|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Năm, ngày 04 tháng 06, 2026
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
BÀI 680. MỘT SỐ BÀI KINH VỀ BỐN CHI PHẦN DỰ LƯU, BÀI 681. MỘT SỐ BÀI KINH VỀ DÒNG CHẢY CỦA PHƯỚC BÁU - ... ![]()
BÀI 680. MỘT SỐ BÀI KINH VỀ BỐN CHI PHẦN DỰ
LƯU
Tại Sāvatthī (Xá-vệ). Bấy giờ, có một số vị Tỳ-kheo đi đến chỗ Đức Thế
Tôn... và ngồi xuống một bên. Khi các vị ấy đã ngồi xuống một
bên, Đức Thế Tôn liền nói với họ rằng:
(Tất cả nội dung giống như bài kinh trước; hoàn toàn trùng khớp với kinh
số 12:42 thuộc Tương Ưng Bộ).
Kinh Đại Thần
Licchavi
Một thuở, Đức Thế Tôn đang ngự tại Vesālī (Tỳ-xá-ly), trong Đại Lâm, tại
Giảng đường Trùng Các. Lúc bấy giờ, Nandaka, vị đại thần của tộc
người Licchavi, đi đến chỗ Đức Thế Tôn, đảnh lễ Ngài rồi ngồi
xuống một bên. Đức Thế Tôn liền nói với ông ấy rằng:
“Này Nandaka, một vị thánh đệ tử thành tựu bốn điều này là một bậc Dự lưu,
[390] không còn bị trói buộc vào đọa xứ, có số phận định sẵn, và
hướng đến chánh đẳng giác làm đích đến. Bốn điều gì? Ở đây, này
Nandaka, một vị thánh đệ tử thành tựu lòng tin bất động nơi Đức
Phật như sau: ‘Đức Thế Tôn là... bậc Thầy của chư thiên và loài
người, là Phật, là Đức Thế Tôn.’ Vị ấy thành tựu lòng tin bất
động nơi Chánh pháp… nơi Giáo hội Tăng-già.… Vị ấy thành tựu các
giới hạnh được các bậc Thánh ái kính, không bị phá hoại… đưa đến
định tâm. Một vị thánh đệ tử thành tựu bốn điều này là một bậc
Dự lưu, không còn bị trói buộc vào đọa xứ, có số phận định sẵn,
và hướng đến chánh đẳng giác làm đích đến.
Lại nữa, này Nandaka, một vị thánh đệ tử thành tựu bốn điều này sẽ được
ban tặng một tuổi thọ dài lâu, dù là ở cõi thiên hay cõi người;
vị ấy được ban tặng dung sắc đẹp đẽ, dù là ở cõi thiên hay cõi
người; vị ấy được ban tặng niềm hạnh phúc, dù là ở cõi thiên hay
cõi người; vị ấy được ban tặng danh tiếng, dù là ở cõi thiên hay
cõi người; vị ấy được ban tặng quyền lực thống trị, dù là ở cõi
thiên hay cõi người. Này Nandaka, Ta nói điều này không phải do
nghe lại từ một vị sa-môn hay bà-la-môn nào khác; trái lại, Ta
chỉ nói những gì tự mình đã biết, đã thấy, và đã thấu hiểu.”
Khi điều này vừa được thuyết giảng, có một người đàn ông nói với Nandaka,
vị đại thần của tộc người Licchavi rằng: “Thưa ngài, đã đến giờ
tắm của ngài rồi.”
“Thôi đủ rồi, ta nói này, việc tắm rửa bên ngoài đó hãy để sau đi. Sự tắm
rửa bên trong này là đã đủ rồi, cụ thể là lòng tịnh tín nơi Đức
Thế Tôn.”
Chương 55. Tương Ưng Dự Lưu
–
Phẩm Phước Lưu -
SN 55.31 - 36
Nhóm kinh thuộc phẩm Phước Lưu mở ra một viễn cảnh tri thức luận và tâm lý
học vô
cùng sống
động, nơi phước báu không còn là những hành động tích lũy phước
thiện nhỏ lẻ, cơ hội, mà được nâng cấp thành một “dòng sông năng
lượng” tuôn chảy liên tục, cuồn cuộn đổ về đại dương hạnh phúc
và giải thoát. Bên cạnh đó, chuỗi kinh về Thiên Đạo và Tương Tự
Chư Thiên nói lên định luật "đồng thanh tương ứng" dưới góc độ
tần số năng lượng. Sự quán chiếu của vị Thánh đệ tử — “Con đường
của chư thiên là gì?” và sự tự nhận thức về phẩm chất Bất hại
(Ahiṃsā) — chính là một liệu pháp tự thanh lọc tinh thần đầy vi
tế. Sự tịnh tín và lòng từ mẫn không làm tổn hại bất kỳ chúng
sinh nào đã tạo ra bản chất đạo đức (Sabhāga) giữa người và
trời. Chư thiên hoan hỷ không phải vì một nghi lễ cúng tế, mà vì
họ nhìn thấy một tâm thức ở cõi người đang rung động cùng một
tần số thánh thiện với họ. Những kinh này là một thông điệp nhất
quán: đời sống chánh niệm không đợi đến ngày mai, và thiên giới
cũng không phải là một cõi xa xôi hậu thế; khi tâm ta an trú vào
Tam Bảo, Giới đức, và Trí tuệ, ta đang bước đi trên con đường
của chư thiên, mở toang cánh cửa để sự tĩnh lặng tự lên tiếng
giữa dòng đời biến dịch.
Kinh Văn
Kinh Những Dòng
Phước Báu I
Tại Sāvatthī (Xá-vệ).
Đức Thế Tôn dạy:
— “Này các Tỳ khưu, có bốn dòng phước báu, bốn dòng thiện pháp, bốn nguồn
nuôi dưỡng hạnh phúc. Bốn điều ấy là gì?
“Ở đây, này các Tỳ khưu, vị Thánh đệ tử có tín tâm kiên cố nơi Phật như
sau: ‘Đức Thế Tôn là bậc Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh Hạnh
Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Điều Ngự, Thiên Nhân
Sư, Phật Đà, Thế Tôn.’Đây là dòng phước báu thứ nhất, dòng thiện
pháp thứ nhất, nguồn nuôi dưỡng hạnh phúc thứ nhất.
“Lại nữa, vị Thánh đệ tử có tín tâm kiên cố nơi Pháp như sau: ‘Pháp được
Đức Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tiền, vượt ngoài thời
gian, đến để thấy hiểu, hiệu năng hướng thượng, được người có
trí tự mình tỏ ngộ.’
Đây là dòng phước báu thứ hai...
“Lại nữa, vị Thánh đệ tử có tín tâm kiên cố nơi Tăng như sau: ‘Chư Tăng đệ
tử của Đức Thế Tôn là những bậc thiện hạnh, trực hạnh, như hạnh,
chánh hạnh; tức là bốn đôi tám vị — Tăng đoàn đệ tử của Đức Thế
Tôn là bậc đáng được cung kính, đáng được đãi ngộ, đáng được
cúng dường, đáng được chấp tay đảnh lễ, là phước điền vô thượng
của đời.’
Đây là dòng phước báu thứ ba...
“Lại nữa, vị Thánh đệ tử thành tựu giới được các bậc Thánh trân trọng —
không bị bẻ gãy, không bị sứt mẻ, không bị ô uế, không bị hoen
ố, giải thoát, được người có trí khen ngợi, không bị chấp thủ,
dẫn đến định.
Đây là dòng phước báu thứ tư...
“Này các Tỳ khưu, đó là bốn dòng phước báu, bốn dòng thiện pháp, bốn nguồn
nuôi dưỡng hạnh phúc.”
Kinh Những Dòng
Phước Báu II
Đức Thế Tôn dạy:
— “Này các Tỳ khưu, có bốn dòng phước báu, bốn dòng thiện pháp, bốn nguồn
nuôi dưỡng hạnh phúc.
(Ba điều đầu giống bài kinh trên, điều thứ tư như sau:)
“Lại nữa, này các Tỳ khưu, vị Thánh đệ tử sống tại gia với tâm không bị
cấu uế bởi lòng xan tham, rộng lượng bố thí, bàn tay rộng mở,
vui thích buông xả, tận tụy trong việc chia sẻ, hoan hỷ trong
việc cho và san sẻ.
Đây là dòng phước báu thứ tư.
“Này các Tỳ khưu, đó là bốn dòng phước báu, bốn dòng thiện pháp, bốn nguồn
nuôi dưỡng hạnh phúc.”
Kinh Những Dòng
Phước Báu III
Đức Thế Tôn dạy:
— “Này các Tỳ khưu, có bốn dòng phước báu, bốn dòng thiện pháp, bốn nguồn
nuôi dưỡng hạnh phúc.
(Ba điều đầu giống Kinh 31, điều thứ tư như sau:)
“Lại nữa, này các Tỳ khưu, vị Thánh đệ tử là người có trí tuệ, thành tựu
trí tuệ quán sát sự sanh và diệt, trí tuệ cao quý, thâm nhập,
dẫn đến sự đoạn tận hoàn toàn khổ đau.
Đây là dòng phước báu thứ tư.
“Này các Tỳ khưu, đó là bốn dòng phước báu, bốn dòng thiện pháp, bốn nguồn
nuôi dưỡng hạnh phúc.”
Kinh Thiên Đạo I
Tại Sāvatthī.
Đức Thế Tôn dạy:
— “Này các Tỳ khưu, có bốn con đường của chư thiên, có khả năng thanh lọc
những chúng sanh chưa được thanh lọc, tẩy sạch những chúng sanh
chưa được tẩy sạch.
Bốn điều ấy là gì?
“Ở đây, vị Thánh đệ tử có lòng tịnh tín bất động đối với Đức Phật...
Đây là con đường thứ nhất của chư thiên.
“Lại nữa, vị ấy có lòng tịnh tín bất động đối với Chánh Pháp...
“Lại nữa, vị ấy có lòng tịnh tín bất động đối với Tăng chúng...
“Lại nữa, vị ấy thành tựu các giới được bậc Thánh ái kính, không sứt mẻ...
đưa đến định tâm.
Đây là con đường thứ tư của chư thiên.
“Này các Tỳ khưu, đó là bốn con đường của chư thiên, có khả năng thanh lọc
những chúng sanh chưa được thanh lọc, tẩy sạch những chúng sanh
chưa được tẩy sạch.”
Kinh Thiên Đạo II
Đức Thế Tôn dạy:
— “Này các Tỳ khưu, có bốn con đường của chư thiên để thanh lọc những
chúng sanh chưa được thanh lọc.
“Ở đây, vị Thánh đệ tử có lòng tịnh tín bất động nơi Đức Phật...
Vị ấy suy nghĩ:
‘Con đường của chư thiên là gì?’
Vị ấy hiểu rằng:
‘Ta đã nghe rằng hiện nay chư thiên lấy sự bất hại (ahiṃsā) làm tối
thượng. Ta không làm hại bất cứ ai, dù yếu hay mạnh. Chắc chắn
ta đang sống với một trong những con đường của chư thiên.’
Đây là con đường thứ nhất của chư thiên.
“Lại nữa, vị ấy có lòng tịnh tín bất động đối với Chánh Pháp...
“Lại nữa, vị ấy có lòng tịnh tín bất động đối với Tăng chúng...
“Lại nữa, vị Thánh đệ tử thành tựu các giới được bậc Thánh ái kính...
Vị ấy suy nghĩ:
‘Ta đã nghe rằng chư thiên lấy sự bất hại làm tối thượng. Ta không làm hại
bất cứ ai, dù yếu hay mạnh. Chắc chắn ta đang sống với một trong
những con đường của chư thiên.’
Đây là con đường thứ tư của chư thiên.
“Này các Tỳ khưu, đó là bốn con đường của chư thiên để thanh lọc những
chúng sanh chưa được thanh lọc.”
Kinh Tương Tự Chư
Thiên (Devasamāna Sutta)
Đức Thế Tôn dạy:
— “Này các Tỳ khưu, khi một vị Thánh đệ tử thành tựu bốn pháp, chư thiên
hoan hỷ và nói rằng người ấy giống như họ.
Bốn pháp ấy là gì?
“Ở đây, vị Thánh đệ tử có lòng tịnh tín bất động đối với Đức Phật...
Những vị thiên từ cõi người sau khi chết được tái sanh lên thiên giới nhờ
lòng tịnh tín nơi Đức Phật sẽ nghĩ:
‘Vị Thánh đệ tử này có cùng lòng tịnh tín nơi Đức Phật như chúng ta đã có
khi từ cõi người tái sanh lên đây. Vị ấy rồi sẽ đến giữa chư
thiên.’
“Lại nữa, vị ấy có lòng tịnh tín bất động đối với Chánh Pháp...
Đối với Tăng chúng...
“Lại nữa, vị ấy thành tựu các giới được bậc Thánh ái kính, không sứt mẻ,
đưa đến định tâm.
Các vị thiên đã tái sanh lên thiên giới nhờ các giới được bậc Thánh ái
kính sẽ nghĩ:
‘Vị Thánh đệ tử này có cùng loại giới đức như chúng ta đã có trước đây. Vị
ấy rồi sẽ đến giữa chư thiên.’
“Này các Tỳ khưu, khi vị Thánh đệ tử thành tựu bốn pháp ấy, chư thiên hoan
hỷ và nói rằng người ấy tương tự như họ.”
Chú Thích
Sáu bài kinh đầu trong chương Puññābhisanda
Vagga (Phước Lưu) giống như sáu góc nhìn khác nhau của
cùng một viên ngọc quý. Đức Phật không chỉ dạy cách tạo phước,
mà còn chỉ ra bản chất của phước, sức mạnh của phước và đích đến
của phước. Điều đặc biệt là Ngài không nói đến những nghi lễ cầu
phước hay tế tự, mà nhấn mạnh đến những phẩm chất nội tâm làm
phát sinh một “dòng sông công đức” chảy mãi trong đời sống.
Hình ảnh “Phước Lưu” là cách nói tượng hình đặc biệt. Một giọt nước riêng
lẻ có thể nhanh chóng khô cạn, nhưng một dòng sông thì chảy mãi
không ngừng. Cũng vậy, một việc lành đơn lẻ chỉ tạo một ít phước
báo, nhưng niềm tin vững chắc nơi Tam Bảo, giới hạnh thanh tịnh,
tâm bố thí rộng mở và trí tuệ quán chiếu lại trở thành một dòng
công đức liên tục sinh khởi ngày đêm. Người ấy dù đang đi, đứng,
nằm, ngồi vẫn đang làm cho dòng phước ấy tiếp tục tuôn chảy.
Ba bài kinh đầu tiên trình bày ba tầng cao dần của đời sống tâm linh. Kinh
thứ nhất nhấn mạnh tín và giới là nền tảng của mọi thiện pháp.
Kinh thứ hai mở rộng bằng bố thí và buông xả, bởi người biết cho
đi là người đang phá vỡ nhà tù của lòng ích kỷ. Kinh thứ ba nâng
cao hơn nữa bằng trí tuệ quán sinh diệt, vì cuối cùng chỉ có trí
tuệ mới có thể đoạn tận khổ đau. Như vậy, con đường tâm linh
được xây dựng từ dưới lên trên: từ đức tin, đến hành động thiện
lành, rồi thăng hoa thành tuệ giác.
Ba bài kinh tiếp theo lại soi sáng cùng những phẩm chất ấy dưới một góc
nhìn khác: góc nhìn của chư thiên. Đức Phật gọi chúng là “Thiên
Đạo” – con đường của chư thiên. Điều này thật thú vị, bởi nhiều
người nghĩ rằng sinh thiên là nhờ nghi lễ, cầu nguyện hay thần
lực. Nhưng theo lời Phật dạy, con đường dẫn đến cõi trời rất
giản dị: tin sâu nơi Tam Bảo, giữ giới thanh tịnh và không làm
hại bất kỳ ai. Một người sống với tâm từ và sự bất hại đã mang
phẩm chất của chư thiên ngay giữa cõi người.
Đỉnh cao của chương kinh là bài “Tương Tự Chư Thiên”. Các vị thiên nhìn
thấy một người có tín tâm và giới đức liền vui mừng và nói:
“Người ấy giống như chúng ta.” Đây là một hình ảnh vô cùng cảm
động. Chư thiên không ca ngợi sự giàu có, sắc đẹp hay quyền lực,
mà ca ngợi lòng tin và phẩm hạnh. Điều đó cho thấy trong cái
nhìn của bậc Thánh, giá trị chân thật của một con người không
nằm ở những gì họ sở hữu, mà nằm ở những gì họ đã chuyển hóa
trong tâm mình.
Toàn bộ các bài kinh là một lời nhắc nhở sâu sắc rằng: phước báu không
phải là điều bí mật nằm ở tương lai, mà là một dòng năng lượng
hiền thiện đang được tạo ra trong từng ý nghĩ, lời nói và hành
động của hiện tại. Người sống với tín tâm, giới đức, bố thí và
trí tuệ không chỉ đang tích lũy công đức cho đời sau, mà ngay
trong hiện tại đã bước đi trên con đường của chư thiên và đang
tiến dần đến con đường giải thoát.
------------------
Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu
[55] Chương XI
Tương Ưng Dự Lưu (a)
-ooOoo-
III. Phẩm Saranàni
29.IX. Sợ Hãi, hay Vị Tỷ-Kheo (S.v,389)
1) Nhân duyên ở Sàvatthi.
2) ... (như kinh trên 28, chỉ khác, đây là một số đông Tỷ-kheo
đến đức Phật và đức Phật thuyết cho các vị ấy) ...
30.X. Lichavi, hay Nandaka (S.v,389)
1) Một thời, Thế Tôn trú ở Vesàli, tại Ðại Lâm, chỗ ngôi nhà có
nóc nhọn.
2) Rồi đại thần người Licchavi tên là Nandaka đi đến Thế Tôn;
sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói
với Nandaka, vị đại thần người Licchavi đang ngồi một bên:
-- Này Nandaka, thành tựu bốn pháp, một vị Thánh đệ tử là bậc Dự
lưu... chứng quả giác ngộ. Thế nào là bốn?
3) Ở đây, này Nandaka, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tịnh tín
bất động đối với Phật: "Ðây là bậc Ứng Cúng... Phật, Thế Tôn"...
đối với Pháp... đối với chúng Tăng... Vị ấy thành tựu các giới
được các bậc Thánh... đưa đến Thiền định. Thành tựu bốn pháp
này, này Nandaka, vị Thánh đệ tử là bậc Dự lưu, không còn bị
thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ.
4) Thành tựu bốn pháp này, này Nadaka, vị Thánh đệ tử liên hệ
đến tuổi thọ chư Thiên và loài Người, liên hệ đến dung sắc, liên
hệ đến an lạc, liên hệ đến thanh danh, liên hệ đến lực tăng
thượng (adhipateyya) chư Thiên và loài Người.
5) Ðiểm này, này Nandaka, Ta biết chứ không phải nhờ nghe từ một
Sa-môn hay Bà-la-môn nào rồi Ta tuyên bố. Chính do tự Ta biết,
tự Ta thấy, tự Ta ý thức rồi Ta tuyên bố.
6) Khi được nghe nói vậy, một người thưa với Nandaka, vị đại
thần người Licchavi:
-- Thưa Ðại quan, nay đã đến giờ tắm.
-- Thôi, nay đã vừa rồi, này Bạn, đó chỉ là sự tắm rửa bề ngoài.
Tắm rửa bên trong này là vừa đủ cho ta, tức là lòng tịnh tín đối
với Thế Tôn.
31. I. Sung Mãn (1)
(S.v,391)
1) Nhân duyên ở Sàvatthi.
2) -- Này các Tỷ-kheo, có bốn phước đức sung mãn, thiện sung
mãn, món ăn cho lạc này. Thế nào là bốn?
3) Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tịnh
tín bất động đối với Phật: "Ðây là bậc Ứng Cúng...Phật, Thế
Tôn". Ðây là phước đức sung mãn, thiện sung mãn, món ăn cho lạc
thứ nhất.
4) Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tịnh
tín bất động đối với Pháp: "Pháp được Thế Tôn khéo thuyết... chỉ
người có trí tự mình giác hiểu". Ðây là phước đức sung mãn,
thiện sung mãn, món ăn cho lạc thứ hai.
5) Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tịnh
tín bất động đối với chúng Tăng: "Diệu hạnh là chúng đệ tử của
Thế Tôn... là phước điền vô thượng ở đời". Ðây là phước đức sung
mãn, thiện sung mãn, món ăn cho lạc thứ ba.
6) Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử thành tựu các giới
được các bậc Thánh ái kính... đưa đến Thiền định. Ðây là phước
đức sung mãn, thiện sung mãn, món ăn cho lạc thứ tư.
7) Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là bốn phước đức sung mãn,
thiện sung mãn, món ăn cho lạc.
32. II. Sung Mãn (2)
(S.v,391)
1-5) ... (giống như kinh trên, đoạn 1-5) ...
6) -- Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử trú ở gia đình,
với tâm thoát khỏi cấu uế của xan tham, bố thí dễ dàng, bàn tay
rộng mở, thích thú từ bỏ, đáp ứng điều yêu cầu, thích thú chia
xẻ vật bố thí. Ðây là phước đức sung mãn, thiện sung mãn, món ăn
cho lạc thứ tư.
7) Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là bốn phước đức sung mãn,
thiện sung mãn, món ăn cho lạc.
33. III. Sung Mãn (3)
(S.v,392)
2-5) ... (giống như kinh 31, đoạn 2-5) ...
6) -- Vị ấy có trí tuệ, thành tựu trí tuệ về sanh diệt (các
pháp), trí tuệ các bậc Thánh thể nhập (các pháp), đưa đến chơn
chánh đoạn tận khổ đau. Ðây là phước đức sung mãn, thiện sung
mãn, món ăn cho lạc thứ tư.
7) Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là bốn phước đức sung mãn,
thiện sung mãn, món ăn cho lạc.
34. IV. Con Ðường Của Chư Thiên (1)
(S.v,392)
1) Nhân duyên ở Sàvatthi.
2) -- Có bốn thiên đạo này của chư Thiên, này các Tỷ-kheo, khiến
chúng sanh chưa thanh tịnh được thanh tịnh, khiến chúng sanh
chưa thuần bạch được thuần bạch. Thế nào là bốn?
3) Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tịnh
tín đối với đức Phật... Ðây là thiên đạo thứ nhất của chư Thiên,
khiến chúng sanh chưa thanh tịnh được thanh tịnh, khiến chúng
sanh chưa thuần bạch được thuần bạch.
4-6) ... (như trên đối với Pháp, với chúng Tăng, với các giới)
... " Ðây là thiên đạo thứ tư của chư Thiên, khiến chúng... được
thuần bạch.
7) Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là bốn thiên đạo của chư
Thiên, khiến chúng sanh... được thuần bạch.
35. V. Con Ðường Của Chư Thiên (2)
(S.v,393)
1) ...
2) -- Có bốn thiên đạo của chư Thiên này, này các Tỷ-kheo, khiến
chúng sanh chưa thanh tịnh được thanh tịnh, khiến chúng sanh
chưa thuần bạch được thuần bạch. Thế nào là bốn?
3) Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tịnh
tín bất động với đức Phật: "Ðây là bậc Ứng Cúng, ... Phật, Thế
Tôn". Vị ấy suy tư như sau: "Thế nào là thiên đạo của chư Thiên?
Nói rằng không sân hận là tối thượng. Ta không làm hại một ai,
các chúng sanh di động hay các chúng sanh không di động. Thật
vậy, ta sống thành tựu pháp của thiên đạo". Ðây là thiên đạo thứ
nhất của chư Thiên khiến các loài chúng sanh... được thuần bạch.
4-5) Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng
tịnh tín bất động đối với Pháp... đối với chúng Tăng...
6) ... thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính... đưa đến
Thiền định. Vị ấy suy tư như sau: "Thế nào là thiên đạo của chư
Thiên?". Vị ấy rõ biết như sau: "Ta nghe các chư Thiên nói rằng
không sân hận là tối thượng. Ta không làm hại một ai, các chúng
sanh di động hay các chúng sanh không di động. Thật vậy, ta sống
thành tựu pháp của thiên đạo". Ðây là thiên đạo thứ tư của chư
Thiên, khiến các chúng sanh chưa thanh tịnh được thanh tịnh,
khiến các chúng sanh chưa thuần bạch được thuần bạch.
7) Các pháp này, này các Tỷ-kheo, là bốn thiên đạo của chư
Thiên, khiến chúng sanh... được thuần bạch.
36. VI. Ði Ðến Bạn Bè (S.v,394)
1) ...
2) -- Chư Thiên, này các Tỷ-kheo, hoan hỷ nói chuyện bạn bè với
ai thành tựu bốn pháp. Thế nào là bốn?
3) Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tịnh
tín bất động đối với đức Phật: "Ðây là bậc Ứng Cúng... Phật, Thế
Tôn". Chư Thiên nào thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với đức
Phật, sau khi mệnh chung ở chỗ này, được sanh ở đây. Chư Thiên
ấy suy nghĩ: "Như chúng ta thành tựu lòng tịnh tín bất động đối
với đức Phật, mệnh chung chỗ kia, được sanh chỗ này". Vị Thánh
đệ tử cũng thành tựu lòng tịnh tín bất động như vậy. Họ nói với
vị ấy: "Hãy đến đây, đến gần chư Thiên".
4-5) Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử... đối với Pháp...
đối với chúng Tăng...
6) Vị Thánh đệ tử thành tựu các giới được các bậc Thánh ái
kính... đưa đến Thiền định. Chư Thiên nào thành tựu các giới
được các bậc Thánh ái kính, sau khi mệnh chung ở chỗ này, được
tái sanh chỗ kia. Họ suy nghĩ như sau: "Chúng ta thành tựu các
giới được các bậc Thánh ái kính. Do vậy, chúng ta mệnh chung tại
chỗ kia, sanh tại chỗ này". Vị Thánh đệ tử cũng thành tựu các
giới được các bậc Thánh ái kính như vậy. Họ nói với vị ấy: "Hãy
đến đây, đến gần với chư Thiên". 7) Những ai thành tựu bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, chư Thiên hoan hỷ nói chuyện bạn bè với họ. |