BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Hai, ngày 30 tháng 06, 2025

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập III – Chương 35. Tương Ưng Sáu Xứ - Phẩm Rắn Độc- SN 35.244. Bài 446. NHẤT HƯỚNG GIẢI THOÁT- Kinh Những Điều Mang Lại Khổ Đau (Dukkhadhammasuttaṃ).
...
****** http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-446.jpg










http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png

 Với hành giả tu tập thiền quán, khổ đau vốn bắt nguồn từ phiền não. Phiền não sanh khởi và tồn tại do thiếu chánh niệm và thiếu nhận thức về bản chất hệ luỵ. Một khi đã ý thức rõ về khổ và những gì mang lại khổ đau thì tâm tư của hành giả chỉ hướng cầu mục đích duy nhất là giác ngộ giải thoát. Như một giòng sông bắt nguồn từ non cao chảy xuôi ra biển chỉ có một hướng không khác.

 KINH VĂN

244. yato kho, bhikkhave, bhikkhu sabbesaṃyeva dukkhadhammānaṃ samudayañca atthaṅgamañca yathābhūtaṃ pajānāti. tathā kho panassa kāmā diṭṭhā honti, yathāssa kāme passato, yo kāmesu kāmacchando kāmasneho kāmamucchā kāmapariḷāho, so nānuseti. tathā kho panassa cāro ca vihāro ca anubuddho hoti, yathā carantaṃ viharantaṃ abhijjhādomanassā pāpakā akusalā dhammā nānusenti.

“kathañca, bhikkhave, bhikkhu sabbesaṃyeva dukkhadhammānaṃ samudayañca atthaṅgamañca yathābhūtaṃ pajānāti? ‘iti rūpaṃ, iti rūpassa samudayo, iti rūpassa atthaṅgamo; iti vedanā... iti saññā... iti saṅkhārā... iti viññāṇaṃ, iti viññāṇassa samudayo, iti viññāṇassa atthaṅgamo’ti — evaṃ kho, bhikkhave, bhikkhu sabbesaṃyeva dukkhadhammānaṃ samudayañca atthaṅgamañca yathābhūtaṃ pajānāti.

“kathañca, bhikkhave, bhikkhuno kāmā diṭṭhā honti? yathāssa kāme passato, yo kāmesu kāmacchando kāmasneho kāmamucchā kāmapariḷāho, so nānuseti. seyyathāpi, bhikkhave, aṅgārakāsu sādhikaporisā puṇṇā aṅgārānaṃ vītaccikānaṃ vītadhūmānaṃ. atha puriso āgaccheyya jīvitukāmo amaritukāmo sukhakāmo dukkhapaṭikūlo. tamenaṃ dve balavanto purisā nānābāhāsu gahetvā, taṃ aṅgārakāsuṃ upakaḍḍheyyuṃ. so iticīticeva kāyaṃ sannāmeyya. taṃ kissa hetu? ñāta {ñāṇaṃ (ka.)} ñhi, bhikkhave, tassa purisassa {purisassa hoti (sī. syā. kaṃ. pī.), purisassa hetu hoti (ka.) ma. ni. 2.45} imaṃ cāhaṃ aṅgārakāsuṃ papatissāmi, tatonidānaṃ maraṇaṃ vā nigacchissāmi maraṇamattaṃ vā dukkhanti. evameva kho, bhikkhave, bhikkhuno aṅgārakāsūpamā kāmā diṭṭhā honti, yathāssa kāme passato, yo kāmesu kāmacchando kāmasneho kāmamucchā kāmapariḷāho, so nānuseti.

“kathañca, bhikkhave, bhikkhuno cāro ca vihāro ca anubuddho hoti, yathā carantaṃ viharantaṃ abhijjhādomanassā pāpakā akusalā dhammā nānussavanti {nānusenti (ka.)} ? seyyathāpi, bhikkhave, puriso bahukaṇṭakaṃ dāyaṃ paviseyya. tassa puratopi kaṇṭako, pacchatopi kaṇṭako, uttaratopi kaṇṭako, dakkhiṇatopi kaṇṭako, heṭṭhatopi kaṇṭako, uparitopi kaṇṭako. so satova abhikkameyya, satova paṭikkameyya — ‘mā maṃ kaṇṭako’ti. evameva kho, bhikkhave, yaṃ loke piyarūpaṃ sātarūpaṃ, ayaṃ vuccati ariyassa vinaye kaṇṭako”ti. iti viditvā {kaṇḍako. taṃ kaṇḍakoti iti viditvā (sī.)} saṃvaro ca asaṃvaro ca veditabbo.

“kathañca, bhikkhave, asaṃvaro hoti? idha, bhikkhave, bhikkhu cakkhunā rūpaṃ disvā piyarūpe rūpe adhimuccati, appiyarūpe rūpe byāpajjati, anupaṭṭhitakāyassati ca viharati parittacetaso, tañca cetovimuttiṃ paññāvimuttiṃ yathābhūtaṃ nappajānāti, yatthassa te uppannā pāpakā akusalā dhammā aparisesā nirujjhanti ... pe ... jivhāya rasaṃ sāyitvā ... pe ... manasā dhammaṃ viññāya piyarūpe dhamme adhimuccati, appiyarūpe dhamme byāpajjati, anupaṭṭhitakāyassati ca viharati parittacetaso, tañca cetovimuttiṃ paññāvimuttiṃ yathābhūtaṃ nappajānāti yatthassa te uppannā pāpakā akusalā dhammā aparisesā nirujjhanti. evaṃ kho, bhikkhave, asaṃvaro hoti.

“kathañca, bhikkhave, saṃvaro hoti? idha, bhikkhave, bhikkhu cakkhunā rūpaṃ disvā piyarūpe rūpe nādhimuccati, appiyarūpe rūpe na byāpajjati, upaṭṭhitakāyassati ca viharati appamāṇacetaso, tañca cetovimuttiṃ paññāvimuttiṃ yathābhūtaṃ pajānāti, yatthassa te uppannā pāpakā akusalā dhammā aparisesā nirujjhanti ... pe ... jivhā rasaṃ sāyitvā ... pe ... manasā dhammaṃ viññāya piyarūpe dhamme nādhimuccati, appiyarūpe dhamme na byāpajjati, upaṭṭhitakāyassati ca viharati appamāṇacetaso, tañca cetovimuttiṃ paññāvimuttiṃ yathābhūtaṃ pajānāti, yatthassa te uppannā pāpakā akusalā dhammā aparisesā nirujjhanti. evaṃ kho, bhikkhave, saṃvaro hoti.

“tassa ce, bhikkhave, bhikkhuno evaṃ carato evaṃ viharato kadāci karahaci satisammosā uppajjanti, pāpakā akusalā sarasaṅkappā saṃyojaniyā, dandho, bhikkhave, satuppādo. atha kho naṃ khippameva pajahati vinodeti byantīkaroti anabhāvaṃ gameti.

“seyyathāpi, bhikkhave, puriso divasaṃsantatte {divasasantatte (sī.)} ayokaṭāhe dve vā tīṇi vā udakaphusitāni nipāteyya. dandho, bhikkhave, udakaphusitānaṃ nipāto, atha kho naṃ khippameva parikkhayaṃ pariyādānaṃ gaccheyya. evameva kho, bhikkhave, tassa ce bhikkhuno evaṃ carato, evaṃ viharato kadāci karahaci satisammosā uppajjanti pāpakā akusalā sarasaṅkappā saṃyojaniyā, dandho, bhikkhave, satuppādo. atha kho naṃ khippameva pajahati vinodeti byantīkaroti anabhāvaṃ gameti. evaṃ kho, bhikkhave, bhikkhuno cāro ca vihāro ca anubuddho hoti; yathā carantaṃ viharantaṃ abhijjhādomanassā pāpakā akusalā dhammā nānussavanti. tañce, bhikkhave, bhikkhuṃ evaṃ carantaṃ evaṃ viharantaṃ rājāno vā rājamahāmattā vā mittā vā amaccā vā ñātī vā sālohitā vā, bhogehi abhihaṭṭhuṃ pavāreyyuṃ — ‘ehi {evaṃ (sī.)}, bho purisa, kiṃ te ime kāsāvā anudahanti, kiṃ muṇḍo kapālamanucarasi, ehi hīnāyāvattitvā bhoge ca bhuñjassu, puññāni ca karohī’ti. so vata, bhikkhave, bhikkhu evaṃ caranto evaṃ viharanto sikkhaṃ paccakkhāya hīnāyāvattissatīti netaṃ ṭhānaṃ vijjati.

“seyyathāpi, bhikkhave, gaṅgā nadī pācīnaninnā pācīnapoṇā pācīnapabbhārā. atha mahājanakāyo āgaccheyya kuddāla-piṭakaṃ ādāya — ‘mayaṃ imaṃ gaṅgaṃ nadiṃ pacchāninnaṃ karissāma pacchāpoṇaṃ pacchāpabbhāran’ti. taṃ kiṃ maññatha, bhikkhave, api nu kho so mahājanakāyo gaṅgaṃ nadiṃ pacchāninnaṃ kareyya pacchāpoṇaṃ pacchāpabbhāran”ti? “no hetaṃ, bhante”. “taṃ kissa hetu”? “gaṅgā, bhante, nadī pācīnaninnā pācīnapoṇā pācīnapabbhārā; sā na sukarā pacchāninnā kātuṃ pacchāpoṇā pacchāpabbhārā. yāvadeva ca pana so mahājanakāyo kilamathassa vighātassa bhāgī assā”ti. “evameva kho, bhikkhave, tañce bhikkhuṃ evaṃ carantaṃ evaṃ viharantaṃ rājāno vā rājamahāmattā vā mittā vā amaccā vā ñātī vā sālohitā vā bhogehi abhihaṭṭhuṃ pavāreyyuṃ — ‘ehi, bho purisa, kiṃ te ime kāsāvā anudahanti, kiṃ muṇḍo kapālamanucarasi, ehi hīnāyāvattitvā bhoge ca bhuñjassu, puññāni ca karohī’ti. so vata, bhikkhave, bhikkhu evaṃ caranto evaṃ viharanto sikkhaṃ paccakkhāya hīnāyāvattissatīti netaṃ ṭhānaṃ vijjati. taṃ kissa hetu? yañhi taṃ, bhikkhave, cittaṃ dīgharattaṃ vivekaninnaṃ vivekapoṇaṃ vivekapabbhāraṃ, tathā {kañca (syā. kaṃ. ka.)} hīnāyāvattissatīti netaṃ ṭhānaṃ vijjatī”ti. sattamaṃ.

1.
“Này chư Tỳ khưu, một hành giả hiểu rõ như nhiên về sự sanh khởi và hoại diệt của tất cả các pháp đưa đến khổ đau, thì khi nhìn vào dục lạc, vị ấy sẽ thấy chúng một cách đúng với bản chất thực, đến mức khi quán sát chúng, ham muốn, tham luyến, khao khát, mê đắm và vọng tưởng không còn tiềm ẩn trong tâm đối với dục lạc. Khi ấy, vị ấy đã thông hiểu một lối sống và hành xử sao cho các pháp bất thiện như tham lam và sân hận không thể xâm nhập vào tâm.”

2.
“Và này chư Tỳ khưu, thế nào là một vị Tỳ khưu hiểu rõ như nhiên về sự sinh và diệt của các pháp đưa đến khổ?

‘Sắc là như vậy, sự sinh của sắc là như vậy, sự diệt của sắc là như vậy;
Thọ là như vậy … Tưởng là như vậy … Hành là như vậy … Thức là như vậy;
sự sinh và diệt của nó là như vậy’: bằng cách ấy, vị Tỳ khưu hiểu rõ như nhiên về sự sinh và diệt của tất cả các pháp đưa đến khổ đau.”

3.
“Và thế nào, chư Tỳ khưu, dục lạc được vị Tỳ khưu thấy một cách khiến ham muốn, tham luyến, khao khát, mê đắm và vọng tưởng không còn ẩn tàng trong tâm?

Ví như có một hố than hồng sâu hơn chiều cao của người, đầy than nóng đỏ nhưng không khói không lửa. Một người đi đến, khát sống, sợ chết, ham vui và tránh khổ. Lúc ấy, có hai người lực lưỡng nắm lấy hai tay kéo người ấy về phía hố than. Người ấy sẽ vùng vẫy, giãy giụa. Vì sao? Vì người ấy biết rằng: ‘Ta sẽ rơi vào hố than này và sẽ gặp cái chết hay đau đớn khủng khiếp.’

Cũng vậy, khi một vị Tỳ khưu thấy dục lạc như hố than đỏ rực ham muốn, tham luyến, khao khát, mê đắm và vọng tưởng không còn tiềm ẩn trong tâm vị ấy.”

4.
“Và thế nào, chư Tỳ khưu, vị Tỳ khưu hiểu rõ lối sống sao cho các pháp bất thiện không thể xâm nhập?

Ví như có người đi vào một khu rừng đầy gai — trước mặt có gai, sau lưng có gai, bên trái, bên phải, trên đầu và dưới chân đều có gai. Người ấy đi tới một cách chánh niệm, lùi lại cũng chánh niệm, nghĩ rằng: ‘Cầu mong không bị gai đâm!’

Cũng vậy, bất kỳ pháp nào trên thế gian có vẻ đẹp và hấp dẫn đều được gọi là gai nhọn trong giới luật của bậc Thánh. Biết như vậy, cần phải hiểu rõ thế nào là chế ngự và không chế ngự.”

5.
“Và thế nào là không chế ngự?

Ở đây, khi thấy sắc bằng mắt, vị Tỳ khưu ham thích sắc đẹp và ghét bỏ sắc xấu. Vị ấy không thiết lập chánh niệm nơi thân, tâm bị giới hạn, và không hiểu rõ như thật về giải thoát tâm, giải thoát trí tuệ, nơi mà các pháp bất thiện chấm dứt hoàn toàn.

Tương tự, khi nghe âm thanh… khi nhận thức các pháp bằng tâm… vị ấy đắm chìm vào pháp khả ái và tránh né pháp không khả ái. Không có chánh niệm nơi thân, tâm bị giới hạn — đây chính là không chế ngự.”

6.
“Và thế nào là chế ngự?

Ở đây, khi thấy sắc bằng mắt, vị Tỳ khưu không đắm chìm trong sắc khả ái cũng không chán ghét sắc không khả ái. Vị ấy thiết lập chánh niệm nơi thân, tâm không giới hạn, và hiểu rõ như thật về giải thoát tâm, giải thoát trí tuệ, nơi mà các pháp bất thiện chấm dứt không sót lại.

Tương tự khi nghe âm thanh… khi nhận thức các pháp bằng tâm… vị ấy không bị kéo theo pháp khả ái cũng không phản ứng với pháp không khả ái. Vị ấy sống với chánh niệm nơi thân, tâm bao la — đó chính là sự chế ngự.”

7.
“Này chư Tỳ khưu, khi một vị Tỳ khưu sống như vậy, nếu vì sơ suất chánh niệm mà các ký ức và ý nghĩ bất thiện liên hệ đến kiết sử phát sinh, sự tỉnh thức có thể đến chậm, nhưng sau đó, vị ấy nhanh chóng xả bỏ, đoạn trừ, tiêu diệt chúng.

Ví như một vài giọt nước rơi trên miếng sắt được nung đỏ suốt ngày. Dù nước rơi chậm, nhưng lập tức bốc hơi và tan biến. Cũng vậy, các bất thiện pháp vừa sinh thì cũng nhanh chóng bị đoạn trừ khi vị Tỳ khưu sống với chánh niệm như vậy.”

8.
“Như vậy, vị Tỳ khưu đã hiểu rõ lối sống khiến các pháp bất thiện như tham lam và sân hận không thể xâm nhập.”

9.
“Nếu vị Tỳ khưu ấy sống như vậy, vua chúa, đại thần, bạn bè, thân quyến có thể mời vị ấy nhận của cải:

‘Này hiền giả, sao phải mang y vàng nặng nề, đầu cạo trọc, ôm bát đi khất thực? Hãy trở lại đời sống thế tục, hưởng thụ tài sản và làm phước thiện!’

Nhưng, chư Tỳ khưu, vị ấy sống như vậy rồi thì không thể từ bỏ phạm hạnh và quay lại đời sống thế tục.”

10–12.
“Ví như sông Hằng chảy xuôi về phía Đông. Nếu có người đến với cuốc và giỏ, nói:

‘Chúng ta sẽ khiến sông Hằng chảy về phía Tây!’

Chư Tỳ khưu nghĩ sao? Họ có làm được không?”

— “Bạch Thế Tôn, không thể. Vì dòng nước đã nghiêng về Đông, không thể dễ dàng đổi hướng.”

Cũng vậy, khi một vị Tỳ khưu sống với tâm đã nghiêng về viễn ly, thì dù có ai mời gọi quay lại đời sống thế tục, cũng không thể xảy ra. Vì tâm của vị ấy đã hướng về giải thoát từ lâu rồi.”

Chú Thích

Bộ Sớ giải chú thích từ dukkhadhamma là dukkhasambhavadhammā – “những pháp từ đó khổ phát sinh”; bởi vì khi có mặt năm uẩn, thì các loại khổ như bị chém, bị giết, bị cầm tù... đều phát sinh từ đó. Như vậy khổ được nhận thức qua cả hai phương diện hiện tượng và bản chất.

Ví dụ so sánh với hố than hồng cũng xuất hiện trong Kinh Trung Bộ (MN 12:63, tại I 99,27–100,4), tuy nhiên cách diễn đạt ở đây có phần khác biệt.

Câu… ayaṃ vuccati ariyassa vinaye kantako. Taṃ kantako’ti iti viditvā saṃvaro ca asaṃvaro ca veditabbo – “Cái này được gọi là gai nhọn trong giới luật của bậc Thánh. Biết rõ nó là gai nhọn, thì nên hiểu rõ đâu là chế ngự, đâu là không chế ngự.” (So sánh với Kinh 35:247 (IV 198,11–12), xem chú thích số 219 bên dưới.)

Ví dụ so sánh về giọt nước rơi trên sắt nóng cũng có trong Kinh Trung Bộ (MN I 453,26–29 và MN I 300,19–23).

Sớ giải chú thích: “Chỉ có sự khởi sinh của chánh niệm là chậm, nhưng ngay khi chánh niệm khởi lên, các phiền não lập tức bị trấn áp và không thể tồn tại tiếp.

Khi tham ái hay các phiền não khởi lên qua cửa mắt, thì ở tiến trình nhận thức thứ hai (javana thứ hai), hành giả đã biết rõ phiền não đang khởi lên, và đến javana thứ ba, vị ấy liền chuyển sang một tiến trình tâm chế ngự.

Điều này không có gì đáng ngạc nhiên với người hành thiền tuệ (vipassanā), bởi khi một đối tượng hấp dẫn khởi lên và tiến trình tâm ô nhiễm sắp xảy ra, hành giả có thể dừng nó lại và kích hoạt tiến trình tâm thiện thay thế.

Đây chính là lợi ích của những hành giả đã thiết lập vững chắc trong thiền quán và sự phản tỉnh hay quán tường (paṭisaṅkhā).”

Sớ Giải

 244. sattame dukkhadhammānanti dukkhasambhavadhammānaṃ. pañcasu hi khandhesu sati chedanavadhabandhanādibhedaṃ dukkhaṃ sambhavati, tasmā te dukkhasambhavadhammattā dukkhadhammāti vuccanti. tathā kho panassāti tenākārenassa. yathāssa kāme passatoti yenākārenassa kāme passantassa. yathā carantanti yenākārena cārañca vihārañca anubandhitvā carantaṃ. aṅgārakāsūpamā kāmā diṭṭhā hontīti pariyeṭṭhimūlakassa ceva paṭisandhimūlakassa ca dukkhassa vasena aṅgārakāsu viya mahāpariḷāhāti diṭṭhā honti. kāme pariyesantānañhi nāvāya mahāsamuddogāhanājapathasaṅkupathapaṭipajjanaubhatobyūḷhasaṅgāmapakkhandanādivasena pariyeṭṭhimūlakampi, kāme paribhuñjantānaṃ kāmaparibhogacetanāya catūsu apāyesu dinnapaṭisandhimūlakampi mahāpariḷāhadukkhaṃ uppajjati. evametassa duvidhassāpi dukkhassa vasena aṅgārakāsu viya mahāpariḷāhāti diṭṭhā honti.

dāyanti aṭaviṃ. puratopi kaṇṭakoti purimapasse vijjhitukāmo viya āsannaṭṭhāneyeva ṭhitakaṇṭako. pacchatotiādīsupi eseva nayo. heṭṭhā pana pādehi akkantaṭṭhānassa santike, na akkantaṭṭhāneyeva. evaṃ so kaṇṭakagabbhaṃ paviṭṭho viya bhaveyya. mā maṃ kaṇṭakoti mā maṃ kaṇṭako vijjhīti kaṇṭakavedhaṃ rakkhamāno.

 dandho, bhikkhave, satuppādoti satiyā uppādoyeva dandho, uppannamattāya pana tāya kāci kilesā niggahitāva honti, na saṇṭhātuṃ sakkonti. cakkhudvārasmiñhi rāgādīsu uppannesu dutiyajavanavārena “kilesā me uppannā”ti ñatvā tatiye javanavāre saṃvarajavanaṃyeva javati. anacchariyañcetaṃ, yaṃ vipassako tatiyajavanavāre kilese niggaṇheyya. cakkhudvāre pana iṭṭhārammaṇe āpāthagate bhavaṅgaṃ āvaṭṭetvā āvajjanādīsu uppannesu voṭṭhabbanānantaraṃ sampattakilesajavanavāraṃ nivattetvā kusalameva uppādeti. āraddhavipassakānañhi ayamānisaṃso bhāvanāpaṭisaṅkhāne patiṭṭhitabhāvassa.

abhihaṭṭhuṃ pavāreyyunti sudinnattherassa viya raṭṭhapālakulaputtassa viya ca kāyena vā satta ratanāni abhiharitvā vācāya vā “amhākaṃ dhanato yattakaṃ icchasi, tattakaṃ gaṇhā”ti vadantā pavāreyyuṃ. anudahantīti sarīre paliveṭhitattā uṇhapariḷāhaṃ janetvā anudahanti. sañjātasede vā sarīre laggantā anusentītipi attho. yañhi taṃ, bhikkhave, cittanti idaṃ yasmā citte anāvaṭṭante puggalassa āvaṭṭanaṃ nāma natthi. evarūpañhi cittaṃ anāvaṭṭanti, tasmā vuttaṃ. iti imasmiṃ sutte vipassanābalameva dīpitaṃ.

Chú giải đoạn

1. “Dukkhadhammānaṃ” nghĩa là: “những pháp có tính chất khổ”, tức là những pháp làm phát sinh khổ. Vì khi năm uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) hiện hữu, thì các loại khổ như bị cắt đứt, bị giết, bị trói buộc sẽ sinh khởi. Do đó, năm uẩn này được gọi là dukkhasambhavadhammā – các pháp có khả năng làm phát sinh khổ đau.

2. “Tathā kho panassa” nghĩa là: “Vị ấy thấy rõ chúng (các pháp) đúng như vậy.”
“Yathāssa kāme passatoti”: Nghĩa là cách mà vị ấy quán sát các dục lạc.
“Yathā carantaṃ”: Là cách mà vị ấy hành xử và an trụ theo tuệ giác.

3. “Kāmā diṭṭhā honti” – các dục lạc được thấy như một hố than hồng:
Dục lạc được quán sát với hai loại khổ:

  • Khổ do tìm cầu (pariyeṭṭhi-mūlaka-dukkha): như việc vượt biển lớn, nguy hiểm khi mưu cầu ái dục, bị cuốn vào chiến tranh, tranh chấp...
  • Khổ do thọ hưởng (paṭisandhi-mūlaka-dukkha): là quả báo của sự thọ hưởng dục, dẫn đến tái sinh trong bốn ác đạo (địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, a-tu-la).

Vì hai loại khổ lớn này, các dục lạc được ví như hố than đỏ cháy rực, rất nguy hiểm và thiêu đốt.

4. “Dāyanti aṭaviṃ” – khu rừng đầy gai góc:
Người đi trong rừng có gai phía trước, sau, bên trái, bên phải, phía trên và dưới, như đang vào bụng gai.
Người ấy đi bằng chánh niệm, từng bước đều thận trọng, vì sợ bị gai đâm.

Cũng vậy, các pháp hấp dẫn ở thế gian được gọi là “gai nhọn” trong giới luật của Bậc Thánh (ariyavinaya). Hiểu rõ như vậy thì sẽ thấy cần phải chế ngự và phòng hộ.

5. “Dandho, bhikkhave, satuppādo” – Sự khởi sinh của chánh niệm (sati) tuy chậm:
Nhưng ngay khi vừa khởi sinh, thì các phiền não cũng bị ngăn chặn ngay lập tức, không thể trụ lại.

Ví dụ: Khi cảnh phiền não khởi lên ở nhãn môn (cakkhudvāra), thì ở phân đoạn tâm xử lý (javana):

  • hành giả lập tức biết rõ : “Cảnh phiền não đã khởi.”
  • Ngay sau đó, hành giả khởi tâm chế ngự (saṃvarajavana).

Điều đó không có gì lạ đối với người đang tu tập tuệ quán (vipassanā), vì khi thấy cảnh khả ái, tâm tu tập đã thuần thục sẽ tự động chuyển dòng tâm từ bất thiện sang thiện, như ngọn nước rẽ hướng.

6. “Abhihaṭṭhuṃ pavāreyyuṃ” – Người đời đến mời cúng dường tài sản:
Giống như người ta từng dâng bảy báu cho ngài Sudinna Thera hay cư sĩ Raṭṭhapāla, những người này được người thân mời gọi trở về đời sống thế tục.

7. “Anudahanti” – các pháp dục giống như lửa nóng thiêu đốt:
Bám vào thân thể, tạo nên cảm giác nóng rát, như mồ hôi chảy ra, dính chặt vào da. Vì thế được ví như gai nhọn, như lửa.

8. “Yañhi taṃ, bhikkhave, cittaṃ” – bởi vì khi tâm không bị lôi cuốn:
Nếu tâm không nghiêng về đối tượng, thì người ấy không bị xoay chuyển theo các pháp ấy. Đây là cách Đức Phật xác định: trọng tâm của kinh này là sức mạnh của tuệ quán (vipassanābala).

 Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

 Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

203. VII. Khổ Pháp (S,iv,188)

1-2) ...

3) -- Này các Tỷ-kheo, khi nào một Tỷ-kheo như thật rõ biết sự tập khởi, sự chấm dứt của tất cả khổ pháp, khi ấy, các dục được thấy. Khi vị ấy thấy dục (kàmà), thời dục (kàmachanda), dục ái, dục mê, dục nhiệt não đối với các dục không có tùy miên nơi vị ấy. Như vậy, sở hành và sở trú của vị ấy được giác tri. Vì rằng, do sở hành như vậy, các tham ái, ưu, bi, các ác bất thiện pháp không có tồn chỉ.

4) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo như thật rõ biết sự tập khởi, và sự chấm dứt tất cả khổ pháp? Ðây là sắc, đây là sắc tập khởi, đây là sắc đoạn diệt. Ðây là thọ, đây là thọ tập khởi, đây là thọ đoạn diệt. Ðây là tưởng... Ðây là các hành... Ðây là thức, đây là thức tập khởi, đây là thức đoạn diệt. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như thật rõ biết sự tập khởi và sự đoạn diệt của tất cả khổ pháp.

5) Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là Tỷ-kheo thấy được các dục? Khi các dục được thấy, thời dục, dục ái, dục mê, dục nhiệt não đối với các dục không có tùy miên. Ví như, này các Tỷ-kheo, có một hố than sâu hơn thân người, đầy vun than hừng, không có ngọn, không có khói. Rồi có người đi đến, muốn sống, không muốn chết, muốn lạc, ghét bỏ khổ. Rồi hai người lực sĩ đến, kẹp người ấy vào trong các cánh tay, và kéo người ấy đến hố than hừng. Người ấy vật vã thân bên này, bên kia. Vì sao? Này các Tỷ-kheo, người ấy được biết rằng: "Ta sẽ rơi vào trong hố than hừng này. Do nhân này, ta sẽ đi đến chết hay đau khổ gần như chết". Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thấy các dục như hố than hừng và ai thấy được các dục, thời dục, dục ái, dục mê, dục nhiệt não đối với các dục không có tùy miên.

6) Thế nào, này các Tỷ-kheo, là sở hành và sở trú của Tỷ-kheo được giác tri? Vì rằng, do sở hành như vậy, các tham ái, ưu bi, các ác bất thiện pháp không có tồn chỉ. Ví như, này các Tỷ-kheo, một người đi vào một khu rừng đầy những gai góc, trước mặt người ấy là gai, phía Tây... phía Bắc... phía Nam... người ấy là gai, phía dưới người ấy là gai, phía trên người ấy là gai. Chỗ nào người ấy đi tới hay chỗ nào người ấy đi lui, người ấy nghĩ: "Mong sao tôi chớ có bị vướng gai". Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, đối với sự vật gì khả ái, khả lạc, sự vật ấy được gọi là gai trong giới luật của bậc Thánh.

7) Sau khi biết vậy, này các Tỷ-kheo, hộ trì và không hộ trì cần phải được hiểu.

8) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là không hộ trì? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi mắt thấy sắc, thiên chấp các sắc khả ái, ghét bỏ các sắc không khả ái, sống với thân niệm không an trú, với tâm nhỏ hẹp. Vị ấy không như thật rõ biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Chính ở nơi đây, các ác bất thiện pháp ấy khởi lên không được đoạn diệt không có dư tàn. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là không hộ trì.

9) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là được hộ trì? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi mắt thấy sắc, không thiên chấp các sắc khả ái, không ghét bỏ các sắc không khả ái, sống với thân niệm an trú, với tâm vô lượng. Vị ấy như thật rõ biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Chính ở nơi đây, các ác bất thiện pháp ấy khởi lên được đoạn diệt không có dư tàn... khi lưỡi nếm vị... khi ý biết pháp, không thiên chấp các pháp khả ái, không ghét bỏ các pháp không khả ái, sống với thân niệm an trú, với tâm vô lượng. Vị ấy như thật rõ biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Chính ở đây, các ác bất thiện pháp ấy khởi lên được đoạn diệt không có dư tàn. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là có hộ trì.

10) Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sở hành như vậy, sở trú như vậy, đôi lúc và đôi khi niệm bị thất thoát, khởi lên các ác bất thiện pháp, các ức niệm, ước vọng liên hệ đến kiết sử. Chậm chạp, này các Tỷ-kheo, là niệm được khởi lên. Mau lẹ, vị ấy từ bỏ (trạng thái ấy), gột sạch, chấm dứt, không cho hiện hữu. Ví như, này các Tỷ-kheo, một người làm rơi hai hay ba giọt nước trên một nồi sắt được hơ nóng cả ngày. Chậm chạp, này các Tỷ-kheo, là sự rơi xuống của các giọt nước. Mau chóng, chúng đi đến đoạn diệt, hoại diệt. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ấy sở hành như vậy, sở trú như vậy, đôi lúc và đôi khi niệm bị thất thoát, khởi lên các ác bất thiện pháp, các ức niệm, ước vọng liên hệ đến kiết sử. Chậm chạp, này các Tỷ-kheo, là niệm được khởi lên. Mau lẹ, vị ấy từ bỏ (trạng thái ấy), gột sạch, chấm dứt, không cho hiện hữu.

11) Như vậy, này các Tỷ-kheo, sở hành như vậy, sở trú như vậy của Tỷ-kheo được giác tri. Do sở hành, sở trú như vậy, các tham ái, ưu, bi, các ác bất thiện pháp không có tồn chỉ. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy với sở hành như vậy, sở trú như vậy, nếu có quốc vương hay đại thần của vua, bạn bè, thân hữu hay bà con huyết thống đến dâng cúng tài sản và nói: "Hãy đến đây, này Bạn! Sao lại để những y vàng ấy hành hạ Bạn? Sao lại sống với đầu trọc và bình bát? Hãy hoàn tục, thọ hưởng tài sản và làm các công đức". Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy có sở hành như vậy, có sở trú như vậy, sẽ từ bỏ học pháp và hoàn tục; sự việc như vậy không xảy ra.

12) Ví như, này các Tỷ-kheo, sông Hằng hướng về phía Ðông, xuôi về phía Ðông, nghiêng nhập vào phía Ðông. Rồi một đám dân chúng đông người đến với xuổng, cuốc, giỏ và nói: "Chúng ta hãy làm cho sông Hằng này hướng về phía Tây, xuôi về phía Tây, nghiêng nhập vào phía Tây". Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, đám dân chúng đông người ấy có thể làm cho sông Hằng hướng về phía Tây, xuôi về phía Tây và nghiêng nhập vào phía Tây không?

-- Thưa không, bạch Thế Tôn.

-- Vì sao?

-- Vì sông Hằng này, bạch Thế Tôn, hướng về phía Ðông, xuôi về phía Ðông, nghiêng nhập vào phía Ðông; không có dễ gì làm cho hướng về phía Tây, xuôi về phía Tây, nghiêng nhập vào phía Tây được. Chỉ có đám dân chúng đông người ấy chuốc lấy mệt mỏi và thất vọng thôi.

13) -- Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy với sở hành như vậy, sở trú như vậy, nếu có quốc vương hay đại thần của vua, bạn bè, thân hữu, hay bà con huyết thống đến dâng cúng tài sản và nói: "Hãy đến đây, này Bạn. Sao lại để những y vàng ấy hành hạ Bạn? Sao lại sống với đầu trọc và bình bát? Hãy hoàn tục, thọ hưởng tài sản và làm các công đức". Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy có sở hành như vậy, có sở trú như vậy, sẽ từ bỏ học pháp và hoàn tục; sự việc như vậy không xảy ra. Vì sao? Này các Tỷ-kheo, vì tâm của vị ấy đã lâu ngày hướng về viễn ly, xuôi về viễn ly, nghiêng nhập vào viễn ly; do vậy sự hoàn tục không xảy ra.

-ooOoo-