajjhattikānaṃ āyatanānaṃ adhivacanaṃ. ‘pārimaṃ tīran’ti kho, bhikkhu, channetaṃ bāhirānaṃ āyatanānaṃ adhivacanaṃ. ‘majjhe saṃsādo’ti kho, bhikkhu, nandīrāgassetaṃ adhivacanaṃ. ‘thale ussādo’ti kho, bhikkhu, asmimānassetaṃ adhivacanaṃ.

“katamo ca, bhikkhu, manussaggāho? idha, bhikkhu, gihīhi saṃsaṭṭho {gihisaṃsaṭṭho (ka.)} viharati, sahanandī sahasokī, sukhitesu sukhito, dukkhitesu dukkhito, uppannesu kiccakaraṇīyesu attanā tesu yogaṃ āpajjati. ayaṃ vuccati, bhikkhu, manussaggāho.

“katamo ca, bhikkhu, amanussaggāho? idha, bhikkhu, ekacco aññataraṃ devanikāyaṃ paṇidhāya brahmacariyaṃ carati — ‘imināhaṃ sīlena vā vatena vā tapena vā brahmacariyena vā devo vā bhavissāmi devaññataro vā’ti. ayaṃ vuccati, bhikkhu, amanussaggāho. ‘āvaṭṭaggāho’ti kho, bhikkhu, pañcannetaṃ kāmaguṇānaṃ adhivacanaṃ.

“katamo ca, bhikkhu, antopūtibhāvo? idha, bhikkhu, ekacco dussīlo hoti pāpadhammo asucisaṅkassarasamācāro paṭicchannakammanto assamaṇo samaṇapaṭiñño abrahmacārī brahmacāripaṭiñño antopūti avassuto kasambujāto. ayaṃ vuccati, bhikkhu, ‘antopūtibhāvo’”ti.

tena kho pana samayena nando gopālako bhagavato avidūre ṭhito hoti. atha kho nando gopālako bhagavantaṃ etadavoca — “ahaṃ kho, bhante, na orimaṃ tīraṃ upagacchāmi, na pārimaṃ tīraṃ upagacchāmi, na majjhe saṃsīdissāmi, na thale ussīdissāmi, na maṃ manussaggāho gahessati, na amanussaggāho gahessati, na āvaṭṭaggāho gahessati, na antopūti bhavissāmi. labheyyāhaṃ, bhante, bhagavato santike pabbajjaṃ, labheyyaṃ upasampadan”ti. “tena hi tvaṃ, nanda, sāmikānaṃ gāvo niyyātehī”ti {nīyyādehīti (sī.), niyyādehīti (syā. kaṃ. pī.)} . “gamissanti, bhante, gāvo vacchagiddhiniyo”ti. “niyyāteheva tvaṃ, nanda, sāmikānaṃ gāvo”ti. atha kho nando gopālako sāmikānaṃ gāvo niyyātetvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṃ etadavoca — “niyyātitā {niyyātā (syā. kaṃ. ka. sī. aṭṭha.)}, bhante, sāmikānaṃ gāvo. labheyyāhaṃ, bhante, bhagavato santike pabbajjaṃ, labheyyaṃ upasampadan”ti. alattha kho nando gopālako bhagavato santike pabbajjaṃ, alattha upasampadaṃ. acirūpasampanno ca panāyasmā nando eko vūpakaṭṭho ... pe ... aññataro ca panāyasmā nando arahataṃ ahosīti. catutthaṃ.

241. Thí Dụ Khúc Gỗ Lớn I

Một thuở Đức Tôn đang trú tại Kosambī, bên bờ sông Hằng. Lúc bấy giờ, Thế Tôn nhìn thấy một khúc gỗ lớn đang trôi theo dòng nước sông Hằng, liền gọi chư Tỳ khưu và nói:

“Này chư Tỳ khưu, các thầy có thấy khúc gỗ lớn kia đang trôi theo dòng sông Hằng không?”

“Bạch Thế Tôn, vâng, chúng con thấy.”

“Này chư Tỳ khưu, nếu khúc gỗ ấy:

1.    không bị tấp vào bờ gần,

2.    không tấp vào bờ xa,

3.    không chìm giữa dòng,

4.    không bị mắc cạn trên chỗ nước nông,

5.    không bị con người với lên,

6.    không bị phi nhân giữ lấy,

7.    không bị cuốn vào nước xoáy,

8.    và không bị hư mục từ bên trong,

thì nó sẽ hướng và trôi xuôi về biển cả.

Vì sao vậy? Vì dòng nước sông Hằng vốn chảy xuôi hướng về biển cả.

Cũng vậy, này chư Tỳ khưu, nếu các thầy:

1.    không bị tấp vào bờ gần,

2.    không tấp vào bờ xa,

3.    không chìm giữa dòng,

4.    không bị mắc cạn trên chỗ nước nông,

5.    không bị con người với lên,

6.    không bị phi nhân giữ lấy,

7.    không bị cuốn vào nước xoáy,

8.    và không bị hư mục từ bên trong,

thì các thầy cũng sẽ hướng và trôi xuôi về Niết-bàn.

Vì sao vậy? Vì chánh kiến vốn hướng và trôi xuôi về Niết-bàn.”

Lúc ấy, một Tỳ khưu hỏi Thế Tôn:

“Bạch Thế Tôn, thế nào là bờ gần? Thế nào là bờ xa? Thế nào là chìm giữa dòng? Thế nào là mắc cạn chỗ nước nông? Thế nào là bị người với lên, bị phi nhân giữ lấy, bị cuốn vào xoáy nước, và hư mục từ bên trong?”

Đức Thế Tôn đáp:

“Bờ gần, này Tỳ khưu, là sáu căn nội (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý).

Bờ xa là sáu trần ngoại (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp).

Chìm giữa dòng là hỷ lạc và ái dục.

Mắc cạn chỗ nước nông chỉ cho kiêu mạn ‘ta là’.

“Bị người với lên là: một người sống gần gũi với cư sĩ, vui buồn theo họ, vui khi họ vui, buồn khi họ buồn, và dính mắc vào việc đời, bổn phận, trách nhiệm của họ. Đó gọi là bị người với lên.

Bị phi nhân giữ lấy là: một người hành trì phạm hạnh với mong cầu được tái sinh vào cõi trời, nghĩ rằng: ‘Với giới hạnh, hạnh nguyện, khổ hạnh, hay phạm hạnh này, ta sẽ trở thành chư thiên.’ Đó gọi là bị phi nhân giữ lấy.

Bị cuốn vào xoáy nước là: bị cuốn vào năm trần dục lạc (sắc, thanh, hương, vị, xúc hấp dẫn).

Hư mục từ bên trong là: một người bất thiện, tà hạnh, có hành vi giả dối, bí mật, tự xưng là phạm hạnh nhưng không thật sự sống phạm hạnh, tự xưng là độc cư nhưng không chân thật, thối nát từ bên trong, bại hoại. Đó gọi là hư mục từ bên trong.”

Bấy giờ có người chăn bò tên là Nanda đang đứng gần Thế Tôn. Nanda bạch Thế Tôn:

“Bạch Thế Tôn, con sẽ không bị tấp vào bờ gần,  không tấp vào bờ xa,      không chìm giữa dòng, không bị mắc cạn trên chỗ nước nông, không bị con người với lên, không bị phi nhân giữ lấy, không bị cuốn vào nước xoáy, và không bị hư mục từ bên trong. Cúi xin Thế Tôn cho con xuất gia, thọ đại giới.”

Thế Tôn bảo:

“Nanda, hãy giao bò lại cho chủ của chúng.”

“Bạch Thế Tôn, đàn bò sẽ tự về chuồng vì nhớ con của chúng.”

Thế Tôn vẫn bảo:

“Nanda, hãy giao bò lại cho chủ của chúng.”

Rồi người chăn bò Nanda giao bò lại cho chủ, quay lại, đảnh lễ Thế Tôn và thưa:

“Bạch Thế Tôn, con đã trả bò cho chủ. Xin Thế Tôn cho con xuất gia, thọ giới.”

Và người chăn bò Nanda được Thế Tôn cho xuất gia và thọ đại giới. Không bao lâu sau khi thọ giới, sống viễn ly, nhiệt tâm, tinh cần, không phóng dật… Tôn giả Nanda đã trở thành một vị A-la-hán.

242. Thí Dụ Khúc Gỗ Lớn II

242. ekaṃ samayaṃ bhagavā kimilāyaṃ {kimbilāyaṃ (sī. pī.), kimmilāyaṃ (syā. kaṃ.)} viharati gaṅgāya nadiyā tīre. addasā kho bhagavā mahantaṃ dārukkhandhaṃ gaṅgāya nadiyā sotena vuyhamānaṃ. disvāna bhikkhū āmantesi — “passatha no tumhe, bhikkhave, amuṃ mahantaṃ dārukkhandhaṃ gaṅgāya nadiyā sotena vuyhamānan”ti? “evaṃ bhante” ... pe ... evaṃ vutte, āyasmā kimilo bhagavantaṃ etadavoca — kiṃ nu kho, bhante, orimaṃ tīraṃ ... pe ... katamo ca, kimila, antopūtibhāvo. idha, kimila, bhikkhu aññataraṃ saṃkiliṭṭhaṃ āpattiṃ āpanno hoti yathārūpāya āpattiyā na vuṭṭhānaṃ paññāyati. ayaṃ vuccati, kimila, antopūtibhāvoti. pañcamaṃ.

Tám khúc gỗ và tám loại người không thể đến được “biển lớn Niết-bàn”

1. Khúc gỗ thối nát tại chỗ – Tà kiến

Giống như khúc gỗ mọc gần sông, bị mối mọt, côn trùng ăn mòn, không thể rời chỗ, mục rữa mà không trôi được,
→ Là người có tà kiến (ví dụ: “không có bố thí, không có nghiệp quả”) nên không có lòng tin nơi giáo pháp, không thực hành chánh đạo, như gỗ không thể ra biển.

2. Gốc bên ngoài, cành bên trong – Tu sĩ hình thức, tâm còn nặng thế tục

Giống như cây mọc bên bờ, rễ hướng ra ngoài (đời), cành hướng vào trong (đạo),
→ Là tu sĩ kiểu cư sĩ, bên ngoài mặc y, bên trong còn ràng buộc với gia đình, tiền bạc, nhà cửa.
→ Dù cho có bố thí, giúp đỡ Tăng, nhưng vì chưa cắt đứt dây buộc đời, người ấy không thể đạt đến đạo quả.

3. Cây giữa dòng bị dây leo buộc – Tu sai chỗ, lệch hướng

Người sống trong Tăng đoàn nhưng sống bằng tà mạng, nương vào tài sản của Tăng để mưu cầu danh lợi.
→ Dù đã xuất gia, nhưng nếu nương sai thầy, sống không đúng nơi, không học pháp, không giữ giới, người ấy như khúc gỗ bị dây leo buộc chặt, không thể trôi được.

4. Khúc gỗ bị vùi trong cát – Lười biếng, ham hưởng

Người ham ăn, lười tu, không học, không hành, sống buông lung, để cho năm triền cái (ngũ triền cái) như các loài thú dữ xâu xé tinh thần.
→ Như khúc gỗ bị vùi lấp, mục nát ngay tại chỗ, không thể trôi đến biển.

5. Mắc giữa hai tảng đá – Chấp thủ tà kiến

Người cố chấp các quan điểm sai lầm, ví dụ: "Niết-bàn vẫn có sắc", "Tâm vẫn tồn tại sau khi chết", hoặc "Người đắc đạo vẫn còn thọ nghiệp"...
→ Tâm cứng như đá, không tiếp nhận được pháp chân chánh, như khúc gỗ kẹt cứng giữa hai tảng đá.

6. Bị nâng dựng đứng lên trời – Người già xuất gia, tu hời hợt

Người già mới xuất gia, ít tiếp xúc Tăng đoàn, ít nghe pháp, sống nơi hẻo lánh, thi thoảng mới tiếp xúc đạo pháp, nên không đủ duyên hành trì sâu sắc.
→ Như khúc gỗ dựng thẳng đứng, mưa thấm chút ít rồi khô ráo lại – không thể đi đến Niết-bàn.

7. Cây yếu mềm, chỉ biết múa theo sóng – Người nhẹ dạ, chỉ biết vui miệng

Người có khả năng nói pháp, giọng dịu ngọt, được người cư sĩ quý mến, nhưng không thật sự hành trì, chỉ thích danh tiếng.
→ Như khúc gỗ mềm yếu, bồng bềnh theo nước, không có định hướng, không thể xuôi về biển lớn.

8. Khúc gỗ chắn ngang dòng, đầy rác – Tu sĩ dính mắc vào tài sản Tăng

Người tích lũy quyền lực và vật chất nhờ vào Tăng đoàn, trở thành trung tâm, kiểm soát tài sản, thu hút kẻ xấu, bị ô uế bởi lòng tham, sân, si.
→ Như khúc gỗ chắn ngang dòng sông, bị rác rưởi bám vào, ngăn trở cả dòng chảy — không thể tiến xa.

Chú Thích

Hai bài kinh Ví Dụ Khúc Gỗ Lớn có điểm khác biệt ở điều thứ 8. Trong điều nầy ở bài kinh I, sự hư mục từ bên trong khúc gỗ chỉ cho sự giả dối không thật ở sự sự tu tập. Ở bài kinh thứ hai chỉ cho sự liên quan tới giới luật. Có những học giới không thể phục vị như bốn bất cộng trụ (ba la di).

Có nhiều đệ tử Phật tên Nanda. Vị tôn giả trong kinh I được gọi là Nanda Gopālaka (Nanda người chăn bò).  Gopālaka không mang ý nghĩa tầm thường như trẻ em chăn bò (hay mục đồng) trong tiếng Việt hay đậm chất Hollywood như từ “cao bồi – cowboy” trong văn hoá Mỹ. Đó là một nghề nghiệp cần nhiều kỹ năng để chăm sóc một đàn bò lớn. Nghề nghiệp gopālaka được đề cập nhiều trong kinh điển Pāli.

Tôn giả Kimbilā - được viết trong chánh văn là Kimila - người xuất thân từ Kimbilā đôi khi gọi là Setthiputta Kimbila  để phân biệt với Tôn giả Kimbila – nguyên là một hoàng tử dòng Thích Ca.  

Đây là pháp thoại mà Đức Phật nêu rõ những chướng duyên khiến một người tu tập bị ngăn ngại không hoàn tất được hành trình đến chỗ giải thoát rốt ráo.

Đức Phật đặc biệt lưu ý chánh kiến có hiệu năng xuôi hướng về sự chứng đạt Niết bàn như dòng sông chảy từ thượng nguồn ra biển. Nhưng không phải hễ có chánh kiến mà không bị chướng ngại. Hành trình tu tập vẫn bị dở dang nếu không vượt qua những thử thách.

Bản Sớ giải của bài kinh nầy hơi lạ. Chú thích rất dài như một tiểu luận. Chi pháp không tương đồng với chánh kinh. Bản Sớ giải mang hình thức như một huấn thị của vị trưởng lão dành cho Tăng chúng trong một tu viện. Có thể dùng bản Sớ giải để tham khảo thêm ý nhưng không có những chú thích rạch ròi cho chánh kinh.

Sớ Giải

241. catutthe addasāti gaṅgātīre paññattavarabuddhāsane nisinno addasa. vuyhamānanti caturassaṃ tacchetvā pabbatantare ṭhapitaṃ vātātapena suparisukkhaṃ pāvussake meghe vassante udakena uplavitvā anupubbena gaṅgāya nadiyā sote patitaṃ tena sotena vuyhamānaṃ. bhikkhū āmantesīti “iminā dārukkhandhena sadisaṃ katvā mama sāsane saddhāpabbajitaṃ kulaputtaṃ dassessāmī”ti dhammaṃ desetukāmatāya āmantesi. amuṃ mahantaṃ dārukkhandhaṃ gaṅgāya nadiyā sotena vuyhamānanti idaṃ pana aṭṭhadosavimuttattā sotapaṭipannassa dārukkhandhassa apare samuddapattiyā antarāyakare aṭṭha dose dassetuṃ ārabhi. ♦ tatrassa evaṃ aṭṭhadosavimuttatā veditabbā — eko hi gaṅgāya nadiyā avidūre pabbatatale jāto nānāvallīhi paliveṭhito paṇḍupalāsataṃ āpajjitvā upacikādīhi khajjamāno tasmiṃyeva ṭhāne apaṇṇattikabhāvaṃ gacchati, ayaṃ dārukkhandho gaṅgaṃ otaritvā vaṅkaṭṭhānesu vilāsamāno sāgaraṃ patvā maṇivaṇṇe ūmipiṭṭhe sobhituṃ na labhati. ♦ aparo gaṅgātīre bahimūlo antosākho hutvā jāto, ayaṃ kiñcāpi kālena kālaṃ olambinīhi sākhāhi udakaṃ phusati, bahimūlattā pana gaṅgaṃ otaritvā vaṅkaṭṭhānesu vilāsamāno sāgaraṃ patvā maṇivaṇṇe ūmipiṭṭhe sobhituṃ na labhati. ♦ aparo majjhe gaṅgāya jāto, daḷhamūlena pana suppatiṭṭhito, bahi cassa gatā vaṅkasākhā nānāvallīhi ābaddhā, ayampi daḷhamūlattā bahiddhā vallīhi ābaddhattā ca gaṅgaṃ otaritvā ... pe ... sobhituṃ na labhati. ♦ aparo patitaṭṭhāneyeva vālikāya otthaṭo pūtibhāvaṃ āpajjati, ayampi gaṅgaṃ otaritvā ... pe ... na labhati. ♦ aparo dvinnaṃ pāsāṇānaṃ antare jātattā, sunikhāto viya niccalo ṭhito, āgatāgataṃ udakaṃ dvidhā phāleti, ayaṃ pāsāṇantare suṭṭhu patiṭṭhitattā gaṅgaṃ otaritvā ... pe ... na labhati. ♦ aparo abbhokāsaṭṭhāne nabhaṃ pūretvā vallīhi ābaddho ṭhito. ekaṃ dve saṃvacchare atikkamitvā āgate mahoghe sakiṃ vā dvikkhattuṃ vā temeti, ayampi nabhaṃ pūretvā ṭhitatāya ceva ekassa vā dvinnaṃ vā saṃvaccharānaṃ accayena sakiṃ vā dvikkhattuṃ vā temanatāya ca gaṅgaṃ otaritvā ... pe ... na labhati. ♦ aparopi majjhe gaṅgāya dīpake jāto mudukkhandhasākho oghe āgate anusotaṃ nipajjitvā, udake gate sīsaṃ ukkhipitvā, naccanto viya tiṭṭhati. yassatthāya sāgaro gaṅgaṃ evaṃ viya vadati, “bhoti gaṅge tvaṃ mayhaṃ candanasārasalaḷasārādīni nānādārūni āharasi, dārukkhandhaṃ pana nāharasī”ti. sulabho esa, deva, punavāre jānissāmīti. punavāre tambavaṇṇena udakena āliṅgamānā viya āgacchati. sopi tatheva anusotaṃ nipajjitvā, udake gate sīsaṃ ukkhipitvā, naccanto viya tiṭṭhati. ayaṃ attano mudutāya gaṅgaṃ otaritvā ... pe ... na labhati. ♦ aparo gaṅgāya nadiyā tiriyaṃ patito vālikāya ottharito antarasetu viya bahūnaṃ paccayo jāto, ubhosu tīresu veḷunaḷakarañjakakudhādayo uplavitvā tattheva lagganti. tathā nānāvidhā gacchā vuyhamānā bhinnamusalabhinnasuppāhikukkurahatthiassādikuṇapānipi tattheva lagganti. mahāgaṅgāpi naṃ āsajja bhijjitvā dvidhā gacchati, macchakacchapakumbhīlamakarādayopi tattheva vāsaṃ kappenti. ayampi tiriyaṃ patitvā mahājanassa paccayattakatabhāvena gaṅgaṃ otaritvā vaṅkaṭṭhānesu vilāsamāno sāgaraṃ patvā maṇivaṇṇe ūmipiṭṭhe sobhituṃ na labhati.

241. (Bài kinh thứ tư) – Thấy khúc gỗ

Khi Thế Tôn đang ngồi trên pháp tòa cao quý nơi bờ sông Hằng, Ngài thấy một khúc gỗ lớn bị cuốn trôi theo dòng nước. Khúc gỗ ấy là một cây vuông vức được đẽo gọt, đặt giữa núi đá, phơi khô dưới gió nắng, và khi mưa lớn đến, nước cuốn trôi nó, làm nó trôi lần theo dòng sông Hằng.

Ngài muốn giảng dạy chư Tỳ khưu bằng cách so sánh hình ảnh khúc gỗ ấy với một thiện gia nam tử đã xuất gia theo giáo pháp với niềm tin, nên Ngài nói:

“Này các Tỳ khưu, các thầy thấy khúc gỗ lớn đang trôi theo dòng sông chứ?” – và từ đó bắt đầu nói về tám chướng duyên (aṭṭhadosa) có thể cản trở người ấy đạt đến biển lớn là Niết-bàn.

Giải thích tám thứ gỗ:

1. Khúc gỗ mục nát tại chỗ (thối rữa từ đầu):

Một khúc gỗ sinh ra gần dòng sông, bị dây leo quấn chặt, lá úa vàng, bị kiến v.v. gặm nhấm và cuối cùng bị mục nát ngay tại chỗ. Tượng trưng cho người có tà kiến, hoài nghi, không khởi niềm tin nơi giáo pháp. Dù tiếp cận đạo pháp nhưng không thể đi đến Niết-bàn.

2. Gốc ở ngoài bờ, cành bên trong:

Một cây mọc trên bờ sông, rễ vươn ra ngoài, cành vươn vào trong. Dù cành đôi khi chạm nước, nhưng do gốc không cắm trong dòng, nên cuối cùng không thể trôi về biển. Tượng trưng cho người vẫn gắn bó với đời sống thế tục, như cư sĩ đội lốt tu sĩ, tuy hình thức là tu sĩ nhưng tâm vẫn hướng về gia đình, tài sản.

3. Cắm chắc giữa dòng, nhưng bị dây leo quấn:

Khúc gỗ có gốc bám chắc vào đá giữa dòng, nhưng cành nhánh bị dây leo rối rắm. Tượng trưng cho người đã xuất gia đúng pháp, nhưng bị dính mắc vào các hệ lụy, lợi dưỡng, giao du sai lệch, không thể hành trì trọn vẹn.

4. Vùi trong cát, bị mục:

Khúc gỗ bị chôn một phần dưới lớp cát, dần mục nát. Là người lười biếng, tham ăn, buông lung giới hạnh, không tinh tấn, không thể tiến đạo.

5. Mắc giữa hai tảng đá, đứng yên một chỗ:

Khúc gỗ mọc giữa hai tảng đá, đứng cứng như đóng cọc, làm dòng nước bị chia đôi. Tượng trưng cho người cố chấp tà kiến, không tiếp nhận giáo pháp, như cây chắn đường, không trôi đi đâu được.

6. Dựng đứng lên trời, lâu lâu mới thấm nước:

Cây bị dây leo kéo dựng đứng lên không trung, chỉ sau một, hai năm mưa lớn mới ướt nhẹ.Tượng trưng cho người tuổi già mới xuất gia, sống nơi hẻo lánh, ít gặp thiện tri thức, ít nghe pháp, thi thoảng mới hành trì — nên không đi xa được.

7. Khúc gỗ nhẹ, mềm yếu, nổi bập bềnh:

Cây mọc trên đảo nhỏ giữa sông, thân và cành mềm yếu, chỉ biết nổi lên và lắc lư như múa khi nước chảy. Là người thiếu ý chí, dễ bị cám dỗ bởi lời khen, danh lợi, sống chỉ để tồn tại, không dấn thân hành trì.

8. Nằm ngang dòng như cầu, thành nơi nương tựa cho nhiều thứ:

Khúc gỗ nằm chắn ngang dòng, làm cây cỏ rác bám vào, cá sấu, rùa cũng ở lại quanh nó, nước sông phải tách làm đôi mà đi. Tượng trưng cho người có uy tín, làm nhiều việc thiện nhưng lại bám chấp vào công đức, danh tiếng, ảnh hưởng, khiến đạo hạnh không thể sâu, tâm không hướng đến giải thoát.

iti bhagavā imehi aṭṭhahi dosehi vimuttattā sotapaṭipannassa dārukkhandhassa apare samuddapattiyā antarāyakare aṭṭha dose dassetuṃ amuṃ mahantaṃ dārukkhandhaṃ gaṅgāya nadiyā sotena vuyhamānantiādimāha. tattha na thale ussīdissatīti thalaṃ nābhiruhissati. na manussaggāho gahessatīti “mahā vatāyaṃ dārukkhandho”ti disvā, uḷumpena taramānā gantvā, gopānasīādīnaṃ atthāya manussā na gaṇhissanti. na amanussaggāho gahessatīti “mahaggho ayaṃ candanasāro, vimānadvāre naṃ ṭhapessāmā”ti maññamānā na amanussā gaṇhissanti. ♦ evameva khoti ettha saddhiṃ bāhirehi aṭṭhahi dosehi evaṃ opammasaṃsandanaṃ veditabbaṃ — gaṅgāya avidūre pabbatatale jāto tattheva upacikādīhi khajjamāno apaṇṇattikabhāvaṃ gatadārukkhandho viya hi “natthi dinnan”tiādikāya micchādiṭṭhiyā samannāgato puggalo veditabbo. ayañhi sāsanassa dūrībhūtattā ariyamaggaṃ oruyha samādhikulle nisinno nibbānasāgaraṃ pāpuṇituṃ na sakkoti. ♦ gaṅgātīre bahimūlo antosākho hutvā jāto viya acchinnagihibandhano samaṇakuṭimbikapuggalo daṭṭhabbo. ayañhi “cittaṃ nāmetaṃ anibaddhaṃ, ‘samaṇomhī’ti vadantova gihī hoti, ‘gihīmhī’ti vadantova samaṇo hoti. ko jānissati, kiṃ bhavissatī”ti? mahallakakāle pabbajantopi gihibandhanaṃ na vissajjeti. mahallakapabbajitānañca sampatti nāma natthi. tassa sace cīvaraṃ pāpuṇāti, antacchinnakaṃ vā jiṇṇadubbaṇṇaṃ vā pāpuṇāti. senāsanampi vihārapaccante paṇṇasālā vā maṇḍapo vā pāpuṇāti. piṇḍāya carantenāpi puttanattakānaṃ dārakānaṃ pacchato caritabbaṃ hoti, pariyante nisīditabbaṃ hoti. tena so dukkhī dummano assūni muñcanto, “atthi me kulasantakaṃ dhanaṃ, kappati nu kho taṃ khādantena jīvitun”ti cintetvā ekaṃ vinayadharaṃ pucchati — “kiṃ, bhante ācariya, attano santakaṃ vicāretvā khādituṃ kappati, no kappatī”ti? “natthettha doso, kappatetan”ti. so attano bhajamānake katipaye dubbace durācāre bhikkhū gahetvā, sāyanhasamaye antogāmaṃ gantvā, gāmamajjhe ṭhito gāmike pakkosāpetvā, “amhākaṃ payogato uṭṭhitaṃ āyaṃ kassa dethā”ti āha. bhante, tumhe pabbajitā, mayaṃ kassa dassāmāti? kiṃ pabbajitānaṃ attano santakaṃ na vaṭṭatīti? kuddāla-piṭakaṃ gahetvā, khettamariyādabandhanādīni karonto nānāppakāraṃ pubbaṇṇāparaṇṇañceva phalāphale ca saṅgaṇhitvā, hemantagimhavassānesu yaṃ yaṃ icchati, taṃ taṃ pacāpetvā khādanto samaṇakuṭumbiko hutvā jīvati. kevalamassa pañcacūḷakena dārakena saddhiṃ pādaparicārikāva ekā natthi. ayaṃ puggalo kiñcāpi olambinīhi sākhāhi udakaṃ phusamāno antosākho rukkho viya cetiyaṅgaṇabodhiyaṅgaṇādīsu bhikkhūnaṃ kāyasāmaggiṃ deti, gihibandhanassa pana acchinnatāya bahimūlattā ariyamaggaṃ otaritvā samādhikulle nisinno nibbānasāgaraṃ pāpuṇituṃ na sakkoti. ♦ gaṅgāya majjhe jāto bahiddhā vallīhi ābaddhavaṅkasākhā viya saṅghasantakaṃ nissāya jīvamāno bhinnājīvapuggalo daṭṭhabbo. ekacco gihibandhanaṃ pahāya pabbajantopi sāruppaṭṭhāne pabbajjaṃ na labhati. pabbajjā hi nāmesā paṭisandhiggahaṇasadisā. yathā manussā yattha paṭisandhiṃ gaṇhanti, tesaṃyeva kulānaṃ ācāraṃ sikkhanti, evaṃ bhikkhūpi yesaṃ santike pabbajanti, tesaṃyeva ācāraṃ gaṇhanti. tasmā ekacco asāruppaṭṭhāne pabbajitvā ovādānusāsanīuddesaparipucchādīhi paribāhiro hutvā pātova muṇḍaghaṭaṃ gahetvā udakatitthaṃ gacchati, ācariyupajjhāyānaṃ bhattatthāya khandhe pattaṃ katvā bhattasālaṃ gacchati, dubbacasāmaṇerehi saddhiṃ nānākīḷaṃ kīḷati, ārāmikadārakehi saṃsaṭṭho viharati. ♦ so daharabhikkhukāle attano anurūpehi daharabhikkhūhi ceva ārāmikehi ca saddhiṃ saṅghabhogaṃ gantvā, “ayaṃ khīṇāsavehi asukarañño santikā paṭiggahitasaṅghabhogo, tumhe saṅghassa idañcidañca na detha, na hi tumhākaṃ pavattiṃ sutvā rājā vā rājamahāmattā vā attamanā bhavissanti, etha dāni idañcidañca karothā”ti kuddāla-piṭakāni gāhāpetvā heṭṭhā taḷākamātikāsu kattabbakiccāni kārāpetvā bahuṃ pubbaṇṇāparaṇṇaṃ vihāraṃ pavesetvā ārāmikehi attano upakārabhāvaṃ saṅghassa ārocāpeti. saṅgho “ayaṃ daharo bahūpakāro, imassa sataṃ vā dvisataṃ vā dethā”ti dāpeti. iti so ito cito ca saṅghasantakeneva vaḍḍhanto bahiddhā ekavīsatividhāhi anesanāhi baddho ariyamaggaṃ otaritvā samādhikulle nisinno nibbānasāgaraṃ pāpuṇituṃ na sakkoti. ♦ patitaṭṭhāneyeva vālikāya ottharitvā pūtibhāvaṃ āpāditarukkho viya ālasiyamahagghaso veditabbo. evarūpañhi puggalaṃ āmisacakkhuṃ paccayalolaṃ vissaṭṭhāacariyupajjhāyavattaṃ uddesaparipucchāyonisomanasikāravajjitaṃ sandhāya pañca nīvaraṇāni atthato evaṃ vadanti — “bho, kassa santikaṃ gacchāmā”ti? atha thinamiddhaṃ uṭṭhāya evamāha — “kiṃ na passatha? eso asukavihāravāsī kusītapuggalo asukaṃ nāma gāmaṃ gantvā yāgumatthake yāguṃ, pūvamatthake pūvaṃ, bhattamatthake bhattaṃ ajjhoharitvā vihāraṃ āgamma vissaṭṭhasabbavatto uddesādivirahito mañcaṃ upagacchanto mayhaṃ okāsaṃ karotī”ti. ♦ tato kāmacchandanīvaraṇaṃ uṭṭhāyāha — “bho, tava okāse kate mayhaṃ katova hoti, idāneva so niddāyitvā kilesānurañjitova pabujjhitvā kāmavitakkaṃ vitakkessatī”ti. tato byāpādanīvaraṇaṃ uṭṭhāyāha — “tumhākaṃ okāse kate mayhaṃ katova hoti. idāneva niddāyitvā vuṭṭhito ‘vattapaṭivattaṃ karohī’ti vuccamāno, ‘bho, ime attano kammaṃ akatvā amhesu byāvaṭā’ti nānappakāraṃ pharusavacanaṃ vadanto akkhīni nīharitvā vicarissatī”ti. tato uddhaccanīvaraṇaṃ uṭṭhāyāha — “tumhākaṃ okāse kate mayhaṃ katova hoti, kusīto nāma vātāhato aggikkhandho viya uddhato hotī”ti. atha kukuccanīvaraṇaṃ uṭṭhāyāha — “tumhākaṃ okāse kate mayhaṃ katova hoti, kusīto nāma kukkuccapakatova hoti, akappiye kappiyasaññaṃ kappiye ca akappiyasaññaṃ uppādetī”ti. atha vicikicchānīvaraṇaṃ uṭṭhāyāha — “tumhākaṃ okāse kate mayhaṃ katova hoti. evarūpo hi aṭṭhasu ṭhānesu mahāvicikicchaṃ uppādesī”ti. evaṃ ālasiyamahagghasaṃ pañca nīvaraṇāni caṇḍasunakhādayo viya siṅgacchinnaṃ jaraggavaṃ ajjhottharitvā gaṇhanti. sopi ariyamaggasotaṃ otaritvā samādhikulle nisinno nibbānasāgaraṃ pāpuṇituṃ na sakkoti.

Tám khúc gỗ và tám loại người không thể đến được “biển lớn Niết-bàn”

1. Khúc gỗ thối nát tại chỗ – Tà kiến

Giống như khúc gỗ mọc gần sông, bị mối mọt, côn trùng ăn mòn, không thể rời chỗ, mục rữa mà không trôi được,
→ Là người có tà kiến (ví dụ: “không có bố thí, không có nghiệp quả”) nên không có lòng tin nơi giáo pháp, không thực hành chánh đạo, như gỗ không thể ra biển.

2. Gốc bên ngoài, cành bên trong – Tu sĩ hình thức, tâm còn nặng thế tục

Giống như cây mọc bên bờ, rễ hướng ra ngoài (đời), cành hướng vào trong (đạo),
→ Là tu sĩ kiểu cư sĩ, bên ngoài mặc y, bên trong còn ràng buộc với gia đình, tiền bạc, nhà cửa.
→ Dù cho có bố thí, giúp đỡ Tăng, nhưng vì chưa cắt đứt dây buộc đời, người ấy không thể đạt đến đạo quả.

3. Cây giữa dòng bị dây leo buộc – Tu sai chỗ, lệch hướng

Người sống trong Tăng đoàn nhưng sống bằng tà mạng, nương vào tài sản của Tăng để mưu cầu danh lợi.
→ Dù đã xuất gia, nhưng nếu nương sai thầy, sống không đúng nơi, không học pháp, không giữ giới, người ấy như khúc gỗ bị dây leo buộc chặt, không thể trôi được.

4. Khúc gỗ bị vùi trong cát – Lười biếng, ham hưởng

Người ham ăn, lười tu, không học, không hành, sống buông lung, để cho năm triền cái (ngũ triền cái) như các loài thú dữ xâu xé tinh thần.
→ Như khúc gỗ bị vùi lấp, mục nát ngay tại chỗ, không thể trôi đến biển.

5. Mắc giữa hai tảng đá – Chấp thủ tà kiến

Người cố chấp các quan điểm sai lầm, ví dụ: "Niết-bàn vẫn có sắc", "Tâm vẫn tồn tại sau khi chết", hoặc "Người đắc đạo vẫn còn thọ nghiệp"...
→ Tâm cứng như đá, không tiếp nhận được pháp chân chánh, như khúc gỗ kẹt cứng giữa hai tảng đá.

6. Bị nâng dựng đứng lên trời – Người già xuất gia, tu hời hợt

Người già mới xuất gia, ít tiếp xúc Tăng đoàn, ít nghe pháp, sống nơi hẻo lánh, thi thoảng mới tiếp xúc đạo pháp, nên không đủ duyên hành trì sâu sắc.
→ Như khúc gỗ dựng thẳng đứng, mưa thấm chút ít rồi khô ráo lại – không thể đi đến Niết-bàn.

7. Cây yếu mềm, chỉ biết múa theo sóng – Người nhẹ dạ, chỉ biết vui miệng

Người có khả năng nói pháp, giọng dịu ngọt, được người cư sĩ quý mến, nhưng không thật sự hành trì, chỉ thích danh tiếng.
→ Như khúc gỗ mềm yếu, bồng bềnh theo nước, không có định hướng, không thể xuôi về biển lớn.

8. Khúc gỗ chắn ngang dòng, đầy rác – Tu sĩ dính mắc vào tài sản Tăng

Người tích lũy quyền lực và vật chất nhờ vào Tăng đoàn, trở thành trung tâm, kiểm soát tài sản, thu hút kẻ xấu, bị ô uế bởi lòng tham, sân, si.
→ Như khúc gỗ chắn ngang dòng sông, bị rác rưởi bám vào, ngăn trở cả dòng chảy — không thể tiến xa.

iti bhagavā imehi aṭṭhahi dosehi vimuttattā sotapaṭipannassa dārukkhandhassa apare samuddapattiyā antarāyakare aṭṭha dose dassetuṃ amuṃ mahantaṃ dārukkhandhaṃ gaṅgāya nadiyā sotena vuyhamānantiādimāha. tattha na thale ussīdissatīti thalaṃ nābhiruhissati. na manussaggāho gahessatīti “mahā vatāyaṃ dārukkhandho”ti disvā, uḷumpena taramānā gantvā, gopānasīādīnaṃ atthāya manussā na gaṇhissanti. na amanussaggāho gahessatīti “mahaggho ayaṃ candanasāro, vimānadvāre naṃ ṭhapessāmā”ti maññamānā na amanussā gaṇhissanti. ♦ evameva khoti ettha saddhiṃ bāhirehi aṭṭhahi dosehi evaṃ opammasaṃsandanaṃ veditabbaṃ — gaṅgāya avidūre pabbatatale jāto tattheva upacikādīhi khajjamāno apaṇṇattikabhāvaṃ gatadārukkhandho viya hi “natthi dinnan”tiādikāya micchādiṭṭhiyā samannāgato puggalo veditabbo. ayañhi sāsanassa dūrībhūtattā ariyamaggaṃ oruyha samādhikulle nisinno nibbānasāgaraṃ pāpuṇituṃ na sakkoti. gaṅgātīre bahimūlo antosākho hutvā jāto viya acchinnagihibandhano samaṇakuṭimbikapuggalo daṭṭhabbo. ayañhi “cittaṃ nāmetaṃ anibaddhaṃ, ‘samaṇomhī’ti vadantova gihī hoti, ‘gihīmhī’ti vadantova samaṇo hoti. ko jānissati, kiṃ bhavissatī”ti? mahallakakāle pabbajantopi gihibandhanaṃ na vissajjeti. mahallakapabbajitānañca sampatti nāma natthi. tassa sace cīvaraṃ pāpuṇāti, antacchinnakaṃ vā jiṇṇadubbaṇṇaṃ vā pāpuṇāti. senāsanampi vihārapaccante paṇṇasālā vā maṇḍapo vā pāpuṇāti. piṇḍāya carantenāpi puttanattakānaṃ dārakānaṃ pacchato caritabbaṃ hoti, pariyante nisīditabbaṃ hoti. tena so dukkhī dummano assūni muñcanto, “atthi me kulasantakaṃ dhanaṃ, kappati nu kho taṃ khādantena jīvitun”ti cintetvā ekaṃ vinayadharaṃ pucchati — “kiṃ, bhante ācariya, attano santakaṃ vicāretvā khādituṃ kappati, no kappatī”ti? “natthettha doso, kappatetan”ti. so attano bhajamānake katipaye dubbace durācāre bhikkhū gahetvā, sāyanhasamaye antogāmaṃ gantvā, gāmamajjhe ṭhito gāmike pakkosāpetvā, “amhākaṃ payogato uṭṭhitaṃ āyaṃ kassa dethā”ti āha. bhante, tumhe pabbajitā, mayaṃ kassa dassāmāti? kiṃ pabbajitānaṃ attano santakaṃ na vaṭṭatīti? kuddāla-piṭakaṃ gahetvā, khettamariyādabandhanādīni karonto nānāppakāraṃ pubbaṇṇāparaṇṇañceva phalāphale ca saṅgaṇhitvā, hemantagimhavassānesu yaṃ yaṃ icchati, taṃ taṃ pacāpetvā khādanto samaṇakuṭumbiko hutvā jīvati. kevalamassa pañcacūḷakena dārakena saddhiṃ pādaparicārikāva ekā natthi. ayaṃ puggalo kiñcāpi olambinīhi sākhāhi udakaṃ phusamāno antosākho rukkho viya cetiyaṅgaṇabodhiyaṅgaṇādīsu bhikkhūnaṃ kāyasāmaggiṃ deti, gihibandhanassa pana acchinnatāya bahimūlattā ariyamaggaṃ otaritvā samādhikulle nisinno nibbānasāgaraṃ pāpuṇituṃ na sakkoti. gaṅgāya majjhe jāto bahiddhā vallīhi ābaddhavaṅkasākhā viya saṅghasantakaṃ nissāya jīvamāno bhinnājīvapuggalo daṭṭhabbo. ekacco gihibandhanaṃ pahāya pabbajantopi sāruppaṭṭhāne pabbajjaṃ na labhati. pabbajjā hi nāmesā paṭisandhiggahaṇasadisā. yathā manussā yattha paṭisandhiṃ gaṇhanti, tesaṃyeva kulānaṃ ācāraṃ sikkhanti, evaṃ bhikkhūpi yesaṃ santike pabbajanti, tesaṃyeva ācāraṃ gaṇhanti. tasmā ekacco asāruppaṭṭhāne pabbajitvā ovādānusāsanīuddesaparipucchādīhi paribāhiro hutvā pātova muṇḍaghaṭaṃ gahetvā udakatitthaṃ gacchati, ācariyupajjhāyānaṃ bhattatthāya khandhe pattaṃ katvā bhattasālaṃ gacchati, dubbacasāmaṇerehi saddhiṃ nānākīḷaṃ kīḷati, ārāmikadārakehi saṃsaṭṭho viharati. so daharabhikkhukāle attano anurūpehi daharabhikkhūhi ceva ārāmikehi ca saddhiṃ saṅghabhogaṃ gantvā, “ayaṃ khīṇāsavehi asukarañño santikā paṭiggahitasaṅghabhogo, tumhe saṅghassa idañcidañca na detha, na hi tumhākaṃ pavattiṃ sutvā rājā vā rājamahāmattā vā attamanā bhavissanti, etha dāni idañcidañca karothā”ti kuddāla-piṭakāni gāhāpetvā heṭṭhā taḷākamātikāsu kattabbakiccāni kārāpetvā bahuṃ pubbaṇṇāparaṇṇaṃ vihāraṃ pavesetvā ārāmikehi attano upakārabhāvaṃ saṅghassa ārocāpeti. saṅgho “ayaṃ daharo bahūpakāro, imassa sataṃ vā dvisataṃ vā dethā”ti dāpeti. iti so ito cito ca saṅghasantakeneva vaḍḍhanto bahiddhā ekavīsatividhāhi anesanāhi baddho ariyamaggaṃ otaritvā samādhikulle nisinno nibbānasāgaraṃ pāpuṇituṃ na sakkoti. patitaṭṭhāneyeva vālikāya ottharitvā pūtibhāvaṃ āpāditarukkho viya ālasiyamahagghaso veditabbo. evarūpañhi puggalaṃ āmisacakkhuṃ paccayalolaṃ vissaṭṭhāacariyupajjhāyavattaṃ uddesaparipucchāyonisomanasikāravajjitaṃ sandhāya pañca nīvaraṇāni atthato evaṃ vadanti — “bho, kassa santikaṃ gacchāmā”ti? atha thinamiddhaṃ uṭṭhāya evamāha — “kiṃ na passatha? eso asukavihāravāsī kusītapuggalo asukaṃ nāma gāmaṃ gantvā yāgumatthake yāguṃ, pūvamatthake pūvaṃ, bhattamatthake bhattaṃ ajjhoharitvā vihāraṃ āgamma vissaṭṭhasabbavatto uddesādivirahito mañcaṃ upagacchanto mayhaṃ okāsaṃ karotī”ti.

"Khúc gỗ trôi và tám lỗi làm chướng ngại cho người tu hành"

Vì Đức Thế Tôn muốn chỉ rõ tám lỗi có thể ngăn cản một người đã bước vào dòng thánh (sotāpattimagga) không thể đạt được bờ bên kia là Niết-bàn, Ngài đã nói câu mở đầu:

“Các thầy thấy khúc gỗ lớn kia đang trôi theo dòng sông Hằng…”

Câu “không bị mắc cạn trên đất” nghĩa là khúc gỗ ấy không bị mắc lại trên bờ.
Câu “không bị người lấy đi” nghĩa là: dù người ta thấy khúc gỗ to và nghĩ “ồ, khúc gỗ này lớn quá!”, họ cũng không chèo thuyền ra lấy để làm dầm hoặc xà nhà.
Câu “không bị phi nhân lấy đi” nghĩa là: dù có kẻ nghĩ “đây là lõi đàn hương quý, ta sẽ đem đặt nơi cung điện của chư thiên”, thì các phi nhân cũng không đến lấy nó đi.

So sánh ẩn dụ – tám loại lỗi như tám loại khúc gỗ:

1. Người có tà kiến như khúc gỗ bị mối mọt ăn mục nát tại chỗ:

Khúc gỗ mọc trên núi gần dòng sông, bị dây leo bao phủ, lá úa vàng, bị kiến mối ăn mòn đến mức mục ruỗng không còn sử dụng được.

→ Tương tự, người có tà kiến như: “Không có bố thí, không có quả báo của nghiệp” v.v...
→ Vì ở xa chánh pháp nên không thể an trụ vào thiền định, không thể đạt đến biển lớn là Niết-bàn.


2. Tu sĩ còn gắn bó đời sống thế tục như cây có rễ ngoài, cành trong:

Giống như cây mọc bên bờ sông, rễ bám ngoài đất, cành chìa vào trong nước, dù có chạm nước nhưng do rễ nằm ngoài nên không thể trôi ra biển.

→ Như một tu sĩ còn vương víu gia đình, tài sản, chỉ “gọi là tu”, còn tâm vẫn ở đời.
→ Người ấy, dù đôi khi giúp Tăng chúng, vẫn không cắt được gốc thế tục nên không thể đến Niết-bàn.


3. Người sống nhờ vào của Tăng nhưng sống sai pháp như khúc gỗ bị dây leo trói buộc:

Giống như cây mọc giữa dòng, rễ bám chắc, nhưng cành bị dây leo quấn chặt, khiến không thể trôi theo dòng.

→ Tương tự là người nương tựa Tăng đoàn nhưng sống bằng tà mạng, không giữ giới, không học pháp, không vâng lời thầy, chỉ biết lợi dưỡng.
→ Người này bị các “dây leo” của dục vọng trói buộc, không thể đạt đến giải thoát.


4. Người lười biếng, tham ăn như khúc gỗ bị vùi lấp trong cát và mục nát:

→ Tu sĩ tham ăn, biếng nhác, không giữ bổn phận với thầy tổ, không học pháp, không hành thiền.
→ Năm triền cái như các loài thú dữ, đến vây bắt tâm người ấy, ví như khúc gỗ bị vùi trong cát, mục nát ngay tại chỗ, không thể trôi đi đâu.


5. Người cố chấp tà kiến như khúc gỗ bị kẹt giữa hai tảng đá:

→ Cây mọc giữa hai tảng đá, nước đến thì bị tách làm đôi, không thể đi đâu.
→ Người tu cố chấp quan điểm sai lầm, không tiếp thu giáo pháp, tâm giống như khúc gỗ cứng bị kẹt – không thể di chuyển theo dòng đạo.


6. Người sống cô lập, ít tiếp xúc thiện pháp như cây mọc thẳng lên trời, lâu lâu mới bị ướt:

→ Khúc gỗ dựng thẳng lên trời, bị dây leo treo cao, chỉ sau vài năm mưa lớn mới thấm nước chút ít.
→ Như người già mới xuất gia, sống biệt lập, không giao lưu, không học hỏi, chỉ thỉnh thoảng nghe pháp – không thể thấm nhuần đạo lộ.


7. Người dễ bị ảnh hưởng, nhẹ dạ như khúc gỗ trôi bồng bềnh như múa theo sóng:

→ Người tu thiếu nghị lực, thích được khen ngợi, sống phụ thuộc vào người khác, thích làm màu mè hình thức.
→ Như khúc gỗ nổi bập bềnh trên sóng nước, ngẩng đầu lên như múa, không tiến xa được.


8. Người tích lũy quyền lợi từ Tăng đoàn như khúc gỗ nằm ngang dòng, chặn nước, hút rác rưởi:

→ Khúc gỗ rơi nằm ngang sông, thành cầu tạm, thu hút rác rưởi, cỏ cây, cá sấu, rùa v.v... tụ lại sống quanh đó, khiến dòng sông bị chia làm đôi.

→ Tu sĩ này tích trữ của cải, quyền lực trong Tăng đoàn, trở thành trung tâm danh lợi, bị ô nhiễm bởi quyền thế.
→ Do đó, không thể tiến vào đạo quả giải thoát.

tato kāmacchandanīvaraṇaṃ uṭṭhāyāha — “bho, tava okāse kate mayhaṃ katova hoti, idāneva so niddāyitvā kilesānurañjitova pabujjhitvā kāmavitakkaṃ vitakkessatī”ti. tato byāpādanīvaraṇaṃ uṭṭhāyāha — “tumhākaṃ okāse kate mayhaṃ katova hoti. idāneva niddāyitvā vuṭṭhito ‘vattapaṭivattaṃ karohī’ti vuccamāno, ‘bho, ime attano kammaṃ akatvā amhesu byāvaṭā’ti nānappakāraṃ pharusavacanaṃ vadanto akkhīni nīharitvā vicarissatī”ti. tato uddhaccanīvaraṇaṃ uṭṭhāyāha — “tumhākaṃ okāse kate mayhaṃ katova hoti, kusīto nāma vātāhato aggikkhandho viya uddhato hotī”ti. atha kukuccanīvaraṇaṃ uṭṭhāyāha — “tumhākaṃ okāse kate mayhaṃ katova hoti, kusīto nāma kukkuccapakatova hoti, akappiye kappiyasaññaṃ kappiye ca akappiyasaññaṃ uppādetī”ti. atha vicikicchānīvaraṇaṃ uṭṭhāyāha — “tumhākaṃ okāse kate mayhaṃ katova hoti. evarūpo hi aṭṭhasu ṭhānesu mahāvicikicchaṃ uppādesī”ti. evaṃ ālasiyamahagghasaṃ pañca nīvaraṇāni caṇḍasunakhādayo viya siṅgacchinnaṃ jaraggavaṃ ajjhottharitvā gaṇhanti. sopi ariyamaggasotaṃ otaritvā samādhikulle nisinno nibbānasāgaraṃ pāpuṇituṃ na sakkoti. dvinnaṃ pāsāṇānaṃ antare nikhātamūlākārena ṭhitarukkho viya diṭṭhiṃ uppādetvā ṭhito diṭṭhigatiko veditabbo. so hi “arūpabhave rūpaṃ atthi, asaññībhave cittaṃ pavattati, bahucittakkhaṇiko lokuttaramaggo, anusayo cittavippayutto, te ca sattā sandhāvanti saṃsarantī”ti vadanto ariṭṭho viya kaṇṭakasāmaṇero viya ca vicarati. pisuṇavāco pana hoti, upajjhāyādayo saddhivihārikādīhi bhindanto vicarati. sopi ariyamaggasotaṃ otaritvā samādhikulle nisinno nibbānasāgaraṃ pāpuṇituṃ na sakkoti. abbhokāse nabhaṃ pūretvā vallīhi ābaddho ṭhito ekaṃ dve saṃvacchare atikkamitvā āgate mahoghe sakiṃ vā dvikkhattuṃ vā temanarukkho viya mahallakakāle pabbajitvā paccante vasamāno dullabhasaṅghadassano ceva dullabhadhammassavano ca puggalo veditabbo. ekacco hi vuḍḍhakāle pabbajito katipāhena upasampadaṃ labhitvā pañcavassakāle pātimokkhaṃ paguṇaṃ katvā dasavassakāle vinayadharattherassa santike vinayakathākāle maricaṃ vā harītakakhaṇḍaṃ vā mukhe ṭhapetvā bījanena mukhaṃ pidhāya niddāyanto nisīditvā lesakappena katavinayo nāma hutvā pattacīvaraṃ ādāya paccantaṃ gacchati. tatra naṃ manussā sakkaritvā bhikkhudassanassa dullabhatāya “idheva, bhante, vasathā”ti vihāraṃ kāretvā pupphūpagaphalūpagarukkhe ropetvā tattha vāsenti. atha mahāvihārasadisavihārā bahussutā bhikkhū, “janapade cīvararajanādīni katvā āgamissāmā”ti tattha gacchanti. so te disvā, haṭṭhatuṭṭho vattapaṭivattaṃ katvā, punadivase ādāya bhikkhācāragāmaṃ pavisitvā, “asuko thero suttantiko, asuko abhidhammiko, asuko vinayadharo, asuko tepiṭako, evarūpe there kadā labhissatha, dhammasavanaṃ kārethā”ti vadati. upāsakā “dhammassavanaṃ kāressāmā”ti vihāramaggaṃ sodhetvā, sappitelādīni ādāya, mahātheraṃ upasaṅkamitvā, “bhante, dhammassavanaṃ kāressāma, dhammakathikānaṃ vicārethā”ti vatvā punadivase āgantvā dhammaṃ suṇanti. nevāsikatthero āgantukānaṃ pattacīvarāni paṭisāmento antogabbheyeva divasabhāgaṃ vītināmeti. divākathiko uṭṭhito sarabhāṇako ghaṭena udakaṃ vamento viya sarabhāṇaṃ bhaṇitvā uṭṭhito, tampi so na jānāti. rattikathiko sāgaraṃ khobhento viya rattiṃ kathetvā uṭṭhito, tampi so na jānāti. paccūsakathiko kathetvā uṭṭhāsi, tampi so na jānāti. pātova pana uṭṭhāya mukhaṃ dhovitvā, therānaṃ pattacīvarāni upanāmetvā, bhikkhācāraṃ upagacchanto mahātheraṃ āha — “bhante, divākathiko kataraṃ jātakaṃ nāma kathesi, sarabhāṇako kataraṃ suttaṃ nāma bhaṇi, rattikathiko kataraṃ dhammakathaṃ nāma kathesi, paccūsakathiko kataraṃ jātakaṃ nāma kathesi, khandhā nāma kati, dhātuyo nāma kati, āyatanā nāma katī”ti. evarūpo ekaṃ dve saṃvaccharāni atikkamitvā bhikkhudassanañceva dhammassavanañca labhantopi oghe āgate udakena sakiṃ vā dvikkhattuṃ vā temitarukkhasadiso hoti. so evaṃ saṅghadassanato ca dhammassavanato ca paṭikkamma dūre vasanto ariyamaggaṃ otaritvā samādhikulle nisinno nibbānasāgaraṃ pāpuṇituṃ na sakkoti. majjhe gaṅgāya dīpake jāto mudurukkho viya madhurassarabhāṇakapuggalo veditabbo. so hi abhiññātāni abhiññātāni vessantarādīni jātakāni uggaṇhitvā, dullabhabhikkhudassanaṃ paccantaṃ gantvā, tattha dhammakathāya pasāditahadayena janena upaṭṭhiyamāno attānaṃ uddissa kate sampannapupphaphalarukkhe nandanavanābhirāme vihāre vasati. athassa bhārahārabhikkhū taṃ pavattiṃ sutvā, “asuko kira evaṃ upaṭṭhākesu paṭibaddhacitto viharati. paṇḍito bhikkhu paṭibalo buddhavacanaṃ vā uggaṇhituṃ, kammaṭṭhānaṃ vā manasikātuṃ, ānetvā tena saddhiṃ asukattherassa santike dhammaṃ uggaṇhissāma, asukattherassa santike kammaṭṭhānan”ti tattha gacchanti. so tesaṃ vattaṃ katvā sāyanhasamayaṃ vihāracārikaṃ nikkhantehi tehi “imaṃ, āvuso, cetiyaṃ tayā kāritan”ti puṭṭho, “āma, bhante”ti vadati. “ayaṃ bodhi, ayaṃ maṇḍapo, idaṃ uposathāgāraṃ, esā aggisālā, ayaṃ caṅkamo tayā kārito. ime rukkhe ropāpetvā tayā nandanavanābhirāmo vihāro kārito”ti. “āma, bhante”ti, vadati.

Năm triền cái ngự trị người tu lười biếng:

Sau đó, triền cái dục tham (kāmacchanda) lên tiếng:

"Này, nếu dành chỗ cho ta rồi, thì cũng là dành chỗ cho ta vậy thôi!
Kẻ ấy sau khi ngủ dậy, bị ô nhiễm bởi phiền não, chắc chắn sẽ khởi tâm suy tưởng đến các dục lạc."

Tiếp theo, sân hận (byāpāda) lên tiếng:

"Các ngươi dành chỗ cho ta cũng là dành cho ta vậy!
Kẻ ấy, khi bị nhắc nhở phải làm việc, sẽ tức giận và nói những lời cay độc:
'Bọn họ chẳng làm gì mà chỉ ra lệnh cho ta!'"

Rồi trạo cử (uddhacca) lên tiếng:

"Chỗ các ngươi dành là của ta vậy thôi!
Người lười giống như đống lửa bị gió thổi, lúc nào cũng bất an, phóng dật."

Kế đến, hối hận (kukkucca) nói:

"Dành chỗ cho ta cũng như dành cho ta thôi!
Người lười dễ khởi tâm hối hận, lầm lẫn giữa điều đúng và điều sai."

Sau cùng, nghi hoặc (vicikicchā) lên tiếng:

"Dành chỗ cho ta là dành cho ta rồi!
Người như thế thường sinh ra nghi ngờ sâu sắc về tám điều — tức các nghi hại pháp."

→ Như vậy, năm triền cái giống như những con thú dữ vồ lấy một con trâu già què cụt, không sừng — tượng trưng cho người tu lười biếng, thiếu tinh tấn.

Người ấy tuy đã vào dòng Thánh, ngồi nơi nền thiền, nhưng không thể vượt đến biển lớn Niết-bàn.

Người cố chấp tà kiến như cây bị chôn giữa hai tảng đá:

Cũng như cây mọc giữa hai tảng đá, rễ cắm sâu không lay chuyển được, người ấy sanh khởi tà kiến như:

“Có sắc pháp ở cõi vô sắc”,
“Có tâm ở cõi vô tưởng”,
“Đạo siêu thế là từng sát-na tâm liên tiếp”,
“Tùy miên không liên hệ với tâm”,
“Chúng sanh lưu chuyển trong luân hồi mà không cần nhân duyên rõ ràng.”

Người này như Tỳ-kheo Ariṭṭha, hoặc như chú sa-di Kanta — nói năng chia rẽ, gây mâu thuẫn trong Tăng.Tuy đã bước vào đạo, nhưng không thể đạt đến biển Niết-bàn. Người già mới xuất gia sống ở vùng xa, ít cơ hội học pháp.

Giống như cây cao bị dây leo treo lơ lửng, chỉ chạm nước sau một hoặc hai năm có trận lụt lớn. Là người xuất gia lúc già, sống ở vùng hẻo lánh, hiếm khi được gặp Tăng đoàn và nghe pháp. Người ấy, sau khi thọ Cụ túc, học chút giới luật rồi mang y bát về quê, sống trong ngôi chùa do cư dân địa phương xây dựng và cung kính cúng dường.

Khi các vị đại đức có học đến đó, người ấy mừng rỡ:

"Vị kia là bậc tinh thông Kinh, vị nọ là bậc giỏi Thắng Pháp, người này thạo giới luật… Các ông nên mau sắp xếp để nghe pháp!"

Dân làng sửa sang đường đi, chuẩn bị dầu, bơ, hoa quả… để cúng dường và nghe pháp. Vị Tỳ-kheo cư trú kia không hiểu nội dung các thời pháp, cũng không hỏi han, nhưng mỗi sáng sớm, ông vẫn đến gần các đại đức:

"Bạch thầy, tối qua ngài giảng Jātaka nào? Giới là bao nhiêu? Uẩn có mấy? Căn, xứ, giới là gì?"

Mặc dù ông được tiếp xúc với Tăng đoàn và nghe pháp một vài lần, nhưng như cây cao chỉ được mưa thấm đôi chút, không thể thấm nhuần đạo lộ, không thể đạt đến Niết-bàn.

so tesaṃ vattaṃ katvā sāyanhasamayaṃ vihāracārikaṃ nikkhantehi tehi “imaṃ, āvuso, cetiyaṃ tayā kāritan”ti puṭṭho, “āma, bhante”ti vadati. “ayaṃ bodhi, ayaṃ maṇḍapo, idaṃ uposathāgāraṃ, esā aggisālā, ayaṃ caṅkamo tayā kārito. ime rukkhe ropāpetvā tayā nandanavanābhirāmo vihāro kārito”ti. “āma, bhante”ti, vadati.

so sāyaṃ therupaṭṭhānaṃ gantvā vanditvā pucchati — “kasmā, bhante, āgatatthā”ti? “āvuso, taṃ ādāya gantvā, asukattherassa santike dhammaṃ uggaṇhitvā, asukattherassa santike kammaṭṭhānaṃ, asukasmiṃ nāma araññe samaggā samaṇadhammaṃ karissāmāti iminā kāraṇena āgatamhā”ti. sādhu, bhante, tumhe nāma mayhaṃ atthāya āgatā, ahampi ciranivāsena idha ukkaṇṭhito gacchāmi, pattacīvaraṃ gaṇhāmi, bhanteti. āvuso, sāmaṇeradaharā maggakilantā, ajja vasitvā sve pacchābhattaṃ gamissāmāti. sādhu, bhanteti punadivase tehi saddhiṃ piṇḍāya pavisati. gāmavāsino “amhākaṃ ayyo bahū āgantuke bhikkhū gahetvā āgato”ti āsanāni paññāpetvā yāguṃ pāyetvā sukhanisinnakathaṃ sutvā bhattaṃ adaṃsu. therā “tvaṃ, āvuso, anumodanaṃ katvā nikkhama, mayaṃ udakaphāsukaṭṭhāne bhattakiccaṃ karissāmā”ti nikkhantā. gāmavāsino anumodanaṃ sutvā pucchiṃsu, “kuto, bhante, therā āgatā”ti? ete amhākaṃ ācariyupajjhāyā samānupajjhāyā sandiṭṭhā sambhattāti. kasmā āgatāti? maṃ gahetvā gantukāmatāyāti. tumhe pana gantukāmāti? āmāvusoti. kiṃ vadetha, bhante, amhehi kassa uposathāgāraṃ kāritaṃ, kassa bhojanasālā, kassa aggisālādayo kāritā, mayaṃ maṅgalāmaṅgalesu kassa santikaṃ gamissāmāti? mahāupāsikāyopi tattheva nisīditvā assūni pavattayiṃsu. daharo “tumhesu evaṃ dukkhitesu ahaṃ gantvā kiṃ karissāmi? there uyyojessāmī”ti vihāraṃ gato. therāpi katabhattakiccā pattacīvarāni gahetvā nisinnā taṃ disvāva, “kiṃ, āvuso, cirāyasi, divā hoti, gacchāmā”ti āhaṃsu. āma, bhante, tumhe sukhitā, asukagehassa iṭṭhakāmūlaṃ ṭhitasaṇṭhāneneva ṭhitaṃ, asukagehādīnaṃ cittakammamūlādīni atthi, gatassāpi me cittavikkhepo bhavissati, tumhe purato gantvā asukavihāre cīvaradhovanarajanādīni karotha, ahaṃ tattha sampāpuṇissāmīti. te tassa osakkitukāmataṃ ñatvā tvaṃ pacchā āgaccheyyāsīti pakkamiṃsu. so there anugantvā nivatto vihārameva āgantvā bhojanasālādīni olokento vihāraṃ rāmaṇeyyakaṃ disvā cintesi — “sādhu vatamhi na gato. sace agamissaṃ, koci, deva, dhammakathiko āgantvā, sabbesaṃ manaṃ bhinditvā, vihāraṃ attano nikāyasantakaṃ kareyya, atha mayā pacchā āgantvā etassa pacchato laddhapiṇḍaṃ bhuñjantena caritabbaṃ bhavissatī”ti. so aparena samayena suṇāti, “te kira bhikkhū gataṭṭhāne ekanikāyadvenikāyaekapiṭakadvepiṭakādivasena buddhavacanaṃ uggaṇhitvā aṭṭhakathācariyā jātā vinayadharā jātā sataparivārāpi sahassaparivārāpi caranti. ye panettha samaṇadhammaṃ kātuṃ gatā, te ghaṭentā vāyamantā sotāpannā jātā, sakadāgāmino anāgāmino arahanto jātā, mahāsakkārena parinibbutā”ti. so cintesi — “sace ahampi agamissaṃ, mayhampesā sampatti abhavissa, imaṃ pana ṭhānaṃ muñcituṃ asakkonto ativiya parihīnamhī”ti. ayaṃ puggalo attano mudutāya taṃ ṭhānaṃ amuñcanto ariyamaggaṃ otaritvā samādhikulle nisinno nibbānasāgaraṃ pāpuṇituṃ na sakkoti. gaṅgāya nadiyā tiriyaṃ patitvā, vālikāya otthaṭabhāvena antarasetu viya hutvā, bahūnaṃ paccayo jātarukkho viya rathavinītamahāariyavaṃsacandopamādipaṭipadāsu aññataraṃ paṭipadaṃ uggahetvā ṭhito olīnavuttiko puggalo veditabbo. so hi taṃ paṭipattinissitaṃ dhammaṃ uggahetvā pakatiyā mañjussaro cittalapabbatādisadisaṃ mahantaṃ ṭhānaṃ gantvā cetiyaṅgaṇavattādīni karoti. atha naṃ dhammassavanaggaṃ pattaṃ āgantukā daharā “dhammaṃ kathehī”ti vadanti. so sammā uggahitaṃ dhammaṃ paṭipadaṃ dīpetvā katheti. athassa paṃsukūlikapiṇḍapātikādayo sabbe theranavamajjhimā bhikkhū “aho sappuriso”ti attamanā bhavanti. so kassaci nidānamattaṃ, kassaci upaḍḍhagāthaṃ, kassaci gāthaṃ upaṭṭhāpento ayapaṭṭakena ābandhanto viya daharasāmaṇere saṅgaṇhitvā mahāthere upasaṅkamitvā, “bhante, ayaṃ porāṇakavihāro atthi, ettha koci tatruppādo”ti?, pucchati. therā — “kiṃ vadesi, āvuso, catuvīsati karīsasahassāni tatruppādo”ti. bhante, tumhe evaṃ vadetha, uddhane pana aggipi na jalatīti. āvuso, mahāvihāravāsīhi laddhā nāma evameva nassanti, na koci saṇṭhapetīti. bhante, porāṇakarājūhi dinnaṃ khīṇāsavehi paṭiggahitaṃ kasmā ete nāsentīti? āvuso, tādisena dhammakathikena sakkā bhaveyya laddhunti. bhante, mā evaṃ vadetha, amhe paṭipattidīpakadhammakathikā nāma, tumhe maṃ “saṅghakuṭumbiko vihārupaṭṭhāko”ti maññamānā kātukāmāti. kiṃ nu kho, āvuso, akappiyametaṃ, tumhādisehi pana kathite amhākaṃ uppajjeyyāti? tena hi, bhante, ārāmikesu āgatesu amhākaṃ bhāraṃ karotha, ekaṃ kappiyadvāraṃ kathessāmāti. ♦ so pātova gantvā, sannipātasālāyaṃ ṭhatvā, ārāmikesu āgatesu “upāsakā asukakhette bhāgo kuhiṃ, asukakhette kahāpaṇaṃ kuhin”tiādīni vatvā, aññassa khettaṃ gahetvā, aññassa deti. evaṃ anukkamena taṃ taṃ paṭisedhento tassa tassa dento tathā akāsi, yathā yāguhatthā pūvahatthā bhattahatthā telamadhuphāṇitaghatādihatthā ca attanova santikaṃ āgacchanti. sakalavihāro ekakolāhalo hoti, pesalā bhikkhū nibbijja apakkamiṃsu. sopi ācariyupajjhāyehi vissaṭṭhakānaṃ bahūnaṃ dubbacapuggalānaṃ upajjhaṃ dento vihāraṃ pūreti. āgantukā bhikkhū vihāradvāre ṭhatvāva “vihāre ke vasantī”ti, pucchitvā, “evarūpā nāma bhikkhū”ti sutvā bāhireneva pakkamanti. ayaṃ puggalo sāsane tiriyaṃ nipannatāya mahājanassa paccayabhāvaṃ upagato ariyamaggaṃ otaritvā samādhikulle nisinno nibbānasāgaraṃ pāpuṇituṃ na sakkoti. bhagavantaṃ etadavocāti “nibbānapabbhārā”ti padena osāpitaṃ dhammadesanaṃ ñatvā anusandhikusalatāya etaṃ “kiṃ nu kho, bhante”tiādivacanaṃ avoca. tathāgatopi hi imissaṃ parisati nisinno “anusandhikusalo bhikkhu atthi, so maṃ pañhaṃ pucchissatī”ti tasseva okāsakaraṇatthāya imasmiṃ ṭhāne desanaṃ niṭṭhāpesi.

Người dùng lời ngọt ngào để thu phục người khác:

Giống như cây mềm yếu mọc giữa đảo, người ấy có giọng nói êm ái, thuộc nhiều Jātaka như Vessantara.   Được người dân vùng sâu kính mến, xây chùa, trồng cây, phục vụ đầy đủ. Khi các Tỳ-kheo nghe danh, đến xin học pháp hay thiền, ông hoan hỷ dẫn đi khắp nơi, giới thiệu:

"Đây là chánh điện do tôi xây, kia là cây bồ đề do tôi trồng, đây là giảng đường do tôi dựng..."

Người ấy, tuy dường như đạo hạnh, nhưng vẫn bị trói buộc bởi lòng tự hào và sự gắn bó với người cúng dường, không thể thâm nhập đạo lộ. Người ấy đến hầu thăm các vị trưởng lão vào buổi chiều, đảnh lễ rồi hỏi:

“Bạch quý ngài, sao quý ngài lại đến đây?”

Các trưởng lão đáp:

“Này hiền giả, chúng tôi đến đây để đón ông cùng đi. Chúng ta sẽ học pháp từ vị trưởng lão này, hành thiền dưới sự hướng dẫn của vị trưởng lão kia, rồi cùng sống đời phạm hạnh trong khu rừng ấy.”

Người ấy nói:

“Lành thay, bạch quý ngài! Quý ngài đến vì tôi, tôi cũng đã nhàm chán nơi này từ lâu. Tôi sẽ mang y bát cùng đi.”

Nhưng các trưởng lão bảo:

“Các sa-di còn trẻ, đi đường dài sẽ mệt. Hãy nghỉ lại đêm nay, mai sau giờ ăn hãy lên đường.”

Người ấy đồng ý, hôm sau đi khất thực cùng họ. Dân làng thấy ông dẫn theo nhiều Tỳ-kheo thì vui mừng, trải chỗ ngồi, dâng cháo, lắng nghe lời đạo lý rồi dâng cơm. Các trưởng lão nói:

“Này hiền giả, ông hãy nói lời hồi hướng rồi đi trước. Chúng tôi sẽ ăn ở nơi mát bên bờ nước.”

Người ấy làm theo.

Khi dân làng nghe lời hồi hướng, họ hỏi:

“Bạch quý ngài, quý ngài từ đâu đến?”

— “Đây là các vị thầy, các vị cùng thầy tế độ với tôi.”

— “Sao các ngài lại đến?”

— “Vì muốn đưa tôi đi tu học.”

— “Thế ông định đi thật à?”

— “Vâng, thưa quý vị.”

Nghe vậy, họ nói:

“Bạch quý ngài, chúng con đã xây cho ngài giảng đường, nhà ăn, nhà lửa...
Trong lễ cưới, ma chay, chúng con đều tìm đến ngài.
Bây giờ nếu ngài đi, chúng con biết nương tựa vào ai?”

Các tín nữ lớn tuổi cũng ngồi xuống, khóc nức nở. Người ấy nghĩ:

“Khi mọi người đau buồn thế này, mình đi thì ích gì? Mình nên tiễn các trưởng lão rồi quay về.”

Rồi quay lại chùa, nhìn giảng đường, phòng ốc, thấy nơi ấy đẹp đẽ, ông nghĩ:

“Thật tốt là mình không đi. Nếu mình đi, ai đó đến giảng pháp, quy tụ lòng dân, biến chùa này thành chùa của tông phái họ, rồi mình phải sống theo kiểu ăn xin từ người ấy thì sao?”

Rồi ông nghe tin:

“Những vị Tỳ-kheo ấy đã học pháp, trở thành các bậc giảng sư, thầy về Luật, có hàng trăm người theo. Một số hành thiền đắc quả Thánh, chứng A-la-hán, nhập Niết-bàn với đại sự kính lễ.”

Ông nghĩ:

“Giá như mình đã đi, mình cũng có thể đắc đạo như họ. Nhưng vì không buông được nơi này, mình giờ đã thoái hóa nghiêm trọng.”

Người này, do tính mềm yếu, không buông bỏ được chỗ mình đang ở, nên dù đi đúng hướng (trôi theo dòng), vẫn không thể đến được biển lớn Niết-bàn.

Người làm “cầu nối” lợi dưỡng – như khúc gỗ chắn ngang dòng sông

Người này giống như khúc gỗ nằm ngang dòng, phủ cát, trở thành cầu nối, chướng ngại cho dòng chảy, và là chỗ dựa của người đời — tượng trưng cho người sống đời hộ pháp hơn là hành giả.

Người ấy học một phần Pháp, một phần kệ tụng, rồi đến nơi danh tiếng như núi Cittalapabbata, dạy nghi lễ, làm người lãnh đạo.

Khi được người ta thỉnh giảng, ông giảng đúng pháp, nói đúng đường lối.

Mọi người – từ các bậc Tăng sĩ lớn tuổi đến các vị trẻ – đều tán thán:

“Ồ, vị này là bậc thánh thiện!”

Ông thu hút các sa-di, dẫn họ đến các bậc trưởng lão:

“Bạch ngài, chùa cổ này có người trụ trì không?”

— “Không, hiền giả. Chỗ đó rộng lớn mấy vạn công đất, nhưng chẳng ai chăm sóc.”

— “Sao lại vậy?”

— “Của chư Tăng đời xưa để lại, nhưng vì không ai duy trì, nên hoang phế.”

— “Nếu có người như tôi thì sẽ giữ được!”

→ Nhưng ông nói thêm:

“Đừng nghĩ tôi là cư sĩ, tôi là người giảng pháp theo đường tu tập, chứ không phải là ‘cư sĩ khoác áo Tăng’.”

Rồi ông tổ chức kiểm kê tài sản, phân phối theo ý mình, khiến mọi vật phẩm như cháo, bánh, cơm, dầu, mật ong, ghee… đều đổ về chỗ mình. Cả ngôi chùa trở nên ồn ào, xáo trộn, các Tỳ-kheo thuần tu tập thì chán nản mà rời đi. Ông thu nhận nhiều người thiếu đạo hạnh, cho họ cư trú trong chùa, đến mức các Tỳ-kheo khách hỏi "Ai đang sống trong chùa?" rồi nghe danh mà tránh xa.Người này tuy có danh nghĩa là người tu, nhưng thực chất chặn đường đạo, cản trở dòng thánh, nên không thể đạt đến Niết-bàn.

Khi một Tỳ-kheo nghe bài thuyết pháp mang ẩn dụ "nghiêng về Niết-bàn" (nibbānapabbhārā), ông khởi tâm hoan hỷ, hỏi Phật:

“Bạch Thế Tôn, ý nghĩa của điều này là gì?”

Phật biết tâm ông chín muồi, Ngài kết thúc thời pháp đúng lúc để mở đường cho người ấy tiếp tục câu hỏi, nhằm kéo dài dòng pháp thoại có khả năng đưa đến giác ngộ.

idāni orimaṃ tīrantiādinā nayena vuttesu ajjhattikāyatanādīsu evaṃ upagamanānupagamanādīni veditabbāni. “mayhaṃ cakkhu-pasannaṃ, ahaṃ appamattakampi rūpārammaṇaṃ paṭivijjhituṃ sakkomī”ti etaṃ nissāya cakkhuṃ assādentopi timirakavātādīhi upahatapasādo “amanāpaṃ mayhaṃ cakkhu, mahantampi rūpārammaṇaṃ vibhāvetuṃ na sakkomī”ti domanassaṃ āpajjantopi cakkhāyatanaṃ upagacchati nāma. aniccaṃ dukkhaṃ anattāti tiṇṇaṃ lakkhaṇānaṃ vasena vipassanto pana na upagacchati nāma. sotādīsupi eseva nayo. ♦ manāyatane pana “manāpaṃ vata me mano, kiñci vāmato aggahetvā sabbaṃ dakkhiṇatova gaṇhātī”ti vā “manena me cintitacintitassa alābho nāma natthī”ti vā evaṃ assādentopi, “ducintitacintitassa me mano appadakkhiṇaggāhī”ti evaṃ domanassaṃ uppādentopi manāyatanaṃ upagacchati nāma. iṭṭhe pana rūpe rāgaṃ, aniṭṭhe paṭighaṃ uppādento rūpāyatanaṃ upagacchati nāma. saddāyatanādīsupi eseva nayo. nandīrāgassetaṃ adhivacananti yathā hi majjhe saṃsīditvā thalaṃ pattaṃ dārukkhandhaṃ saṇhathūlavālikā pidahati, so puna sīsaṃ ukkhipituṃ na sakkoti, evaṃ nandīrāgena ābaddho puggalo catūsu mahāapāyesu patito mahādukkhena pidhīyati, so anekehipi vassasahassehi puna sīsaṃ ukkhipituṃ na sakkoti. tena vuttaṃ “nandīrāgassetaṃ adhivacanan”ti. asmimānassetaṃ adhivacananti yathā hi thale āruḷho dārukkhandho heṭṭhā gaṅgodakena ceva upari vassena ca temento anukkamena sevālapariyonaddho “pāsāṇo nu kho esa khāṇuko”ti vattabbataṃ āpajjati, evameva asmimānena unnato puggalo paṃsukūlikaṭṭhāne paṃsukūliko hoti, dhammakathikaṭṭhāne dhammakathiko, bhaṇḍanakārakaṭṭhāne bhaṇḍanakārako, vejjaṭṭhāne vejjo, pisuṇaṭṭhāne pisuṇo. so nānappakāraṃ anesanaṃ āpajjanto tāhi tāhi āpattīhi paliveṭhito “atthi nu kho assa abbhantare kiñci sīlaṃ, udāhu natthī”ti vattabbataṃ āpajjati. tena vuttaṃ “asmimānassetaṃ adhivacanan”ti. pañcannetaṃ kāmaguṇānaṃ adhivacananti yathā hi āvaṭṭe patitadārukhandho antoyeva pāsāṇādīsu āhatasamabbhāhato bhijjitvā cuṇṇavicuṇṇaṃ hoti, evaṃ pañcakāmaguṇāvaṭṭe patitapuggalo catūsu apāyesu kammakāraṇakhuppipāsādidukkhehi āhatasamabbhāhato dīgharattaṃ cuṇṇavicuṇṇataṃ āpajjati. tena vuttaṃ “pañcannetaṃ kāmaguṇānaṃ adhivacanan”ti. dussīloti nissīlo. pāpadhammoti lāmakadhammo. asucīti na suci. saṅkassarasamācāroti “imassa maññe imassa maññe idaṃ kamman”ti evaṃ parehi saṅkāya saritabbasamācāro. saṅkāya vā paresaṃ samācāraṃ saratītipi saṅkassarasamācāro. tassa hi dve tayo jane kathente disvā, “mama dosaṃ maññe kathentī”ti tesaṃ samācāraṃ saṅkassarati dhāvatīti saṅkassarasamācāro. samaṇapaṭiññoti salākaggahaṇādīsu “kittakā vihāre samaṇā”ti gaṇanāya āraddhāya “ahampi samaṇo, ahampi samaṇo”ti paṭiññaṃ deti, salākaggahaṇādīni karoti. brahmacāripaṭiññoti uposathapavāraṇādīsu “ahampi brahmacārī”ti paṭiññāya tāni kammāni pavisati. antopūtīti vakkahadayādīsu apūtikassapi guṇānaṃ pūtibhāvena, antopūti. avassutoti rāgena tinto. kasambujātoti rāgādīhi kilesehi kacavarajāto. etadavocāti gogaṇaṃ gaṅgātīrābhimukhaṃ katvā parisapariyante ṭhito ādito paṭṭhāya yāva pariyosānā satthu dhammadesanaṃ sutvā, “satthā orimatīrādīnaṃ anupagacchantādivasena sakkā paṭipattiṃ pūretunti vadati. yadi evaṃ pūretuṃ sakkā, ahaṃ pabbajitvā pūressāmī”ti cintetvā etaṃ “ahaṃ kho, bhante”tiādivacanaṃ avoca. ♦ vacchagiddhiniyoti vacchesu sasnehā thanehi khīraṃ paggharantehi vacchakasnehena sayameva gamissantīti. niyyātehevāti niyyātehiyeva. gāvīsu hi aniyyātitāsu gosāmikā āgantvā, “ekā gāvī na dissati, eko goṇo, eko vacchako na dissatī”ti tuyhaṃ piṭṭhito piṭṭhito vicarissanti, iti te aphāsukaṃ bhavissati. pabbajjā ca nāmesā saiṇassa na ruhati, aṇaṇā pabbajjā ca buddhādīhi saṃvaṇṇitāti dassanatthaṃ evamāha. niyyātāti niyyātitā. imasmiṃ sutte vaṭṭavivaṭṭaṃ kathitaṃ.

(1) Về sự “tiếp cận” hay “không tiếp cận” các nội xứ (cakkhāyatana - nhãn xứ, v.v.)

“Bây giờ, đối với các nội xứ như nhãn xứ v.v., nên hiểu như sau về sự tiếp cận hay không tiếp cận:

Ví dụ, một người nghĩ: “Con mắt ta thật tốt đẹp, ta có thể phân biệt cả những cảnh sắc rất nhỏ.” Nếu vì vậy mà người ấy sinh tâm ưa thích con mắt, hoặc khi mắt bị mờ vì bệnh hay do gió, rồi nghĩ: “Mắt ta thật khó chịu, đến cảnh lớn cũng không thấy rõ”, và khởi lên sầu muộn, thì được gọi là đã tiếp cận nhãn xứ. Trái lại, nếu vị ấy quán sát vô thường, khổ, vô ngã trong các pháp ấy thì gọi là không tiếp cận. Các xứ khác như nhĩ, tỉ, thiệt, thân, ý cũng được hiểu tương tự.

(2) Về ý xứ và ái lạc

Với ý xứ, nếu người ấy nghĩ: “Ý của ta thật tuyệt, không bỏ sót điều gì, chỉ nhận toàn điều đúng” hoặc: “Tâm ta nghĩ gì là được nấy”, và vì vậy mà sinh tâm ưa thích, hoặc khi tâm không như ý mà sinh phiền não, thì cũng gọi là đã tiếp cận ý xứ. Nếu khởi dục với cảnh đẹp, hay sân với cảnh xấu, thì gọi là đã tiếp cận sắc xứ. Tương tự với thanh, hương, vị, xúc.

(3) Nandīrāga – Tham ái buộc trói

“Nandīrāga” là tên gọi của tham ái luyến ái. Như một khúc gỗ sa lầy trong vùng lầy, bị cát mịn và thô vùi lấp, không thể ngóc đầu dậy;tương tự, người bị trói buộc bởi tham ái, rơi vào bốn ác đạo, bị dày vò khổ sở,
khó ngóc đầu lên được dù trải qua hàng ngàn kiếp.

(4) Asmimāna – Ngã mạn

“Asmimāna” là tên gọi của kiêu mạn.
Như khúc gỗ dạt vào bờ, bị rêu rác phủ kín, khiến người ta không còn biết đó là gỗ hay đá;
tương tự, người tự cao vì ngã mạn, sẽ trở thành bất cứ gì theo môi trường:
ở nơi hành trì khất sĩ thì làm khất sĩ,
nơi thuyết pháp thì làm thuyết pháp,
nơi gây cãi thì cãi,
nơi làm thầy thuốc thì làm thầy thuốc,
nơi nói xấu thì nói xấu...
Người này bị đủ loại ô nhiễm vây quanh, đến mức người khác phải tự hỏi:
“Không biết người này còn chút giới đức nào không?”

(5) Pañcakāmaguṇā – Năm dục lạc

“Pañcakāmaguṇā” là năm pháp thuộc về dục lạc.
Như một khúc gỗ rơi vào xoáy nước, bị đá đập vỡ tan thành vụn,
tương tự, người bị năm dục lạc cuốn trôi (sắc, thanh, hương, vị, xúc),
rơi vào bốn ác đạo, bị khổ vì nghiệp, vì đói khát, dày vò liên tục trong nhiều kiếp.

(6) Về người dối trá giả danh tu hành

Người tà hạnh (dussīlo) tức là không có giới.
“Pāpadhammā” là người có tâm hạnh ác.
“Asucī” là bất tịnh.
“Saṅkassarasamācāro” là người có hành vi đáng ngờ, luôn nghĩ rằng người khác đang bàn về lỗi mình.

Ví dụ, thấy người khác thì thầm, liền nghi:

“Chắc họ đang nói xấu tôi!”

(7) Người tu chỉ để có danh xưng

“Samaṇapaṭiññā” là tuyên bố mình là Tỳ-kheo khi phát quà, chia thẻ.
“Brahmacāripaṭiññā” là tự nhận là phạm hạnh trong các lễ Uposatha, Pavāraṇā.

Người này chỉ có danh mà không có thực hành, trong tâm thì bẩn thỉu, ngập tràn dục vọng, đầy ô nhiễm, giống như cỏ dại mọc ngầm.

Khi Đức Thế Tôn thuyết giảng như vậy, có một người đứng ngoài rìa đại chúng, dẫn bò hướng về bờ sông. Nghe pháp từ đầu đến cuối, ông suy nghĩ:
“Nếu làm như lời Phật dạy, ta có thể tu được. Vậy ta sẽ xuất gia.”

Rồi ông nói lên lời thỉnh cầu:

“Bạch Thế Tôn, con xin được xuất gia tu tập theo giáo pháp.”

(9) Về sự cần thiết phải dứt bỏ tài sản
Nếu bò chưa được bàn giao (niyyāta), chủ nhân của những con bò sẽ luôn theo dõi, kiểm tra, khiến người tu không được an ổn. Do đó, Phật dạy rằng: “Xuất gia chỉ thành tựu khi không còn nợ nần.” Bởi vậy, việc từ bỏ hoàn toàn tài sản trước khi xuất gia là điều được các bậc giác ngộ tán thán.
 

 Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

________________________________________

Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

200. IV. Khúc Gỗ (1) (S.iv,179)

1) Một thời Thế Tôn trú ở Kosambi, trên bờ sông Gangà.

2) Thế Tôn thấy một khúc gỗ lớn trôi theo dòng nước sông Hằng, thấy vậy liền gọi các Tỷ-kheo:

-- Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy khúc gỗ to lớn này đang trôi theo dòng nước sông Hằng không?

-- Thưa có, bạch Thế Tôn.

3) -- Này các Tỷ-kheo, nếu khúc gỗ không đâm vào bờ bên này, không đâm vào bờ bên kia, không chìm giữa dòng, không mắc cạn trên miếng đất nổi, không bị loài Người nhặt lấy, không bị phi nhân nhặt lấy, không bị mắc vào xoáy nước, không bị mục bên trong; như vậy, này các Tỷ-kheo, khúc gỗ ấy sẽ hướng về biển, sẽ xuôi theo biển, sẽ nghiêng nhập vào biển. Vì sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, dòng sông Hằng hướng về biển, xuôi theo biển, nghiêng trôi về biển. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, nếu các Ông không đâm vào bờ bên này, không đâm vào bờ bên kia, không chìm giữa dòng, không mắc cạn trên miếng đất nổi, không bị loài Người nhặt lấy, không bị phi nhân nhặt lấy, không bị mắc vào xoáy nước, không bị mục bên trong; như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông sẽ hướng về Niết-bàn, sẽ xuôi theo Niết-bàn, sẽ nghiêng nhập vào Niết-bàn. Vì sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, chánh kiến hướng về Niết-bàn, xuôi theo Niết-bàn, nghiêng nhập vào Niết-bàn.

4) Khi được nghe nói vậy, một Tỷ-kheo bạch Thế Tôn:

-- Bạch Thế Tôn, bờ bên này là gì? Bờ bên kia là gì? Thế nào là chìm giữa dòng? Thế nào là mắc cạn trên miếng đất nổi? Thế nào là bị loài Người nhặt lấy? Thế nào là bị phi nhân nhặt lấy? Thế nào là bị mắc vào xoáy nước? Thế nào là bị mục nát bên trong?

5) -- Bờ bên này, này Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với sáu nội xứ này.

6) Bờ bên kia, này Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với sáu ngoại xứ.

7) Bị chìm giữa dòng, này Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với hỷ tham.

8) Bị mắc cạn trên miếng đất nổi, này Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với ngã mạn.

9) Và này Tỷ-kheo, thế nào là bị người nhặt lấy? Ở đây, Tỷ-kheo sống quá liên hệ với cư sĩ, chung vui, chung buồn, an lạc khi họ an lạc, đau khổ khi họ bị đau khổ, tự trói buộc mình trong các công việc phải làm được khởi lên của họ. Ðây gọi là Tỷ-kheo bị loài Người nhặt lấy.

10) Và thế nào, này Tỷ-kheo, là bị phi nhân nhặt lấy? Ở đây, Tỷ-kheo sống Phạm hạnh với ước nguyện được sanh cộng trú với một hạng chư Thiên: "Mong rằng với giới luật này, với cấm giới này, với khổ hạnh này, với Phạm hạnh này, ta sẽ trở thành Thiên nhân hay một loài chư Thiên!" Ðây, này Tỷ-kheo, được gọi là bị phi nhân nhặt lấy.

11) Bị mắc vào xoáy nước, này Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với năm dục công đức.

12) Và này Tỷ-kheo, thế nào là bị mục nát bên trong? Ở đây, này Tỷ-kheo, có người thọ tà giới, theo ác pháp, bất tịnh, có những hành vi đáng nghi ngờ, có những hành động che đậy, không phải Sa-môn nhưng hiện tướng Sa-môn, không phải Phạm hạnh nhưng hiện tướng Phạm hạnh, nội tâm bị hủ bại, đầy dục vọng, là một đống rác bẩn. Ðây, này Tỷ-kheo, được gọi là bị mục nát bên trong.

11) Lúc bấy giờ Nanda, người chăn bò, đứng không xa Thế Tôn bao nhiêu.

12) Rồi người chăn bò Nanda bạch Thế Tôn:

-- Bạch Thế Tôn, con không đâm vào bờ bên này, con không đâm vào bờ bên kia, con không bị chìm giữa dòng, con không bị mắc cạn trên miếng đất nổi, con không bị loài Người nhặt lấy, con không bị phi nhân nhặt lấy, con không bị mắc vào xoáy nước, con không bị mục nát bên trong. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn cho con được xuất gia với Thế Tôn, được thọ đại giới.

13) -- Này Nanda, hãy đem trả các con bò cho người chủ.

-- Bạch Thế Tôn, chúng sẽ đi trở về. Các bò mẹ đang trông mong gặp lại các con bê của chúng.

-- Tuy vậy, này Nanda, Ông hãy trả lui các con bò cho những người chủ.

14) Rồi Nanda, người chăn bò, sau khi trả lui các con bò cho những người chủ, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, bạch Thế Tôn:

-- Bạch Thế Tôn, các con bò đã được trả lui cho những người chủ. Bạch Thế Tôn, xin hãy cho con được xuất gia với Thế Tôn. Hãy cho con thọ đại giới.

15) Nanda, người chăn bò được xuất gia với Thế Tôn, được thọ đại giới. Sau khi thọ đại giới không bao lâu, Tôn giả Nanda sống một mình, an tịnh...

16) Tôn giả Nanda trở thành một vị A-la-hán nữa.

201. V. Khúc Gỗ (2) (S.iv,181)

1) Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở tại Kimbilà, trên bờ sông Hằng.

2) Thế Tôn thấy một khúc gỗ trôi theo dòng nước sông Hằng, thấy vậy, liền gọi các Tỷ-kheo:

-- Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy khúc gỗ lớn này bị trôi theo dòng nước sông Hằng?

-- Thưa có, bạch Thế Tôn.

3) (Như kinh trước cho đến: Nghiêng nhập vào Niết-bàn).

4) Ðược nghe nói vậy, Tôn giả Kimbilà bạch Thế Tôn:

-- Bạch Thế Tôn, bờ bên này là gì?... (như trên) ...

12) -- Và này Kimbilà, thế nào là bị mục nát bên trong? Ở đây, này Kimbilà, Tỷ-kheo phạm một giới tội (àpatti), một giới tội không thể giải trừ. Này Kimbilà, đây gọi là mục nát bên trong.

 

-ooOoo-