|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Tư, ngày 03 tháng 06, 2026
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 679.TÍN TÂM KIÊN CỐ VÀ KIẾP SAU - Kinh Cấp Cô Độc II (Dutiyānāthapiṇḍikasuttaṃ), Kinh Cấp Cô Độc III (Tatiyānāthapiṇḍikasuttaṃ). ![]()
Phàm phu không học đạo đối diện với cái chết bằng một tâm thức
giao động. Sự "vô tín" (không tin Tam Bảo) tạo ra một cảm giác
bơ vơ, mất phương hướng như người bị ném giữa đại dương đêm tối;
trong khi sự thiếu giới đức hoạt động như một loại độc tố nội
tâm, kích hoạt các cận tử nghiệp bất thiện, đẩy tâm vào các viễn
cảnh của đọa xứ. Trái lại, Bậc Thánh đệ tử (Nhập Lưu) đối diện
với cái chết bằng một tâm thế vững chãi như một ngọn núi. Bốn
phẩm chất Dự lưu (Tin Phật, Pháp, Tăng và Giới hạnh trọn vẹn)
không còn là các khái niệm lý thuyết, mà đã trở thành bản chất
cấu trúc tâm thức của họ. Họ có một tâm thế vững chãi rằng dù
thân xác này rã rời, dòng tâm thức tiếp theo chắc chắn sẽ hướng
thượng.
Kinh Văn
1023. sāvatthinidānaṃ. tena kho pana samayena anāthapiṇḍiko gahapati
ābādhiko hoti dukkhito bāḷhagilāno. atha kho anāthapiṇḍiko
gahapati aññataraṃ purisaṃ āmantesi — “ehi tvaṃ, ambho purisa,
yenāyasmā ānando tenupasaṅkama; upasaṅkamitvā mama vacanena
āyasmato ānandassa pāde sirasā vanda — ‘anāthapiṇḍiko, bhante,
gahapati ābādhiko dukkhito bāḷhagilāno. so āyasmato ānandassa
pāde sirasā vandatī’ti. evañca vadehi — ‘sādhu kira, bhante,
āyasmā ānando yena anāthapiṇḍikassa gahapatissa nivesanaṃ
tenupasaṅkamatu anukampaṃ upādāyā’”ti.
(Đoạn mở đầu của bài kinh này giống như bài kinh trước, ngoại trừ việc cư
sĩ Anāthapiṇḍika cho tho thỉnh Tôn giả Ānanda đến, cho đến đoạn
dưới đây:)
“Con không thể chịu đựng nổi, bạch Tôn giả, con không thấy giảm nhẹ. Những
cảm thọ đau đớn khốc liệt đang gia tăng trong con, không hề
thuyên giảm, và chỉ thấy sự gia tăng của chúng chứ không thấy
giảm bớt.”
“Này gia chủ, đối với kẻ phàm phu không được nghe giáo pháp, người đang có
bốn điều này, thì sẽ có sự kinh hãi, có sự hoảng hốt, có nỗi sợ
hãi cái chết đang cận kề.Bốn điều gì?
Ở đây, này gia chủ, kẻ phàm phu không được nghe giáo pháp có lòng không
tin (vô tín) đối với Đức Phật, và khi kẻ ấy tự quán xét trong
nội tâm về lòng không tin đối với Đức Phật đó, sẽ có sự kinh
hãi, hoảng hốt và sợ hãi cái chết đang cận kề.
Lại nữa, này gia chủ, kẻ phàm phu không được nghe giáo pháp có lòng không
tin đối với Chánh pháp, và khi kẻ ấy tự quán xét trong nội tâm
về lòng không tin đối với Chánh pháp đó, sẽ có sự kinh hãi,
hoảng hốt và sợ hãi cái chết đang cận kề.
Lại nữa, này gia chủ, kẻ phàm phu không được nghe giáo pháp có lòng không
tin đối với Tăng-già, và khi kẻ ấy tự quán xét trong nội tâm về
lòng không tin đối với Tăng-già đó, sẽ có sự kinh hãi, hoảng hốt
và sợ hãi cái chết đang cận kề.
Lại nữa, này gia chủ, kẻ phàm phu không được nghe giáo pháp là người không
giới hạnh, và khi kẻ ấy tự quán xét trong nội tâm về sự thiếu
giới hạnh đó, sẽ có sự kinh hãi, hoảng hốt và sợ hãi cái chết
đang cận kề.
Này gia chủ, đối với kẻ phàm phu không được nghe giáo pháp sở hữu bốn điều
này, thì sẽ có sự kinh hãi, hoảng hốt và sợ hãi cái chết đang
cận kề.
Này gia chủ, đối với vị bậc Thánh đệ tử được nghe giáo pháp, người thành
tựu bốn điều này, thì không có sự kinh hãi, không có sự hoảng
hốt, không có nỗi sợ hãi cái chết đang cận kề. Bốn điều gì?
Ở đây, này gia chủ, vị bậc Thánh đệ tử được nghe giáo pháp thành tựu lòng
tin bất động nơi Đức Phật như sau: ‘Đức Thế Tôn là... bậc Thầy
của chư thiên và loài người, là Phật, là Đức Thế Tôn.’ Khi vị ấy
tự quán xét trong nội tâm về lòng tin bất động nơi Đức Phật đó,
sẽ không có sự kinh hãi, hoảng hốt hay sợ hãi cái chết đang cận
kề.
Lại nữa, này gia chủ, vị bậc Thánh đệ tử được nghe giáo pháp thành tựu
lòng tin bất động nơi Chánh pháp như sau: ‘Pháp được Đức Thế Tôn
khéo thuyết giảng... được người trí tự mình kinh nghiệm.’ Khi vị
ấy tự quán xét trong nội tâm về lòng tin bất động nơi Chánh pháp
đó, sẽ không có sự kinh hãi, hoảng hốt hay sợ hãi cái chết đang
cận kề.
Lại nữa, này gia chủ, vị bậc Thánh đệ tử được nghe giáo pháp thành tựu
lòng tin bất động nơi Tăng-già như sau: ‘Giáo hội đệ tử của Đức
Thế Tôn là bậc thực hành diệu hạnh... là phước điền vô thượng ở
đời.’ Khi vị ấy tự quán xét trong nội tâm về lòng tin bất động
nơi Giáo hội Tăng-già đó, sẽ không có sự kinh hãi, hoảng hốt hay
sợ hãi cái chết đang cận kề.
Lại nữa, này gia chủ, vị bậc Thánh đệ tử được nghe giáo pháp thành tựu các
giới hạnh được các bậc Thánh ái kính, không bị phá hoại... đưa
đến định tâm. Khi vị ấy tự quán xét trong nội tâm về các giới
hạnh được các bậc Thánh ái kính đó, sẽ không có sự kinh hãi,
hoảng hốt hay sợ hãi cái chết đang cận kề.
Này gia chủ, đối với vị bậc Thánh đệ tử được nghe giáo pháp thành tựu bốn
điều này, thì không có sự kinh hãi, hoảng hốt hay sợ hãi cái
chết đang cận kề.”
“Con không hề sợ hãi, bạch Tôn giả Ānanda. Tại sao con lại phải sợ hãi? Vì
rằng, bạch Tôn giả, con thành tựu lòng tin bất động nơi Đức
Phật… nơi Chánh pháp… nơi Giáo hội Tăng-già. Và đối với các giới
quy định học tập của hàng cư sĩ được Đức Thế Tôn thuyết giảng,
con không thấy trong nội tâm mình có bất kỳ giới nào bị phá hoại
cả.”
“Thật là một lợi ích lớn cho ông, này gia chủ! Thật là một sự khéo đắc cho
ông, này gia chủ! Ông đã tuyên bố, này gia chủ, về quả vị của
bậc Dự lưu (Nhập lưu).”
Kinh Cấp Cô Độc III
(Bài kinh này hoàn toàn trùng khớp với kinh số 12:41 thuộc Tương Ưng Bộ).
[388-389]
[ Tương Ưng bộ, chương 12,
kinh số 41, trang 388, 389]
Chú Thích
Về câu nói của kẻ phàm phu khi đối diện cái chết: Sớ giải chú thích rằng, từ “quán xét trong nội tâm” (attani
samanupassato) nghĩa là khi một người nằm trên giường bệnh cận
kề cái chết, họ bắt đầu hồi tưởng và kiểm tra lại hành trang tâm
linh của mình.
Tâm lý kẻ phàm phu phá giới: Kẻ phàm phu không có niềm tin, khi nhìn
lại cuộc đời, họ chỉ thấy một khoảng trống rỗng về đức tin và
một chuỗi các hành vi vi phạm giới luật (adhamma). Sự trống rỗng
này tạo ra cảm giác “Kinh hãi” (tāsa) – trạng thái run rẩy của
tâm lý sợ sa đọa; “Hoảng hốt” (santāsa) – sự hoảng loạn của cơ
thể và ý thức trước một tương lai bất định ở cõi xấu; và “Sợ hãi
cái chết cận kề” (maraṇabhaya).
Tâm lý bậc Thánh cư sĩ: Ngược lại, khi Trưởng giả Cấp Cô Độc (Anāthapiṇḍika) tự kiểm tra nội tâm,
ông nhận ra bốn phẩm chất Dự Lưu (Sotāpanna-aṅgāni) của mình đều
tròn vẹn, sáng chói như những viên ngọc không tỳ vết. Sớ giải
nhấn mạnh câu trả lời của ông: "Tại sao con lại phải sợ hãi?"
không phải là lời tự mãn, mà là sự xác tín dựa trên hiện thực
rằng "Cửa địa ngục đã đóng hoàn toàn" đối với ông. Lời chúc mừng
của Tôn giả Ānanda: "Thật là một lợi ích lớn cho ông!" là lời ấn
chứng công khai rằng một vị cư sĩ bận rộn với việc kinh doanh
vẫn có thể đạt đến sự tự tại tuyệt đối trước cái chết nhờ vào
việc an trú trong Thánh Quả.
Về kinh Kinh Cấp Cô Độc III
Vì bài kinh này được ghi nhận là trùng khớp hoàn toàn với kinh
12:41 (Kinh Năm Lo Sợ), Chú
giải tập trung vào việc làm rõ năm điều oán hận:
Năm điều oán hận sợ hãi phát sanh từ việc sát sanh, lấy của không cho, tà
dâm, nói dối, và uống rượu. Một người phá năm giới này sẽ tự
nuôi dưỡng một nguồn năng lượng oán thù, sợ hãi ngay trong hiện
tại (lo sợ bị luật pháp trừng phạt, lo sợ bị trả thù) và gieo
nhân chịu khổ bách hại ở tương lai. Bậc Dự Lưu dứt tuyệt năm
điều này nên tâm luôn đạt đến trạng thái vững tâm vô úy
(Abhaya).
Sớ Giải
1023. sattame samparāyikaṃ maraṇabhayanti samparāyahetukaṃ maraṇabhayaṃ
gihisāmīcikānīti gihīnaṃ anucchavikāni. sesaṃ sabbattha
uttānamevāti.
1023. “Sattame samparāyikaṃ maraṇabhayanti” —
Trong kinh
thứ bảy, cụm từ “samparāyikaṃ maraṇabhayaṃ” nghĩa là: sự sợ hãi về cái chết liên quan đến đời sau (samparāyahetukaṃ maraṇabhayaṃ), tức là nỗi sợ hãi cái chết phát sinh do nguyên nhân thuộc về kiếp sau.
Gihisāmīcikānīti gihīnaṃ
anucchavikāni — Cụm từ “gihisāmīcikāni”
nghĩa là: những điều thích hợp với người cư sĩ, những quy tắc
phù hợp với gia chủ.
Sesaṃ sabbattha uttānamevāti — Phần còn lại ở khắp mọi nơi đều rõ ràng, dễ hiểu.
------------------
Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu
[55] Chương XI
Tương Ưng Dự Lưu (a)
-ooOoo-
III. Phẩm Saranàni
27.VII. Ác Giới, hay Anàthapindika (2)
(S.v,385)
1) Nhân duyên ở Sàvatthi.
2) Lúc bấy giờ, gia chủ Anàthapindika bị bệnh, đau đớn, bị trọng
bệnh.
3-5) ... (giống như kinh trước, chỉ khác, đây là Tôn giả Ananda
chứ không phải Tôn giả Sàriputta, và Tôn giả Ananda đi chỉ có
một mình, cho đến... có dấu hiệu tăng trưởng, không có giảm
thiểu).
6) -- Này Gia chủ, kẻ vô văn phàm phu thành tựu bốn pháp nên run
sợ, hoảng hốt, sợ hãi về cái chết, về đời sau. Thế nào là bốn?
7) Ở đây, này Gia chủ, kẻ vô văn phàm phu thành tựu lòng bất tín
đối với Phật. Khi vị ấy tự thấy lòng bất tín của mình đối với
Phật, vị ấy run sợ, hoảng hốt, sợ hãi về cái chết, về đời sau.
Lại nữa, này Gia chủ, kẻ vô văn phàm phu thành tựu lòng bất tín
đối với Pháp. Khi vị ấy tự thấy lòng bất tín của mình đối với
Pháp; vị ấy run sợ, hoảng hốt, sợ hãi về cái chết, về đời sau.
Lại nữa, này Gia chủ, kẻ vô văn phàm phu thành tựu lòng bất tín
đối với chúng Tăng. Khi vị ấy tự thấy lòng bất tín của mình đối
với chúng Tăng; vị ấy run sợ, hoảng hốt, sợ hãi về cái chết, về
đời sau. Lại nữa, này Gia chủ, kẻ vô văn phàm phu thành tựu ác
giới. Khi vị ấy tự thấy sự thành tựu ác giới của mình; vị ấy run
sợ, hoảng hốt, sợ hãi về cái chết, về đời sau. Do thành tựu bốn
pháp này, này Gia chủ, kẻ vô văn phàm phu run sợ, hoảng hốt, sợ
hãi về cái chết, về đời sau.
8) Do thành tựu bốn pháp, này Gia chủ, vị Ða văn Thánh đệ tử
không có run sợ, không có hoảng hốt, không có sợ hãi về cái
chết, về đời sau. Thế nào là bốn? Ở đây, này Gia chủ, vị Ða văn
Thánh đệ tử thành tựu tịnh tín bất động đối với Phật: "Ðây là là
bậc Ứng Cúng, ... Phật, Thế Tôn". Khi tự thấy lòng tịnh tín bất
động của mình đối với Phật, vị ấy không run sợ, không hoảng hốt,
không sợ hãi về cái chết, về đời sau. Lại nữa, này Gia chủ, vị
Ða văn Thánh đệ tử thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với
Pháp: "Pháp được Thế Tôn khéo thuyết... chỉ người có trí tự mình
giác hiểu". Khi tự thấy lòng tịnh tín bất động của mình đối với
Pháp, vị ấy không run sợ, không hoảng hốt, không sợ hãi về cái
chết, về đời sau. Lại nữa, này Gia chủ... lòng tịnh tín bất động
đối với chúng Tăng: "Diệu hạnh là đệ tử của Thế Tôn... là phước
điền vô thượng ở đời"... về đời sau. Lại nữa, này Gia chủ, vị Ða
văn Thánh đệ tử thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính...
đưa đến Thiền định. Khi tự thấy sự thành tựu các giới được các
bậc Thánh ái kính của mình, vị ấy không run sợ, không hoảng hốt,
không sợ hãi về cái chết, về đời sau. Thành tựu bốn pháp này,
này Gia chủ, bậc Ða văn Thánh đệ tử không có run sợ, không có
hoảng hốt, không sợ hãi về cái chết, về đời sau.
9) -- Thưa Tôn giả Ananda, con không sợ hãi. Sao con có thể sợ
hãi? Con đã thành tựu lòng tịnh tín đối với Phật: "Ðây là bậc
Ứng Cúng... Phật, Thế Tôn"... đối với Pháp... đối với chúng
Tăng... thưa Tôn giả, phàm có những học giới hòa kính (sàmici)
tại gia do Thế Tôn thuyết giảng, con thấy không có tự mình vi
phạm một giới nào.
10) -- Lợi đắc thay cho Gia chủ, này Gia chủ! Khéo lợi đắc thay
cho Gia chủ, này Gia chủ ! Gia chủ đã tuyên bố về Dự lưu quả
rồi.
28.VIII. Hận Thù, hay Anàthapindika (3)
(S.v,387)
1) Nhân duyên ở Sàvatthi.
2) Rồi gia chủ Anàthapindika đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh
lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với gia chủ
Anàthapindika đang ngồi một bên:
3) -- Khi nào vị Thánh đệ tử, này Gia chủ, làm cho tịnh chỉ năm
sự sợ hãi, hận thù (pancabhayàni), thành tựu bốn Dự lưu phần, và
nhờ trí tuệ, Thánh lý (nàya) được khéo thấy, được khéo thông
đạt, nếu vị ấy muốn, sẽ tự mình tuyên bố về mình như sau: "Ta đã
đoạn tận địa ngục; ta đã đoạn tận các loài bàng sanh; ta đã đoạn
tận cõi ngạ quỷ; ta là bậc Dự lưu, không còn thối đọa, quyết
chắc chứng quả giác ngộ". Thế nào là năm sự sợ hãi, hận thù được
tịnh chỉ?
4) Sự sợ hãi, hận thù, này Gia chủ, ngay trong hiện tại khởi lên
cho người sát sanh; do duyên sát sanh, sự sợ, hãi, hận thù khởi
lên ở đời sau, sự khổ ưu do tâm người ấy cảm thọ. Với người từ
bỏ sát sanh, thời sự sợ hãi, hận thù như vậy được tịnh chỉ.
... khởi lên cho người lấy của không cho...
... khởi lên cho người tà hạnh trong các dục...
... khởi lên cho người nói láo...
Sự sợ hãi, hận thù, này Gia chủ, ngay trong hiện tại khởi lên
cho người say đắm rượu men, rượu nấu; do duyên say đắm rượu men,
rượu nấu, sự sợ hãi, hận thù khởi lên ở đời sau, khổ ưu do tâm
người ấy cảm thọ. Với người từ bỏ say đắm rượu men, rượu nấu,
thời sự sợ hãi, hận thù như vậy được tịnh chỉ.
Năm sự sợ hãi, hận thù này được tịnh chỉ.
5) Với bốn Dự lưu phần nào, vị ấy được thành tựu?
Ở đây, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tịnh tín bất
động đối với đức Phật: "Ðây là bậc Ứng Cúng, ... Phật, Thế
Tôn..". đối với Pháp... đối với chúng Tăng... vị ấy thành tựu
các giới được các bậc Thánh ái kính... đưa đến Thiền định.
Bốn Dự lưu phần này được thành tựu.
6) Thánh lý nào được vị ấy khéo thấy với trí tuệ, khéo thông
đạt?
Ở đây, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử khéo như lý tác ý lý duyên
khởi: Do cái này có mặt, cái kia có mặt. Do cái này sanh khởi,
cái kia sanh khởi. Do cái này không có mặt, cái kia không có
mặt. Do cái này diệt, cái kia diệt. Tức là vô minh duyên hành,
hành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh sắc duyên sáu xứ, sáu
xứ duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ
duyên hữu, hữu duyên sanh, sanh duyên lão tử. Như vậy là sự tập
khởi của toàn bộ khổ uẩn này. Do sự ly tham, đoạn diệt vô minh
không có dư tàn, nên hành diệt. Do hành diệt, nên thức diệt...
nên lão tử diệt. Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này
vậy.
Ðây là Thánh lý, với trí tuệ, được khéo thấy, khéo thông đạt.
7) Khi nào vị Thánh đệ tử, này Gia chủ, được tịnh chỉ năm sự sợ
hãi, hận thù này, được thành tựu bốn Dự lưu phần này, và Thánh
lý nhờ trí tuệ được khéo thấy, khéo thông đạt thời nếu muốn, vị
ấy có thể tự mình tuyên bố về mình như sau: "Ta đã đoạn tận địa
ngục; ta đã đoạn tận loài bàng sanh; ta đã đoạn tận cõi ngạ quỷ;
ta đã đoạn tận cõi dữ, ác thú, đọa xứ. Ta là bậc Dự lưu, không
còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ". |