|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Hai, ngày 30 tháng 06, 2025
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
... ******
Với
hành giả tu tập thiền quán,
khổ đau vốn bắt nguồn từ
phiền não. Phiền não sanh
khởi và tồn tại do thiếu
chánh niệm và thiếu nhận
thức về bản chất hệ luỵ. Một
khi đã ý thức rõ về khổ và
những gì mang lại khổ đau
thì tâm tư của hành giả chỉ
hướng cầu mục đích duy nhất
là giác ngộ giải thoát. Như
một giòng sông bắt nguồn từ
non cao chảy xuôi ra biển
chỉ có một hướng không khác.
KINH
VĂN
244. yato kho, bhikkhave,
bhikkhu sabbesaṃyeva
dukkhadhammānaṃ samudayañca
atthaṅgamañca yathābhūtaṃ
pajānāti. tathā kho panassa
kāmā diṭṭhā honti, yathāssa
kāme passato, yo kāmesu
kāmacchando kāmasneho
kāmamucchā kāmapariḷāho, so
nānuseti. tathā kho panassa
cāro ca vihāro ca anubuddho
hoti, yathā carantaṃ
viharantaṃ abhijjhādomanassā
pāpakā akusalā dhammā
nānusenti.
“kathañca, bhikkhave,
bhikkhu sabbesaṃyeva
dukkhadhammānaṃ samudayañca
atthaṅgamañca yathābhūtaṃ
pajānāti? ‘iti rūpaṃ, iti
rūpassa samudayo, iti
rūpassa atthaṅgamo; iti
vedanā... iti saññā... iti
saṅkhārā... iti viññāṇaṃ,
iti viññāṇassa samudayo, iti
viññāṇassa atthaṅgamo’ti —
evaṃ kho, bhikkhave, bhikkhu
sabbesaṃyeva dukkhadhammānaṃ
samudayañca atthaṅgamañca
yathābhūtaṃ pajānāti.
“kathañca, bhikkhave,
bhikkhuno kāmā diṭṭhā honti?
yathāssa kāme passato, yo
kāmesu kāmacchando kāmasneho
kāmamucchā kāmapariḷāho, so
nānuseti. seyyathāpi,
bhikkhave, aṅgārakāsu
sādhikaporisā puṇṇā
aṅgārānaṃ vītaccikānaṃ
vītadhūmānaṃ. atha puriso
āgaccheyya jīvitukāmo
amaritukāmo sukhakāmo
dukkhapaṭikūlo. tamenaṃ dve
balavanto purisā nānābāhāsu
gahetvā, taṃ aṅgārakāsuṃ
upakaḍḍheyyuṃ. so
iticīticeva kāyaṃ
sannāmeyya. taṃ kissa hetu?
ñāta {ñāṇaṃ (ka.)} ñhi,
bhikkhave, tassa purisassa
{purisassa hoti (sī. syā.
kaṃ. pī.), purisassa hetu
hoti (ka.) ma. ni. 2.45}
imaṃ cāhaṃ aṅgārakāsuṃ
papatissāmi, tatonidānaṃ
maraṇaṃ vā nigacchissāmi
maraṇamattaṃ vā dukkhanti.
evameva kho, bhikkhave,
bhikkhuno aṅgārakāsūpamā
kāmā diṭṭhā honti, yathāssa
kāme passato, yo kāmesu
kāmacchando kāmasneho
kāmamucchā kāmapariḷāho, so
nānuseti.
“kathañca, bhikkhave,
bhikkhuno cāro ca vihāro ca
anubuddho hoti, yathā
carantaṃ viharantaṃ
abhijjhādomanassā pāpakā
akusalā dhammā nānussavanti
{nānusenti (ka.)} ?
seyyathāpi, bhikkhave,
puriso bahukaṇṭakaṃ dāyaṃ
paviseyya. tassa puratopi
kaṇṭako, pacchatopi kaṇṭako,
uttaratopi kaṇṭako,
dakkhiṇatopi kaṇṭako,
heṭṭhatopi kaṇṭako,
uparitopi kaṇṭako. so satova
abhikkameyya, satova
paṭikkameyya — ‘mā maṃ
kaṇṭako’ti. evameva kho,
bhikkhave, yaṃ loke
piyarūpaṃ sātarūpaṃ, ayaṃ
vuccati ariyassa vinaye
kaṇṭako”ti. iti viditvā
{kaṇḍako. taṃ kaṇḍakoti iti
viditvā (sī.)} saṃvaro ca
asaṃvaro ca veditabbo.
“kathañca, bhikkhave,
asaṃvaro hoti? idha,
bhikkhave, bhikkhu cakkhunā
rūpaṃ disvā piyarūpe rūpe
adhimuccati, appiyarūpe rūpe
byāpajjati,
anupaṭṭhitakāyassati ca
viharati parittacetaso,
tañca cetovimuttiṃ
paññāvimuttiṃ yathābhūtaṃ
nappajānāti, yatthassa te
uppannā pāpakā akusalā
dhammā aparisesā nirujjhanti
... pe ... jivhāya rasaṃ
sāyitvā ... pe ... manasā
dhammaṃ viññāya piyarūpe
dhamme adhimuccati,
appiyarūpe dhamme
byāpajjati,
anupaṭṭhitakāyassati ca
viharati parittacetaso,
tañca cetovimuttiṃ
paññāvimuttiṃ yathābhūtaṃ
nappajānāti yatthassa te
uppannā pāpakā akusalā
dhammā aparisesā
nirujjhanti. evaṃ kho,
bhikkhave, asaṃvaro hoti.
“kathañca, bhikkhave,
saṃvaro hoti? idha,
bhikkhave, bhikkhu cakkhunā
rūpaṃ disvā piyarūpe rūpe
nādhimuccati, appiyarūpe
rūpe na byāpajjati,
upaṭṭhitakāyassati ca
viharati appamāṇacetaso,
tañca cetovimuttiṃ
paññāvimuttiṃ yathābhūtaṃ
pajānāti, yatthassa te
uppannā pāpakā akusalā
dhammā aparisesā nirujjhanti
... pe ... jivhā rasaṃ
sāyitvā ... pe ... manasā
dhammaṃ viññāya piyarūpe
dhamme nādhimuccati,
appiyarūpe dhamme na
byāpajjati,
upaṭṭhitakāyassati ca
viharati appamāṇacetaso,
tañca cetovimuttiṃ
paññāvimuttiṃ yathābhūtaṃ
pajānāti, yatthassa te
uppannā pāpakā akusalā
dhammā aparisesā
nirujjhanti. evaṃ kho,
bhikkhave, saṃvaro hoti.
“tassa ce, bhikkhave,
bhikkhuno evaṃ carato evaṃ
viharato kadāci karahaci
satisammosā uppajjanti,
pāpakā akusalā sarasaṅkappā
saṃyojaniyā, dandho,
bhikkhave, satuppādo. atha
kho naṃ khippameva pajahati
vinodeti byantīkaroti
anabhāvaṃ gameti.
“seyyathāpi, bhikkhave,
puriso divasaṃsantatte
{divasasantatte (sī.)}
ayokaṭāhe dve vā tīṇi vā
udakaphusitāni nipāteyya.
dandho, bhikkhave,
udakaphusitānaṃ nipāto, atha
kho naṃ khippameva
parikkhayaṃ pariyādānaṃ
gaccheyya. evameva kho,
bhikkhave, tassa ce
bhikkhuno evaṃ carato, evaṃ
viharato kadāci karahaci
satisammosā uppajjanti
pāpakā akusalā sarasaṅkappā
saṃyojaniyā, dandho,
bhikkhave, satuppādo. atha
kho naṃ khippameva pajahati
vinodeti byantīkaroti
anabhāvaṃ gameti. evaṃ kho,
bhikkhave, bhikkhuno cāro ca
vihāro ca anubuddho hoti;
yathā carantaṃ viharantaṃ
abhijjhādomanassā pāpakā
akusalā dhammā nānussavanti.
tañce, bhikkhave, bhikkhuṃ
evaṃ carantaṃ evaṃ
viharantaṃ rājāno vā
rājamahāmattā vā mittā vā
amaccā vā ñātī vā sālohitā
vā, bhogehi abhihaṭṭhuṃ
pavāreyyuṃ — ‘ehi {evaṃ
(sī.)}, bho purisa, kiṃ te
ime kāsāvā anudahanti, kiṃ
muṇḍo kapālamanucarasi, ehi
hīnāyāvattitvā bhoge ca
bhuñjassu, puññāni ca
karohī’ti. so vata,
bhikkhave, bhikkhu evaṃ
caranto evaṃ viharanto
sikkhaṃ paccakkhāya
hīnāyāvattissatīti netaṃ
ṭhānaṃ vijjati.
“seyyathāpi, bhikkhave,
gaṅgā nadī pācīnaninnā
pācīnapoṇā pācīnapabbhārā.
atha mahājanakāyo āgaccheyya
kuddāla-piṭakaṃ ādāya —
‘mayaṃ imaṃ gaṅgaṃ nadiṃ
pacchāninnaṃ karissāma
pacchāpoṇaṃ
pacchāpabbhāran’ti. taṃ kiṃ
maññatha, bhikkhave, api nu
kho so mahājanakāyo gaṅgaṃ
nadiṃ pacchāninnaṃ kareyya
pacchāpoṇaṃ
pacchāpabbhāran”ti? “no
hetaṃ, bhante”. “taṃ kissa
hetu”? “gaṅgā, bhante, nadī
pācīnaninnā pācīnapoṇā
pācīnapabbhārā; sā na sukarā
pacchāninnā kātuṃ pacchāpoṇā
pacchāpabbhārā. yāvadeva ca
pana so mahājanakāyo
kilamathassa vighātassa
bhāgī assā”ti. “evameva kho,
bhikkhave, tañce bhikkhuṃ
evaṃ carantaṃ evaṃ
viharantaṃ rājāno vā
rājamahāmattā vā mittā vā
amaccā vā ñātī vā sālohitā
vā bhogehi abhihaṭṭhuṃ
pavāreyyuṃ — ‘ehi, bho
purisa, kiṃ te ime kāsāvā
anudahanti, kiṃ muṇḍo
kapālamanucarasi, ehi
hīnāyāvattitvā bhoge ca
bhuñjassu, puññāni ca
karohī’ti. so vata,
bhikkhave, bhikkhu evaṃ
caranto evaṃ viharanto
sikkhaṃ paccakkhāya
hīnāyāvattissatīti netaṃ
ṭhānaṃ vijjati. taṃ kissa
hetu? yañhi taṃ, bhikkhave,
cittaṃ dīgharattaṃ
vivekaninnaṃ vivekapoṇaṃ
vivekapabbhāraṃ, tathā
{kañca (syā. kaṃ. ka.)}
hīnāyāvattissatīti netaṃ
ṭhānaṃ vijjatī”ti. sattamaṃ.
1.
2.
‘Sắc là như vậy, sự sinh của
sắc là như vậy, sự diệt của
sắc là như vậy;
3.
Ví như có một hố than hồng
sâu hơn chiều cao của người,
đầy than nóng đỏ nhưng không
khói không lửa. Một người đi
đến, khát sống, sợ chết, ham
vui và tránh khổ. Lúc ấy, có
hai người lực lưỡng nắm lấy
hai tay kéo người ấy về phía
hố than. Người ấy sẽ vùng
vẫy, giãy giụa. Vì sao? Vì
người ấy biết rằng: ‘Ta sẽ
rơi vào hố than này và sẽ
gặp cái chết hay đau đớn
khủng khiếp.’
Cũng vậy, khi một vị Tỳ khưu
thấy dục lạc như hố than đỏ
rực ham muốn, tham luyến,
khao khát, mê đắm và vọng
tưởng không còn tiềm ẩn
trong tâm vị ấy.”
4.
Ví như có người đi vào một
khu rừng đầy gai — trước mặt
có gai, sau lưng có gai, bên
trái, bên phải, trên đầu và
dưới chân đều có gai. Người
ấy đi tới một cách chánh
niệm, lùi lại cũng chánh
niệm, nghĩ rằng: ‘Cầu mong
không bị gai đâm!’
Cũng vậy, bất kỳ pháp nào
trên thế gian có vẻ đẹp và
hấp dẫn đều được gọi là gai
nhọn trong giới luật của bậc
Thánh. Biết như vậy, cần
phải hiểu rõ thế nào là chế
ngự và không chế ngự.”
5.
Ở đây, khi thấy sắc bằng
mắt, vị Tỳ khưu ham thích
sắc đẹp và ghét bỏ sắc xấu.
Vị ấy không thiết lập chánh
niệm nơi thân, tâm bị giới
hạn, và không hiểu rõ như
thật về giải thoát tâm, giải
thoát trí tuệ, nơi mà các
pháp bất thiện chấm dứt hoàn
toàn.
Tương tự, khi nghe âm thanh…
khi nhận thức các pháp bằng
tâm… vị ấy đắm chìm vào pháp
khả ái và tránh né pháp
không khả ái. Không có chánh
niệm nơi thân, tâm bị giới
hạn — đây chính là không chế
ngự.”
6.
Ở đây, khi thấy sắc bằng
mắt, vị Tỳ khưu không đắm
chìm trong sắc khả ái cũng
không chán ghét sắc không
khả ái. Vị ấy thiết lập
chánh niệm nơi thân, tâm
không giới hạn, và hiểu rõ
như thật về giải thoát tâm,
giải thoát trí tuệ, nơi mà
các pháp bất thiện chấm dứt
không sót lại.
Tương tự khi nghe âm thanh…
khi nhận thức các pháp bằng
tâm… vị ấy không bị kéo theo
pháp khả ái cũng không phản
ứng với pháp không khả ái.
Vị ấy sống với chánh niệm
nơi thân, tâm bao la — đó
chính là sự chế ngự.”
7.
Ví như một vài giọt nước rơi
trên miếng sắt được nung đỏ
suốt ngày. Dù nước rơi chậm,
nhưng lập tức bốc hơi và tan
biến. Cũng vậy, các bất
thiện pháp vừa sinh thì cũng
nhanh chóng bị đoạn trừ khi
vị Tỳ khưu sống với chánh
niệm như vậy.”
8.
9.
‘Này hiền giả, sao phải mang
y vàng nặng nề, đầu cạo
trọc, ôm bát đi khất thực?
Hãy trở lại đời sống thế
tục, hưởng thụ tài sản và
làm phước thiện!’
Nhưng, chư Tỳ khưu, vị ấy
sống như vậy rồi thì không
thể từ bỏ phạm hạnh và quay
lại đời sống thế tục.”
10–12.
‘Chúng ta sẽ khiến sông Hằng
chảy về phía Tây!’
Chư Tỳ khưu nghĩ sao? Họ có
làm được không?”
— “Bạch Thế Tôn, không thể.
Vì dòng nước đã nghiêng về
Đông, không thể dễ dàng đổi
hướng.”
Cũng vậy, khi một vị Tỳ khưu
sống với tâm đã nghiêng về
viễn ly, thì dù có ai mời
gọi quay lại đời sống thế
tục, cũng không thể xảy ra.
Vì tâm của vị ấy đã hướng về
giải thoát từ lâu rồi.”
Chú Thích
Bộ Sớ giải chú thích từ
dukkhadhamma là
dukkhasambhavadhammā –
“những pháp từ đó khổ phát
sinh”; bởi vì khi có mặt năm
uẩn, thì các loại khổ như bị
chém, bị giết, bị cầm tù...
đều phát sinh từ đó. Như vậy
khổ được nhận thức qua cả
hai phương diện hiện tượng
và bản chất.
Ví dụ so sánh với hố than
hồng cũng xuất hiện trong
Kinh Trung Bộ (MN 12:63, tại
I 99,27–100,4), tuy nhiên
cách diễn đạt ở đây có phần
khác biệt.
Câu… ayaṃ vuccati ariyassa
vinaye kantako. Taṃ
kantako’ti iti viditvā
saṃvaro ca asaṃvaro ca
veditabbo – “Cái này được
gọi là gai nhọn trong giới
luật của bậc Thánh. Biết rõ
nó là gai nhọn, thì nên hiểu
rõ đâu là chế ngự, đâu là
không chế ngự.” (So sánh với
Kinh 35:247 (IV 198,11–12),
xem chú thích số 219 bên
dưới.)
Ví dụ so sánh về giọt nước
rơi trên sắt nóng cũng có
trong Kinh Trung Bộ (MN I
453,26–29 và MN I
300,19–23).
Sớ giải chú thích: “Chỉ có
sự khởi sinh của chánh niệm
là chậm, nhưng ngay khi
chánh niệm khởi lên, các
phiền não lập tức bị trấn áp
và không thể tồn tại tiếp.
Khi tham ái hay các phiền
não khởi lên qua cửa mắt,
thì ở tiến trình nhận thức
thứ hai (javana thứ hai),
hành giả đã biết rõ phiền
não đang khởi lên, và đến
javana thứ ba, vị ấy liền
chuyển sang một tiến trình
tâm chế ngự.
Điều này không có gì đáng
ngạc nhiên với người hành
thiền tuệ (vipassanā), bởi
khi một đối tượng hấp dẫn
khởi lên và tiến trình tâm ô
nhiễm sắp xảy ra, hành giả
có thể dừng nó lại và kích
hoạt tiến trình tâm thiện
thay thế.
Đây chính là lợi ích của
những hành giả đã thiết lập
vững chắc trong thiền quán
và sự phản tỉnh hay quán
tường (paṭisaṅkhā).”
Sớ Giải
244. sattame
dukkhadhammānanti
dukkhasambhavadhammānaṃ.
pañcasu hi khandhesu sati
chedanavadhabandhanādibhedaṃ
dukkhaṃ sambhavati, tasmā te
dukkhasambhavadhammattā
dukkhadhammāti vuccanti.
tathā kho panassāti
tenākārenassa. yathāssa kāme
passatoti yenākārenassa kāme
passantassa. yathā
carantanti yenākārena
cārañca vihārañca
anubandhitvā carantaṃ.
aṅgārakāsūpamā kāmā diṭṭhā
hontīti pariyeṭṭhimūlakassa
ceva paṭisandhimūlakassa ca
dukkhassa vasena aṅgārakāsu
viya mahāpariḷāhāti diṭṭhā
honti. kāme pariyesantānañhi
nāvāya
mahāsamuddogāhanājapathasaṅkupathapaṭipajjanaubhatobyūḷhasaṅgāmapakkhandanādivasena
pariyeṭṭhimūlakampi, kāme
paribhuñjantānaṃ
kāmaparibhogacetanāya catūsu
apāyesu
dinnapaṭisandhimūlakampi
mahāpariḷāhadukkhaṃ
uppajjati. evametassa
duvidhassāpi dukkhassa
vasena aṅgārakāsu viya
mahāpariḷāhāti diṭṭhā honti.
dāyanti aṭaviṃ. puratopi
kaṇṭakoti purimapasse
vijjhitukāmo viya
āsannaṭṭhāneyeva
ṭhitakaṇṭako.
pacchatotiādīsupi eseva
nayo. heṭṭhā pana pādehi
akkantaṭṭhānassa santike, na
akkantaṭṭhāneyeva. evaṃ so
kaṇṭakagabbhaṃ paviṭṭho viya
bhaveyya. mā maṃ kaṇṭakoti
mā maṃ kaṇṭako vijjhīti
kaṇṭakavedhaṃ rakkhamāno.
dandho, bhikkhave,
satuppādoti satiyā
uppādoyeva dandho,
uppannamattāya pana tāya
kāci kilesā niggahitāva
honti, na saṇṭhātuṃ
sakkonti. cakkhudvārasmiñhi
rāgādīsu uppannesu
dutiyajavanavārena “kilesā
me uppannā”ti ñatvā tatiye
javanavāre
saṃvarajavanaṃyeva javati.
anacchariyañcetaṃ, yaṃ
vipassako tatiyajavanavāre
kilese niggaṇheyya.
cakkhudvāre pana
iṭṭhārammaṇe āpāthagate
bhavaṅgaṃ āvaṭṭetvā
āvajjanādīsu uppannesu
voṭṭhabbanānantaraṃ
sampattakilesajavanavāraṃ
nivattetvā kusalameva
uppādeti.
āraddhavipassakānañhi
ayamānisaṃso
bhāvanāpaṭisaṅkhāne
patiṭṭhitabhāvassa.
abhihaṭṭhuṃ pavāreyyunti
sudinnattherassa viya
raṭṭhapālakulaputtassa viya
ca kāyena vā satta ratanāni
abhiharitvā vācāya vā
“amhākaṃ dhanato yattakaṃ
icchasi, tattakaṃ gaṇhā”ti
vadantā pavāreyyuṃ.
anudahantīti sarīre
paliveṭhitattā uṇhapariḷāhaṃ
janetvā anudahanti.
sañjātasede vā sarīre
laggantā anusentītipi attho.
yañhi taṃ, bhikkhave,
cittanti idaṃ yasmā citte
anāvaṭṭante puggalassa
āvaṭṭanaṃ nāma natthi.
evarūpañhi cittaṃ
anāvaṭṭanti, tasmā vuttaṃ.
iti imasmiṃ sutte
vipassanābalameva dīpitaṃ.
Chú giải đoạn
1. “Dukkhadhammānaṃ”
nghĩa là: “những pháp có
tính chất khổ”, tức là những
pháp làm phát sinh khổ. Vì
khi năm uẩn (sắc, thọ,
tưởng, hành, thức) hiện hữu,
thì các loại khổ như bị cắt
đứt, bị giết, bị trói buộc
sẽ sinh khởi. Do đó, năm uẩn
này được gọi là
dukkhasambhavadhammā – các
pháp có khả năng làm phát
sinh khổ đau.
2.
“Tathā kho panassa”
nghĩa là: “Vị ấy thấy rõ
chúng (các pháp) đúng như
vậy.”
3.
“Kāmā diṭṭhā honti” –
các dục lạc được thấy như
một hố than hồng:
Vì hai loại khổ lớn này, các
dục lạc được ví như hố than
đỏ cháy rực, rất nguy hiểm
và thiêu đốt.
4. “Dāyanti aṭaviṃ”
– khu rừng đầy gai góc:
Cũng vậy, các pháp hấp dẫn ở
thế gian được gọi là “gai
nhọn” trong giới luật của
Bậc Thánh (ariyavinaya).
Hiểu rõ như vậy thì sẽ thấy
cần phải chế ngự và phòng
hộ.
5. “Dandho, bhikkhave,
satuppādo”
– Sự khởi sinh của chánh
niệm (sati) tuy chậm:
Ví dụ: Khi cảnh phiền não
khởi lên ở nhãn môn
(cakkhudvāra), thì ở phân
đoạn tâm xử lý (javana):
Điều đó không có gì lạ đối
với người đang tu tập tuệ
quán (vipassanā), vì khi
thấy cảnh khả ái, tâm tu tập
đã thuần thục sẽ tự động
chuyển dòng tâm từ bất thiện
sang thiện, như ngọn nước rẽ
hướng.
6. “Abhihaṭṭhuṃ pavāreyyuṃ”
– Người đời đến mời cúng
dường tài sản:
7. “Anudahanti”
– các pháp dục giống như lửa
nóng thiêu đốt:
8. “Yañhi taṃ, bhikkhave,
cittaṃ”
– bởi vì khi tâm không bị
lôi cuốn:
Bản
dịch của Hoà thượng Thích
Minh Châu
203. VII. Khổ Pháp (S,iv,188)
1-2) ...
3) -- Này các Tỷ-kheo, khi
nào một Tỷ-kheo như thật rõ
biết sự tập khởi, sự chấm
dứt của tất cả khổ pháp, khi
ấy, các dục được thấy. Khi
vị ấy thấy dục (kàmà), thời
dục (kàmachanda), dục ái,
dục mê, dục nhiệt não đối
với các dục không có tùy
miên nơi vị ấy. Như vậy, sở
hành và sở trú của vị ấy
được giác tri. Vì rằng, do
sở hành như vậy, các tham
ái, ưu, bi, các ác bất thiện
pháp không có tồn chỉ.
4) Và này các Tỷ-kheo, thế
nào là Tỷ-kheo như thật rõ
biết sự tập khởi, và sự chấm
dứt tất cả khổ pháp? Ðây là
sắc, đây là sắc tập khởi,
đây là sắc đoạn diệt. Ðây là
thọ, đây là thọ tập khởi,
đây là thọ đoạn diệt. Ðây là
tưởng... Ðây là các hành...
Ðây là thức, đây là thức tập
khởi, đây là thức đoạn diệt.
Như vậy, này các Tỷ-kheo,
Tỷ-kheo như thật rõ biết sự
tập khởi và sự đoạn diệt của
tất cả khổ pháp.
5) Và này các Tỷ-kheo, như
thế nào là Tỷ-kheo thấy được
các dục? Khi các dục được
thấy, thời dục, dục ái, dục
mê, dục nhiệt não đối với
các dục không có tùy miên.
Ví như, này các Tỷ-kheo, có
một hố than sâu hơn thân
người, đầy vun than hừng,
không có ngọn, không có
khói. Rồi có người đi đến,
muốn sống, không muốn chết,
muốn lạc, ghét bỏ khổ. Rồi
hai người lực sĩ đến, kẹp
người ấy vào trong các cánh
tay, và kéo người ấy đến hố
than hừng. Người ấy vật vã
thân bên này, bên kia. Vì
sao? Này các Tỷ-kheo, người
ấy được biết rằng: "Ta sẽ
rơi vào trong hố than hừng
này. Do nhân này, ta sẽ đi
đến chết hay đau khổ gần như
chết". Cũng vậy, này các
Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thấy các
dục như hố than hừng và ai
thấy được các dục, thời dục,
dục ái, dục mê, dục nhiệt
não đối với các dục không có
tùy miên.
6) Thế nào, này các Tỷ-kheo,
là sở hành và sở trú của
Tỷ-kheo được giác tri? Vì
rằng, do sở hành như vậy,
các tham ái, ưu bi, các ác
bất thiện pháp không có tồn
chỉ. Ví như, này các
Tỷ-kheo, một người đi vào
một khu rừng đầy những gai
góc, trước mặt người ấy là
gai, phía Tây... phía Bắc...
phía Nam... người ấy là gai,
phía dưới người ấy là gai,
phía trên người ấy là gai.
Chỗ nào người ấy đi tới hay
chỗ nào người ấy đi lui,
người ấy nghĩ: "Mong sao tôi
chớ có bị vướng gai". Cũng
vậy, này các Tỷ-kheo, đối
với sự vật gì khả ái, khả
lạc, sự vật ấy được gọi là
gai trong giới luật của bậc
Thánh.
7) Sau khi biết vậy, này các
Tỷ-kheo, hộ trì và không hộ
trì cần phải được hiểu.
8) Và này các Tỷ-kheo, thế
nào là không hộ trì? Ở đây,
này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi
mắt thấy sắc, thiên chấp các
sắc khả ái, ghét bỏ các sắc
không khả ái, sống với thân
niệm không an trú, với tâm
nhỏ hẹp. Vị ấy không như
thật rõ biết tâm giải thoát,
tuệ giải thoát. Chính ở nơi
đây, các ác bất thiện pháp
ấy khởi lên không được đoạn
diệt không có dư tàn. Như
vậy, này các Tỷ-kheo, là
không hộ trì.
9) Và này các Tỷ-kheo, thế
nào là được hộ trì? Ở đây,
này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi
mắt thấy sắc, không thiên
chấp các sắc khả ái, không
ghét bỏ các sắc không khả
ái, sống với thân niệm an
trú, với tâm vô lượng. Vị ấy
như thật rõ biết tâm giải
thoát, tuệ giải thoát. Chính
ở nơi đây, các ác bất thiện
pháp ấy khởi lên được đoạn
diệt không có dư tàn... khi
lưỡi nếm vị... khi ý biết
pháp, không thiên chấp các
pháp khả ái, không ghét bỏ
các pháp không khả ái, sống
với thân niệm an trú, với
tâm vô lượng. Vị ấy như thật
rõ biết tâm giải thoát, tuệ
giải thoát. Chính ở đây, các
ác bất thiện pháp ấy khởi
lên được đoạn diệt không có
dư tàn. Như vậy, này các
Tỷ-kheo, là có hộ trì.
10) Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
sở hành như vậy, sở trú như
vậy, đôi lúc và đôi khi niệm
bị thất thoát, khởi lên các
ác bất thiện pháp, các ức
niệm, ước vọng liên hệ đến
kiết sử. Chậm chạp, này các
Tỷ-kheo, là niệm được khởi
lên. Mau lẹ, vị ấy từ bỏ
(trạng thái ấy), gột sạch,
chấm dứt, không cho hiện
hữu. Ví như, này các
Tỷ-kheo, một người làm rơi
hai hay ba giọt nước trên
một nồi sắt được hơ nóng cả
ngày. Chậm chạp, này các
Tỷ-kheo, là sự rơi xuống của
các giọt nước. Mau chóng,
chúng đi đến đoạn diệt, hoại
diệt. Cũng vậy, này các
Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ấy sở
hành như vậy, sở trú như
vậy, đôi lúc và đôi khi niệm
bị thất thoát, khởi lên các
ác bất thiện pháp, các ức
niệm, ước vọng liên hệ đến
kiết sử. Chậm chạp, này các
Tỷ-kheo, là niệm được khởi
lên. Mau lẹ, vị ấy từ bỏ
(trạng thái ấy), gột sạch,
chấm dứt, không cho hiện
hữu.
11) Như vậy, này các
Tỷ-kheo, sở hành như vậy, sở
trú như vậy của Tỷ-kheo được
giác tri. Do sở hành, sở trú
như vậy, các tham ái, ưu,
bi, các ác bất thiện pháp
không có tồn chỉ. Này các
Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy với sở
hành như vậy, sở trú như
vậy, nếu có quốc vương hay
đại thần của vua, bạn bè,
thân hữu hay bà con huyết
thống đến dâng cúng tài sản
và nói: "Hãy đến đây, này
Bạn! Sao lại để những y vàng
ấy hành hạ Bạn? Sao lại sống
với đầu trọc và bình bát?
Hãy hoàn tục, thọ hưởng tài
sản và làm các công đức".
Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy
có sở hành như vậy, có sở
trú như vậy, sẽ từ bỏ học
pháp và hoàn tục; sự việc
như vậy không xảy ra.
12) Ví như, này các Tỷ-kheo,
sông Hằng hướng về phía
Ðông, xuôi về phía Ðông,
nghiêng nhập vào phía Ðông.
Rồi một đám dân chúng đông
người đến với xuổng, cuốc,
giỏ và nói: "Chúng ta hãy
làm cho sông Hằng này hướng
về phía Tây, xuôi về phía
Tây, nghiêng nhập vào phía
Tây". Các Ông nghĩ thế nào,
này các Tỷ-kheo, đám dân
chúng đông người ấy có thể
làm cho sông Hằng hướng về
phía Tây, xuôi về phía Tây
và nghiêng nhập vào phía Tây
không?
-- Thưa không, bạch Thế Tôn.
-- Vì sao?
-- Vì sông Hằng này, bạch
Thế Tôn, hướng về phía Ðông,
xuôi về phía Ðông, nghiêng
nhập vào phía Ðông; không có
dễ gì làm cho hướng về phía
Tây, xuôi về phía Tây,
nghiêng nhập vào phía Tây
được. Chỉ có đám dân chúng
đông người ấy chuốc lấy mệt
mỏi và thất vọng thôi.
13) -- Cũng vậy, này các
Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy với sở
hành như vậy, sở trú như
vậy, nếu có quốc vương hay
đại thần của vua, bạn bè,
thân hữu, hay bà con huyết
thống đến dâng cúng tài sản
và nói: "Hãy đến đây, này
Bạn. Sao lại để những y vàng
ấy hành hạ Bạn? Sao lại sống
với đầu trọc và bình bát?
Hãy hoàn tục, thọ hưởng tài
sản và làm các công đức".
Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy
có sở hành như vậy, có sở
trú như vậy, sẽ từ bỏ học
pháp và hoàn tục; sự việc
như vậy không xảy ra. Vì
sao? Này các Tỷ-kheo, vì tâm
của vị ấy đã lâu ngày hướng
về viễn ly, xuôi về viễn ly,
nghiêng nhập vào viễn ly; do
vậy sự hoàn tục không xảy
ra. -ooOoo- |