|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Ba, ngày 02 tháng 06, 2026
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 678. LẤY TÂM LỰC TRỊ THÂN BỆNH - Kinh Cấp Cô Độc I (Paṭhamānāthapiṇḍikasuttaṃ) . ![]()
Tâm lý thường đóng vai trò quan trọng đối với bệnh trạng của
thân. Đây là điều mà người ngày nay ít để ý vì chỉ trông cậy vào
thuốc men. Có nhiều trường hợp ghi lại trong kinh chính tâm lý
lực mạnh mẽ giúp giảm thiểu cơn đau thể xác .Tôn giả Xá-lợi-phất
đã dùng phương pháp nhắc nhở công đức . Ngài giúp ông Cấp Cô Độc
chuyển hướng tâm điểm chú ý
từ "cơn đau trên thân" sang "phẩm chất thanh tịnh trong
tâm". Khi nhận ra mình có niềm tin tuyệt đối vào Tam Bảo, có
giới hạnh trong sạch và có Chánh kiến, tâm của trưởng giả lập
tức tràn ngập hỷ lạc (Pīti) và khinh an (Passaddhi). Trong Thắng
Pháp Abhidhamma), có những sắc tâm tức đơn vị vật chất của thân
thể tạo thành do tâm pháp
(cittaja-rūpa). Khi tâm vô cùng thanh tịnh, có khả năng
hóa giải và làm dịu đi các sắc pháp do nghiệp hoặc do thời tiết
biến đổi (các tế bào/thần kinh bị tổn thương do bệnh).
Kinh Văn
1022. sāvatthinidānaṃ. tena kho pana
samayena anāthapiṇḍiko gahapati ābādhiko hoti dukkhito
bāḷhagilāno. atha kho anāthapiṇḍiko gahapati aññataraṃ purisaṃ
āmantesi — “ehi tvaṃ, ambho purisa, yenāyasmā sāriputto
tenupasaṅkama; upasaṅkamitvā mama vacanena āyasmato sāriputtassa
pāde sirasā vanda — ‘anāthapiṇḍiko, bhante, gahapati ābādhiko
dukkhito bāḷhagilāno. so āyasmato sāriputtassa pāde sirasā
vandatī’ti. evañca vadehi — ‘sādhu kira, bhante, āyasmā
sāriputto yena anāthapiṇḍikassa gahapatissa nivesanaṃ
tenupasaṅkamatu anukampaṃ upādāyā’”ti.
Tại Sāvatthī (Xá-vệ).
Lúc bấy giờ, gia chủ Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc) đang bị bệnh, khổ sở,
trọng bệnh. Rồi gia chủ Anāthapiṇḍika gọi một gia nhân và bảo:
“Này bạn, hãy đi đến chỗ Tôn giả Sāriputta (Xá-lợi-phất), nhân danh tôi
cúi đầu đảnh lễ dưới chân Ngài, và thưa rằng: ‘Bạch Tôn giả, gia
chủ Anāthapiṇḍika đang bị bệnh, khổ sở, trọng bệnh; xin cúi đầu
đảnh lễ dưới chân Tôn giả Sāriputta.’ Rồi thưa tiếp: ‘Lành thay,
bạch Tôn giả, nếu Tôn giả Sāriputta lòng đầy bi mẫn, hoan hỷ đi
đến nhà của gia chủ Anāthapiṇḍika.’”
“Thưa vâng, thưa chủ nhân,” người đàn ông ấy trả lời, rồi đi đến chỗ Tôn
giả Sāriputta, đảnh lễ Ngài, ngồi xuống một bên và truyền đạt
lại lời nhắn. Tôn giả Sāriputta im lặng nhận lời.
Rồi vào buổi sáng, Tôn giả Sāriputta đắp y, cầm bát và cùng đi với Tôn giả
Ānanda pháp lữ cùng đi, đến nhà của gia chủ Anāthapiṇḍika. Sau
khi đến, Ngài ngồi vào chỗ đã soạn sẵn và hỏi gia chủ
Anāthapiṇḍika: “Này gia chủ, tôi mong rằng ông có thể kham nhẫn
được, tôi mong rằng bệnh tình của ông đang thuyên giảm. Mong
rằng các cảm thọ đau đớn của ông đang giảm bớt chứ không gia
tăng, và sự giảm bớt chứ không phải sự gia tăng của chúng được
nhận thấy rõ.”
“Bạch Tôn giả, con không thể kham nhẫn được, bệnh tình của con không
thuyên giảm. Những cảm thọ đau đớn khốc liệt đang gia tăng trong
con chứ không giảm bớt, và sự gia tăng chứ không phải sự giảm
bớt của chúng được nhận thấy rõ.”
“Này gia chủ, ông không có lòng bất tín đối với Đức Phật như kẻ phàm phu
không được nghe Pháp mắc phải – kẻ mà do lòng bất tịnh ấy, sau
khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ,
địa ngục. Trái lại, ông có lòng tịnh tín bất động đối với Đức
Phật rằng: ‘Đức Thế Tôn là... Thầy của chư thiên và loài người,
là Phật, là Thế Tôn.’ Khi ông quán xét lòng tịnh tín bất động
đối với Đức Phật ấy ở nơi tự thân, các đau đớn của ông có thể
lập tức biến mất ngay tại chỗ.
Này gia chủ, ông không có lòng bất tín đối với Giáo pháp (Dhamma) như kẻ
phàm phu không được nghe Pháp mắc phải... [382] ...phải sanh vào
cõi dữ... địa ngục. Trái lại, ông có lòng tịnh tín bất động đối
với Giáo pháp rằng: ‘Giáo pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng...
được người có trí tự mình giác hiểu.’ Khi ông quán xét lòng tịnh
tín bất động đối với Giáo pháp ấy ở nơi tự thân, các đau đớn của
ông có thể lập tức biến mất ngay tại chỗ.
Này gia chủ, ông không có lòng bất tín đối với Tăng chúng (Saṅgha) như kẻ
phàm phu không được nghe Pháp mắc phải... phải sanh vào cõi
dữ... địa ngục. Trái lại, ông có lòng tịnh tín bất động đối với
Tăng chúng rằng: ‘Diệu hạnh là Giáo hội đệ tử của Đức Thế Tôn...
là phước điền vô thượng ở đời.’ Khi ông quán xét lòng tịnh tín
bất động đối với Tăng chúng ấy ở nơi tự thân, các đau đớn của
ông có thể lập tức biến mất ngay tại chỗ.
Này gia chủ, ông không có những ác giới như kẻ phàm phu không được nghe
Pháp mắc phải... phải sanh vào cõi dữ... địa ngục. Trái lại, ông
có các giới hạnh được các bậc Thánh ái kính, không bị phá
hoại... đưa đến định tâm. Khi ông quán xét các giới hạnh được
các bậc Thánh ái kính ấy ở nơi tự thân, các đau đớn của ông có
thể lập tức biến mất ngay tại chỗ.
Này gia chủ, ông không có tà kiến như kẻ phàm phu không được nghe Pháp mắc
phải... phải sanh vào cõi dữ... địa ngục. Trái lại, ông có chánh
kiến. Khi ông quán xét chánh kiến ấy ở nơi tự thân, các đau đớn
của ông có thể lập tức biến mất ngay tại chỗ.
Này gia chủ, ông không có tà tư duy...
...tà ngữ... tà nghiệp... tà mạng... tà tinh tấn... tà
niệm... tà định... tà trí... tà giải thoát như kẻ phàm phu không
được nghe Pháp mắc phải – kẻ mà do những điều ấy, sau khi thân
hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.
Trái lại, ông có chánh tư duy... chánh ngữ... chánh nghiệp...
chánh mạng... chánh tinh tấn... chánh niệm... chánh định...
...chánh trí... chánh giải thoát. Khi ông quán xét chánh
giải thoát ấy ở nơi tự thân, các đau đớn của ông có thể lập tức
biến mất ngay tại chỗ.”
Ngay lập tức, các đau đớn của gia chủ Anāthapiṇḍika biến mất tại chỗ.
Sau đó, gia chủ Anāthapiṇḍika tự tay sớt xới thức ăn từ mâm của mình để
cúng dường Tôn giả Sāriputta và Tôn giả Ānanda. Khi Tôn giả
Sāriputta đã thọ thực xong và đã rời tay khỏi bát, gia chủ
Anāthapiṇḍika chọn một chỗ ngồi thấp rồi ngồi xuống một bên. Tôn
giả Sāriputta liền tùy hỷ tán thán ông bằng những vần kệ sau:
“Ai có lòng tin nơi Như Lai, Bất động, hộ trì thật vững chãi, Có phần giới
hạnh thật thanh cao, Được bậc Thánh khen, hằng mến ái;
Ai có tịnh tín nơi Tăng chúng, Và có tri kiến đã chánh chân, Người ấy được
xưng không nghèo khó, Đời sống người kia chẳng luống phân.
Do vậy, ai là người có trí, Nhớ kỹ lời Phật đã dạy truyền, Hãy hăng hái
tiến tu giới, tín, Tịnh tín, thấy Pháp thật chu viên.”
Sau khi Tôn giả Sāriputta tùy hỷ tán thán gia chủ Anāthapiṇḍika bằng những
vần kệ này, Ngài từ chỗ ngồi đứng dậy và ra về.
Sau đó, Tôn giả Ānanda đi đến chỗ Đức Thế Tôn, đảnh lễ Ngài rồi ngồi xuống
một bên. Đức Thế Tôn liền hỏi Tôn giả: “Này Ānanda, ông từ đâu
đến vào giữa trưa thế này?”
“Bạch Thế Tôn, gia chủ Anāthapiṇḍika vừa được Tôn giả Sāriputta khuyến
giáo bằng bài khuyến giáo như thế, như thế.”
“Này Ānanda, Sāriputta thật đại trí, Sāriputta thật có trí tuệ lớn, khi có
thể phân tích bốn Dự lưu chi (bốn quả vị Dự lưu) thành mười
phương diện như vậy.”
Chú Thích
Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc):
Danh hiệu có nghĩa là "người chu cấp cho kẻ cô độc, nghèo khổ".
Ông là một đại trưởng giả (nhà cấp vốn, thương gia giàu có) tại
kinh thành Xá-vệ, người đã mua lại khu vườn của Thái tử Kỳ-đà
bằng cách lót vàng kín mặt đất để xây dựng Tịnh xá Kỳ Viên
(Jetavana) cúng dường Đức Phật và Tăng đoàn. Ông là vị thánh cư
sĩ Dự Lưu (Sotāpanna).
Sāriputta (Xá-lợi-phất) & Ānanda (A-nan):
Hai đại đệ tử của Đức Phật. Tôn giả Xá-lợi-phất là bậc "Tướng
quân Chánh pháp", đứng đầu về trí tuệ. Tôn giả A-nan là thị giả
cận kề Đức Phật, đứng đầu về đa văn (nghe và nhớ nhiều).
Tôn giả Ānanda là pháp lữ cùng đi
vì
theo luật khi thăm viếng người cư sĩ tại tư gia nên có bạn đồng
tu đi theo.
Cầu an cho người bệnh rất phổ thông thời Đức Phật tại thế. Nhưng thay vì nghi thức thường là
pháp thoại khai thị.
Kẻ phàm phu không được nghe Pháp (Uninstructed worldling /
Assutavā puthujjana): Người chưa từng
được nghe, học và thực hành giáo pháp của các bậc Thánh. Họ bị
dẫn dắt bởi vô minh, dễ rơi vào tà kiến và bất định tín.
Bốn yếu tố Dự Lưu (Four factors of stream-entry /
Sotāpattiyaṅgāni):
Bốn phẩm chất của một vị Thánh quả đầu tiên (Bậc Đến Giới/Bậc
Nhập Lưu), bao gồm:
Tịnh tín bất
động nơi Phật (Avenicca-pasāda)
Tịnh tín bất
động nơi Pháp
Tịnh tín bất
động nơi Tăng
Thành tựu các
Giới đức được bậc Thánh ái kính (hoàn thiện ngũ giới, đưa đến
định).
Thānaso (Lập tức ngay tại chỗ / Khaṇena):
Theo Sớ giải , từ này nghĩa là "trong một sát-na". Ái dục và nỗi
sợ hãi cái chết rút lui, khiến tâm lý tác động trực tiếp lên
sinh lý, làm dịu cơn đau thể xác ngay tức khắc.
Phân tích 4 yếu tố thành 10 phương diện:
Cách giáo giới độc đáo của Tôn giả Xá-lợi-phất. Ngài không chỉ
nhắc đến 4 quả vị Dự lưu gốc (Phật, Pháp, Tăng, Giới), mà còn mở
rộng "Giới" ra thành các chi ngành của
Bát Chánh Đạo (thay thế tà
kiến, tà tư duy... bằng chánh kiến, chánh tư duy...) cộng thêm
hai chi của bậc Thánh hữu học/vô học là
Chánh trí và Chánh giải thoát.
Tà giải thoát (Micchāvimutti) & Tà trí (Micchāñāṇa):
Chú giải định nghĩa tà trí là sự quán xét sai lầm, tà giải thoát
là sự giải thoát ảo tưởng không dẫn đến ly hệ (aniyyānika),
không đoạn tận được khổ đau luân hồi (như các trạng thái định
thiền của ngoại đạo hay ngộ nhận về sự giải thoát).
Ngài Bodhi đã lưu ý trong chú thích của bài kinh: "Ở MN III
76,7-9 [Trung bộ Kinh,
tập III, trang 76, đoạn 7 đến 9] nói rằng
bậc Hữu học (sekha) có tám chi, còn bậc A-la-hán có mười chi.
Thế nhưng ở đây, thật kỳ lạ, hai chi cuối cùng là
sammāñāṇa (Chánh trí) và
sammāvimutti (Chánh giải
thoát), vốn được xem là đặc thù của vị A-la-hán, lại được quy
cho vị Dự lưu Anāthapiṇḍika. Dòng cuối của bài kinh xác nhận
rằng đây không phải là một sơ suất biên tập. Một trường hợp
tương tự xuất hiện ở SN 47.13[ Tương Ưng chương 47, bài kinh số 13], nơi hai
yếu tố của bậc A-la-hán là giải thoát và tri kiến giải thoát lại
được gán cho Tôn giả Ānanda khi ngài vẫn còn là bậc Hữu học."
Sớ Giải
1022. chaṭṭhe ṭhānaso vedanā
paṭippassambheyyāti khaṇena vedanā paṭippassambheyya.
micchāñāṇenāti micchāpaccavekkhaṇena micchāvimuttiyāti
aniyyānikavimuttiyā. tasmā saddhañca sīlañcāti gāthā vuttatthā
eva. yatra hi nāmāti yo nāma.
1022. Trong [bài kinh] thứ sáu:
"Thānaso vedanā paṭippassambheyyā" (các cảm
thọ có thể lập tức biến mất ngay tại chỗ) nghĩa là các cảm thọ
được lặng dịu, biến mất chỉ trong một sát-na (khaṇena).
"Micchāñāṇena" (bằng tà trí) nghĩa là bằng sự quán xét sai lầm (micchā-paccavekkhaṇena).
"Micchāvimuttiyā" (bằng tà giải thoát) nghĩa là bằng sự giải thoát không dẫn đến ly
hệ/không đưa đến giải thoát khổ (aniyyānika-vimuttiyā).
Do đó, các bài kệ bắt đầu bằng
"Tasmā saddhañca sīlañca..."
(Do vậy, [ai là người có trí]... [hãy hăng hái tiến tu] đức tin
và giới hạnh) đã được giải thích ý nghĩa rồi (giống như các phần
trước).
Cụm từ "Yatra
hi nāma" (với danh nghĩa là/như là) có nghĩa tương đương
với "yo nāma" (chính là, cái
gọi là).
------------------
Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu
[55] Chương XI
Tương Ưng Dự Lưu (a)
-ooOoo-
III. Phẩm Saranàni
26.VI. Ác Giới, hay Anàthapindika (1)
(S.v,380)
1) Nhân duyên ở Sàvatthi.
2) Lúc bấy giờ, gia chủ Anàthapindika đang bị bệnh, đau đớn, bị
trọng bệnh.
3) Rồi gia chủ Anàthapindika bảo một người:
-- Hãy đến, này Bạn. Hãy đi đến Tôn giả Sàriputta; sau khi đến
nhân danh ta, cúi đầu đảnh lễ chân Tôn giả Sàriputta và thưa:
"Gia chủ Anàthapindika, thưa Tôn giả, bị bệnh, đau đớn, bị trọng
bệnh, cúi đầu đảnh lễ chân Tôn giả Sàriputta"; và thưa: "Lành
thay, thưa Tôn giả, nếu Tôn giả Sàriputta đi đến trú xứ của gia
chủ Anàthapindika vì lòng từ mẫn!"
-- Thưa vâng, Gia chủ.
Người ấy, vâng đáp gia chủ Anàthapindika, đi đến Tôn giả
Sàriputta; sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Sàriputta rồi ngồi xuống
một bên.
4) Ngồi một bên, người ấy thưa với Tôn giả Sàriputta:
-- Gia chủ Anàthapindika, thưa Tôn giả, bị bệnh, đau đớn, bị
trọng bệnh, xin cúi đầu đảnh lễ chân Tôn giả Sàriputta, gia chủ
thưa: "Lành thay, thưa Tôn giả, nếu Tôn giả Sàriputta đi đến trú
xứ của gia chủ Anàthapindika vì lòng từ mẫn!"
Tôn giả Sàriputta im lặng nhận lời.
5) Rồi Tôn giả Sàriputta, vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát với
Tôn giả Ananda là Sa-môn tùy tùng, đi đến trú xứ của gia chủ
Anàthapindika; sau khi đến, ngồi xuống chỗ đã soạn sẵn. Ngồi
xuống, Tôn giả Sàriputta nói với gia chủ Anàthapindika:
-- Này Gia chủ, Gia chủ có kham nhẫn nổi không? Gia chủ có chịu
đựng nổi không? Có phải khổ thọ giảm thiểu, không có tăng
trưởng? Có phải có dấu hiệu giảm thiểu, không có tăng trưởng?
-- Thưa Tôn giả, con không thể kham nhẫn. Con không thể chịu
đựng. Kịch liệt là khổ thọ nơi con. Chúng tăng trưởng, không có
giảm thiểu. Có dấu hiệu chúng tăng trưởng, không giảm thiểu.
6) -- Vì rằng kẻ vô văn phàm phu, này Gia chủ, thành tựu lòng
bất tín đối với Phật, nên sau khi thân hoại mạng chung, bị sanh
vào ác sanh, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Nhưng Gia chủ không có
lòng bất tín đối với Phật. Trái lại, Gia chủ thành tựu lòng tịnh
tín bất động đối với Phật: "Ðây là bậc Ứng Cúng... Phật, Thế
Tôn". Nếu Gia chủ tự thấy lòng tịnh tín bất động của Gia chủ đối
với đức Phật, thời lập tức các cảm thọ của Gia chủ được an tịnh.
7) Vì rằng kẻ vô văn phàm phu, này Gia chủ, thành tựu lòng bất
tín đối với Pháp, nên sau khi thân hoại mạng chung, bị sanh vào
cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Nhưng Gia chủ không có lòng
bất tín đối với Pháp. Trái lại, Gia chủ thành tựu tịnh tín bất
động đối với Pháp: "Pháp được Thế Tôn khéo thuyết... tự mình
giác hiểu". Nếu Gia chủ tự mình thấy lòng tịnh tín bất động đối
với Pháp, thời lập tức các cảm thọ của Gia chủ được an tịnh.
8) Vì rằng kẻ vô văn phàm phu, này Gia chủ, thành tựu lòng bất
tín đối với chúng Tăng, nên sau khi thân hoại mạng chung, bị
sanh vào ác sanh, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Nhưng Gia chủ không
có lòng bất tín như vậy đối với chúng Tăng. Trái lại, Gia chủ
thành tựu tịnh tín đối với chúng Tăng: "Diệu hạnh là chúng đệ tử
của Thế Tôn... là phước điền vô thượng ở đời". Nếu Gia chủ tự
mình thấy lòng tịnh tín bất động đối với chúng Tăng, thời lập
tức các cảm thọ của Gia chủ được an tịnh.
9) Vì rằng kẻ vô văn phàm phu, này Gia chủ, thành tựu ác giới,
nên sau khi thân hoại mạng chung, bị sanh vào... địa ngục. Nhưng
Gia chủ không có ác giới như vậy. Trái lại, Gia chủ có giới được
các bậc Thánh ái kính... đưa đến Thiền định. Nếu Gia chủ tự thấy
các giới được các bậc Thánh ái kính ấy, thời lập tức các cảm thọ
của Gia chủ được an tịnh.
10) Vì rằng kẻ vô văn phàm phu, này Gia chủ, thành tựu tà kiến
như vậy, nên sau khi thân hoại... địa ngục. Nhưng Gia chủ không
có tà kiến như vậy. Trái lại, Gia chủ có chánh kiến. Nếu Gia chủ
tự mình thấy chánh kiến của Gia chủ, thời lập tức các cảm thọ
của Gia chủ được an tịnh.
11-19) Vì rằng kẻ vô văn phàm phu, này Gia chủ, thành tựu tà tư
duy... tà ngữ... tà nghiệp... tà mạng... tà tinh tấn... tà
niệm... tà định... tà trí... tà giải thoát như vậy, nên sau khi
thân hoại mạng chung, bị sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa
ngục. Nhưng Gia chủ không có từ tư duy... tà ngữ... tà nghiệp...
tà mạng... tà tinh tấn... tà niệm... tà định... tà trí... tà
giải thoát như vậy. Trái lại, Gia chủ có chánh tư duy... chánh
ngữ... chánh nghiệp... chánh mạng... chánh tinh tấn... chánh
niệm... chánh định... chánh trí... chánh giải thoát. Nếu Gia chủ
tự mình thấy chánh tư duy... chánh ngữ... chánh nghiệp... chánh
mạng... chánh tinh tấn... chánh niệm... chánh định... chánh
trí... chánh giải thoát của Gia chủ, thời lập tức các cảm thọ
của Gia chủ được an tịnh.
20) Rồi các cảm thọ của gia chủ Anàthapindika lập tức được an
tịnh.
21) Rồi gia chủ Anàthapindika mời Tôn giả Sàriputta và Tôn giả
Ananda dùng bữa ăn (từ nơi nồi nấu cơm của mình).
22) Sau khi Tôn giả Sàriputta ăn xong, tay đã rời khỏi bát, gia
chủ Anàthapindika đi đến Tôn giả Sàriputta; sau khi đến, lấy một
ghế thấp và ngồi xuống một bên.
23) Tôn giả Sàriputta tán thán gia chủ Anàthapindika với những
lời kệ này:
Ai tin tưởng Như Lai,
24) Rồi Tôn giả Sàriputta, sau khi nói lời hoan hỷ tán thán với
các lời kệ này, từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.
25) Rồi Tôn giả Ananda đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế
Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Tôn giả Aananda đang
ngồi một bên:
26) -- Này Ananda, Ông đi đâu để nghỉ trưa?
-- Bạch Thế Tôn, gia chủ Anàthapindika đã được Tôn giả Sàriputta
giáo giới với lời giáo giới như thế này, thế này...
-- Hiền minh, này Ananda, là Sàriputta ! Ðại tuệ, này Ananda, là
Sàriputta ! Vị ấy có thể chia chẻ bốn Dự lưu phần thành mười
tướng. |