BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Ba, ngày 09 tháng 06, 2026

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập V–Chương 55. Tương Ưng Dự Lưu- Phẩm Phước Lưu- SN 55. 38, 39, 40
BÀI 683. BA BÀI KINH VỀ ĐẶC TÍNH CỦA BẬC DỰ LƯU -

Kinh Mưa (Vassasuttaṃ), Kinh Kāḷigodhā (Kāḷigodhasuttaṃ), Kinh Nandiya (Nandiyasakkasuttaṃ).
 http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-683.jpg

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png Ba bài kinh được gom chung thành một bài vì tính đối lập của bài kinh thứ nhất và thứ ba.
  • Kinh Mưa đưa ra hành trình tất yếu “đã nhập lưu thì nhất định sẽ đạt đến viên giác.
  • Kinh Kāḷigodhā đưa ra tính tự nhiên của bậc dự lưu trong nếp sống t tại gia là thể hiện niềm tin bất động ở Phật Pháp Tăng và không bao giờ sống với sự keo kiết bỏn sẻn
  • Kinh Nandiya đưa ra khẳng định không bao giờ bậc thánh đệ tử mà không có 4 pháp dự lưu. Nếu có “dể duôi chểnh mảng” thì là sự thiếu tích cực tu tập tuệ quán (vipassana).

Ý nghĩa tương phản của Kinh Mưa và Kinh Nandiya cần sự chiêm nghiệm và tìm hiểu cẩn thận.

Kinh Văn

Kinh Mưa (Vassasuttaṃ) 

1034. “seyyathāpi, bhikkhave, uparipabbate thullaphusitake deve vassante taṃ udakaṃ yathāninnaṃ pavattamānaṃ pabbatakandarapadarasākhā paripūreti, pabbatakandarapadarasākhā paripūrā kusobbhe paripūrenti, kusobbhā paripūrā mahāsobbhe paripūrenti, mahāsobbhā paripūrā kunnadiyo paripūrenti, kunnadiyo paripūrā mahānadiyo paripūrenti, mahānadiyo paripūrā mahāsamuddaṃ {mahāsamuddasāgaraṃ (sabbattha) saṃ. ni. 4.70} paripūrenti; evameva kho, bhikkhave, ariyasāvakassa yo ca buddhe aveccappasādo, yo ca dhamme aveccappasādo, yo ca saṅghe aveccappasādo, yāni ca ariyakantāni sīlāni — ime dhammā sandamānā pāraṃ gantvā āsavānaṃ khayāya saṃvattantī”ti. aṭṭhamaṃ.

“Này các Tỳ khưu, ví như khi mưa đổ xuống từng giọt lớn trên đỉnh núi, nước chảy xuôi dọc theo sườn dốc và làm đầy các khe, hẻm núi và các con lạch; khi các khe, hẻm núi và con lạch được đầy, chúng làm đầy các hồ nhỏ; các hồ nhỏ được đầy sẽ làm đầy các hồ lớn; các hồ lớn được đầy sẽ làm đầy các dòng suối; các dòng suối được đầy sẽ làm đầy các con sông; và các con sông được đầy sẽ làm đầy đại dương; cũng vậy, này các Tỳ khưu, đối với một vị thánh đệ tử, những pháp này—lòng tin bất động vào Đức Phật, Pháp, Tăng, và các giới đức được các bậc Thánh ái mộ—chảy tràn tới, và sau khi vượt bờ, chúng dẫn đến sự đoạn tận các lậu hoặc.”

Kinh Kāḷigodhā (Kāḷigodhasuttaṃ)

1035. ekaṃ samayaṃ bhagavā sakkesu viharati kapilavatthusmiṃ nigrodhārāme. atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṃ nivāsetvā pattacīvaramādāya yena kāḷigodhāya sākiyāniyā nivesanaṃ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi. atha kho kāḷigodhā sākiyānī yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ nisīdi. ekamantaṃ nisinnaṃ kho kāḷigodhaṃ sākiyāniṃ bhagavā etadavoca — “catūhi kho, godhe, dhammehi samannāgatā ariyasāvikā sotāpannā hoti avinipātadhammā niyatā sambodhiparāyaṇā. katamehi catūhi? idha, godhe, ariyasāvikā buddhe aveccappasādena samannāgatā hoti — itipi so bhagavā ... pe ... satthā devamanussānaṃ buddho bhagavāti.
dhamme ... pe ... saṅghe ... pe ... vigatamalamaccherena cetasā agāraṃ ajjhāvasati muttacāgā payatapāṇinī {payatapāṇī (sabbattha) 3.30 moggallānasuttaṃ oloketabbaṃ} vossaggaratā yācayogā dānasaṃvibhāgaratā. imehi kho, godhe, catūhi dhammehi samannāgatā ariyasāvikā sotāpannā hoti avinipātadhammā niyatā sambodhiparāyaṇā”ti.
“yānimāni, bhante, bhagavatā cattāri sotāpattiyaṅgāni desitāni, saṃvijjante te dhammā mayi, ahañca tesu dhammesu sandissāmi. ahañhi, bhante, buddhe aveccappasādena samannāgatā — itipi so bhagavā ... pe ... satthā devamanussānaṃ buddho bhagavāti. dhamme ... pe ... saṅghe ... pe ... yaṃ kho pana kiñci kule deyyadhammaṃ sabbaṃ taṃ appaṭivibhattaṃ sīlavantehi kalyāṇadhammehī”ti. “lābhā te, godhe, suladdhaṃ te, godhe! sotāpattiphalaṃ tayā, godhe, byākatan”ti. navamaṃ.

Một thuở, Đức Thế Tôn ngự giữa các dòng họ Thích (Sakya) tại Kapilavatthu (Ca-tỳ-la-vệ), ở khu vườn Nigrodha (Ni-câu-luật). Rồi vào buổi sáng, Đức Thế Tôn đắp y, cầm bát và y chỉnh tề, đi đến trú xứ của nữ cư sĩ Kāḷigodhā người dòng họ Sakya, rồi ngồi trên chỗ ngồi đã soạn sẵn. Lúc bấy giờ, nữ cư sĩ Kāḷigodhā người dòng họ Sakya đi đến trước Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Đức Thế Tôn liền nói với bà:

“Này Godhā, một nữ thánh đệ tử thành tựu bốn pháp là bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa vào ác đạo, định sẵn cõi thiện, quyết định hướng đến giác ngộ viên mãn. Bốn pháp ấy là gì?

“Ở đây, này Godhā, một nữ thánh đệ tử thành tựu lòng tin bất động vào Đức Phật như sau: ‘Đức Thế Tôn là… bậc Thầy của chư thiên và loài người, là Phật Đà, là Thế Tôn.’ Bà thành tựu lòng tin bất động vào Pháp… vào Tăng.…  Trú ở gia đình với tâm không bị ô nhiễm bởi vết nhơ của xan tham, bố thí rộng rãi, bàn tay sẵn sàng hiến tặng, hoan hỷ trong việc từ bỏ, tận tụy với việc từ thiện, hoan hỷ trong việc cho đi và chia sẻ.

“Này Godhā, một nữ thánh đệ tử thành tựu bốn pháp này là bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa vào ác đạo, định sẵn cõi thiện, quyết định hướng đến giác ngộ viên mãn.”

“Bạch Thế Tôn, đối với bốn dự lưu chi này được Đức Thế Tôn thuyết giảng, những pháp ấy có mặt trong con, và con đang sống phù hợp với những pháp ấy. Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thành tựu lòng tin bất động vào Đức Phật, vào Pháp, và vào Tăng. Hơn nữa, bất cứ thứ gì trong gia đình con thích hợp cho việc bố thí, tất cả những thứ ấy con đều sẻ chia không hạn chế đến những bậc có giới hạnh và có thiện đức.”

“Thật là một lợi ích cho bà, này Godhā! Thật khéo đạt được cho bà, này Godhā! Bà đã tuyên bố quả vị Dự lưu.”

Kinh Nandiya (Nandiyasakkasuttaṃ)

1036. ekaṃ samayaṃ bhagavā sakkesu viharati kapilavatthusmiṃ nigrodhārāme. atha kho nandiyo sakko yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ nisīdi. ekamantaṃ nisinno kho nandiyo sakko bhagavantaṃ etadavoca — “yasseva nu kho, bhante, ariyasāvakassa cattāri sotāpattiyaṅgāni sabbena sabbaṃ sabbathā sabbaṃ natthi sveva nu kho, bhante, ariyasāvako pamādavihārī”ti.
“‘yassa kho, nandiya, cattāri sotāpattiyaṅgāni sabbena sabbaṃ sabbathā sabbaṃ natthi tamahaṃ bāhiro puthujjanapakkhe ṭhito’ti vadāmi. api ca, nandiya, yathā ariyasāvako pamādavihārī ceva hoti, appamādavihārī ca taṃ suṇāhi, sādhukaṃ manasi karohi; bhāsissāmī”ti. “evaṃ, bhante”ti kho nandiyo sakko bhagavato paccassosi. bhagavā etadavoca — “kathañca, nandiya, ariyasāvako pamādavihārī hoti? idha nandiya, ariyasāvako buddhe aveccappasādena samannāgato hoti — itipi so bhagavā ... pe ... satthā devamanussānaṃ buddho bhagavāti. so tena buddhe aveccappasādena santuṭṭho na uttari vāyamati divā pavivekāya, rattiṃ paṭisallānāya. tassa evaṃ pamattassa viharato pāmojjaṃ na hoti. pāmojje asati, pīti na hoti. pītiyā asati, passaddhi na hoti. passaddhiyā asati, dukkhaṃ viharati. dukkhino cittaṃ na samādhiyati. asamāhite citte dhammā na pātubhavanti. dhammānaṃ apātubhāvā pamādavihārī tveva saṅkhyaṃ gacchati.
“puna caparaṃ, nandiya, ariyasāvako dhamme ... pe ... saṅghe ... pe ... ariyakantehi sīlehi samannāgato hoti akhaṇḍehi ... pe ... samādhisaṃvattanikehi. so tehi ariyakantehi sīlehi santuṭṭho na uttari vāyamati divā pavivekāya rattiṃ paṭisallānāya. tassa evaṃ pamattassa viharato pāmojjaṃ na hoti. pāmojje asati, pīti na hoti. pītiyā asati, passaddhi na hoti. passaddhiyā asati, dukkhaṃ viharati. dukkhino cittaṃ na samādhiyati. asamāhite citte dhammā na pātubhavanti. dhammānaṃ apātubhāvā pamādavihārī tveva saṅkhyaṃ gacchati. evaṃ kho, nandiya, ariyasāvako pamādavihārī hoti.
“kathañca, nandiya, ariyasāvako appamādavihārī hoti? idha, nandiya, ariyasāvako buddhe aveccappasādena samannāgato hoti — itipi so bhagavā ... pe ... satthā devamanussānaṃ buddho bhagavāti. so tena buddhe aveccappasādena asantuṭṭho uttari vāyamati divā pavivekāya rattiṃ paṭisallānāya. tassa evaṃ appamattassa viharato pāmojjaṃ jāyati. pamuditassa pīti jāyati. pītimanassa kāyo passambhati. passaddhakāyo sukhaṃ vediyati. sukhino cittaṃ samādhiyati. samāhite citte dhammā pātubhavanti. dhammānaṃ pātubhāvā appamādavihārī tveva saṅkhyaṃ gacchati.
“puna caparaṃ, nandiya, ariyasāvako dhamme ... pe ... saṅghe ... pe ... ariyakantehi sīlehi samannāgato hoti akhaṇḍehi ... pe ... samādhisaṃvattanikehi. so tehi ariyakantehi sīlehi asantuṭṭho uttari vāyamati divā pavivekāya rattiṃ paṭisallānāya. tassa evaṃ appamattassa viharato pāmojjaṃ jāyati. pamuditassa pīti jāyati. pītimanassa kāyo passambhati. passaddhakāyo sukhaṃ vediyati. sukhino cittaṃ samādhiyati. samāhite citte dhammā pātubhavanti. dhammānaṃ pātubhāvā appamādavihārī tveva saṅkhyaṃ gacchati. evaṃ kho, nandiya, ariyasāvako appamādavihārī hotī”ti. dasamaṃ.

Một thời, Đức Thế Tôn trú giữa các dân chúng dòng họ Thích tại Kapilavatthu, ở khu vườn Nigrodha. Rồi nam cư sĩ Nandiya người dòng họ Sakya đi đến trước Thế Tôn, đảnh lễ Ngài, ngồi xuống một bên và bạch với Ngài:

“Bạch Thế Tôn, khi bốn dự lưu chi hoàn toàn và trọn vẹn không có mặt ở một vị thánh đệ tử, thì vị thánh đệ tử ấy có phải là người sống phóng dật không?”

“Này Nandiya, Ta nói rằng một người mà bốn dự lưu chi hoàn toàn và trọn vẹn không có mặt thì là ‘một kẻ ngoại lai, một kẻ đứng trong hàng ngũ của phàm phu.’ Nhưng, này Nandiya, về việc thế nào là một vị thánh đệ tử sống phóng dật và một vị sống tinh tấn, hãy lắng nghe và chú ý kỹ, Ta sẽ nói.”

“Bạch Thế Tôn, xin vâng,” Nandiya người dòng họ Sakya thưa giọng đáp lời. Đức Đức Thế Tôn liền thuyết như sau:

“Và như thế nào, này Nandiya, là một vị thánh đệ tử sống phóng dật? Ở đây, này Nandiya, một vị thánh đệ tử thành tựu lòng tin bất động vào Đức Phật như sau: ‘Đức Đức Thế Tôn là… bậc Thầy của chư thiên và loài người, là bậc Chánh Biến Tri, là Đức Thế Tôn.’ Tự mãn với lòng tin bất động vào Đức Phật ấy, vị ấy không nỗ lực thêm nữa để đạt đến độc cư ban ngày hay viễn ly ban đêm. Khi vị ấy sống phóng dật như vậy, sự hân hoan không khởi lên. Khi không có hân hoan, hỷ không khởi lên. Khi không có hỷ, thân tâm không được khinh an. Khi không có khinh an, vị ấy sống trong khổ. Tâm của một người đau khổ thì không thể định tĩnh. Khi tâm không định tĩnh, các pháp không trở nên hiển lộ. Vì các pháp không trở nên hiển lộ, vị ấy được xem là ‘một người sống phóng dật.’

“Lại nữa, này Nandiya, một vị thánh đệ tử thành tựu lòng tin bất động vào Pháp… vào Tăng.… Vị ấy thành tựu các giới đức được các bậc Thánh ái mộ, không bị phá vỡ… đưa đến định. Tự mãn với các giới đức được các bậc Thánh ái mộ ấy, vị ấy không nỗ lực thêm nữa để đạt đến độc cư ban ngày hay viễn ly ban đêm. Khi vị ấy sống phóng dật như vậy, sự hân hoan không khởi lên.… Vì các pháp không trở nên hiển lộ, vị ấy được xem là ‘một người sống phóng dật.’

“Chính theo cách này, này Nandiya, một vị thánh đệ tử là người sống phóng dật.

“Và như thế nào, này Nandiya, là một vị thánh đệ tử sống tinh tấn? Ở đây, này Nandiya, một vị thánh đệ tử thành tựu lòng tin bất động vào Đức Phật như sau: ‘Đức Đức Thế Tôn là… bậc Thầy của chư thiên và loài người, là bậc Chánh Biến Tri, là Đức Thế Tôn.’ Không tự mãn với lòng tin bất động vào Đức Phật ấy, vị ấy nỗ lực thêm nữa để đạt đến độc cư ban ngày và viễn ly ban đêm. Khi vị ấy sống tinh tấn như vậy, sự hân hoan được sinh khởi. Khi có hân hoan, hỷ được sinh khởi. Khi tâm được nâng cao bởi hỷ, thân được khinh an. Một người có thân khinh an thì cảm nhận được hạnh phúc. Tâm của một người hạnh phúc sẽ trở nên định tĩnh. Khi tâm định tĩnh, các pháp trở nên hiển lộ. Vì các pháp trở nên hiển lộ, vị ấy được xem là ‘một người sống tinh tấn.’

“Lại nữa, này Nandiya, một vị thánh đệ tử thành tựu lòng tin bất động vào Pháp… vào Tăng.… Vị ấy thành tựu các giới đức được các bậc Thánh ái mộ, không bị phá vỡ… đưa đến định. Không tự mãn với các giới đức được các bậc Thánh ái mộ ấy, vị ấy nỗ lực thêm nữa để đạt đến độc cư ban ngày và viễn ly ban đêm. Khi vị ấy sống tinh tấn như vậy, sự hân hoan được sinh khởi.… Vì các pháp trở nên hiển lộ, vị ấy được xem là ‘một người sống tinh tấn.’

“Chính theo cách này, này Nandiya, một vị thánh đệ tử là người sống tinh tấn.”

Chú Thích

KINH MƯA (Vassa Sutta) mang ý nghĩa ẩn dụ hệ thống: Đức Thế Tôn dùng quy luật thủy văn tự nhiên (mưa đỉnh núi, khe núi, lạch, hồ nhỏ, hồ lớn, sông, đại dương) để mô tả tính chất tích lũy tất yếu và có tuần tự của công phu tu tập. Đây là ý nghĩa của bậc tu đà huờn tại sao gọi là dự lưu (hay nhập lưu)

Bốn dự lưu chi (Sotāpattiyaṅga): Gồm Lòng tin bất động vào Phật, Pháp, Tăng và các Giới đức được bậc Thánh ái mộ. Khác với "niềm tin" cảm xúc thông thường, lòng tin ở đây là Acalasaddhā (Tín kiên cố) – loại đức tin đã được phối hợp với Tuệ giác sau khi đã tự mình chứng nghiệm thực tính pháp.

"Sau khi đáo bỉ ngạn" (Pāraṅgantvā)  Sớ giải chú thích giải thích: "Bờ bên kia" (Pāraṃ) chính là Niết-bàn (Nibbāna).

KINH KĀḶIGODHĀ (Kāḷigodhā Sutta)

Kāḷigodhā: Một nữ cư sĩ hoàng tộc thuộc dòng họ Thích (Sakya) tại kinh thành Ca-tỳ-la-vệ. Bà là người có căn cơ tu tập sâu dày, sống đời sống cư sĩ quyền quý nhưng tâm hoàn toàn hướng thượng.

Sự hoán đổi chi pháp đặc biệt: Trong kinh văn thông thường, Dự lưu chi thứ tư là "Thành tựu giới đức được các bậc Thánh ái mộ" (Ariyakantehi sīlehi samannāgato). Nhưng ở bài kinh này, Đức Thế Tôn đã hoán đổi chi pháp thứ tư bằng "Tâm không bị ô nhiễm bởi vết nhơ của bỏn xẻn, bố thí rộng rãi..." (Vigatamalamaccherena cetasā agāraṃ ajjhāvasati...). Một đặc điểm của bậc dự lưu, dù không nêu trong 4 chi phần dự lưu, là không bao giờ sống với tâm keo kiệt.

KINH NANDIYA (Nandiya Sutta)

Nandiya là một nam cư sĩ dòng họ Thích. Câu hỏi của ông chạm đến một thực trạng có bao giờ một thánh đệ tử không có bốn chi phần dự lưu. Đức Phật trả lời một cách khẳng định:. Một người hoàn toàn không có 4 pháp này thì không thể gọi là Thánh đệ tử; họ đứng ngoài giáo pháp, "Kẻ ngoại lai... thuộc hàng ngũ phàm phu" (Bāhiro puthujjhanapakkhe ṭhito),

Tuy vậy bậc dự lưu vẫn có thể có “sự dể duôi chểnh mảng” ở mức độ khác với phàm phu do “ Tự mãn với lòng tin bất động” vào Đức Phật ấy, vị ấy không nỗ lực thêm nữa để đạt đến độc cư ban ngày hay viễn ly ban đêm. Khi vị ấy sống phóng dật như vậy, sự hân hoan không khởi lên. Khi không có hân hoan, hỷ không khởi lên. Khi không có hỷ, thân tâm không được khinh an. Khi không có khinh an, vị ấy sống trong khổ. Tâm của một người đau khổ thì không thể định tĩnh. Khi tâm không định tĩnh, các pháp không trở nên hiển lộ. Vì các pháp không trở nên hiển lộ, vị ấy được xem là ‘một người sống phóng dật.’ Dù phóng dật thế nào thì “tối đa chỉ sanh lại cõi dục giới 7 lần”

"Độc cư ban ngày, viễn ly ban đêm" (Divā pavivekāya rattiṃ paṭisallānāya).  Sớ giải chú thích Sāratthappakāsinī nhấn mạnh chữ -atthāya (vì lợi ích/mục đích). Có nghĩa là mọi hành động rút lui vào nơi vắng vẻ của vị Thánh đệ tử không phải để ngủ nghỉ hay trốn tránh, mà là chủ động tìm kiếm môi trường tối ưu để nuôi dưỡng các trạng thái tâm cao thượng.

"Các pháp không hiển lộ" (Dhammā na pātubhavanti): Sớ giải chú thích: "Các pháp" ở đây chính là định (Samatha) và niệm (Vipassanā).

Sớ Giải

1034. aṭṭhame pāraṃgantvāti pāraṃ vuccati nibbānaṃ, taṃ patvāti attho. āsavānaṃ khayāya saṃvattantīti na paṭhamaṃ nibbānaṃ gantvā pacchā saṃvattanti, gacchamānā eva saṃvattanti. desanā pana evaṃ katā.

Trong kinh thứ tám [Kinh Mưa], cụm từ "pāraṅgantvā" (sau khi vượt bờ / đi đến bờ bên kia) có nghĩa là: "bờ bên kia" (pāraṃ) ở đây chỉ cho Niết-bàn, nghĩa là sau khi đã đạt đến Niết-bàn vậy. Cụm từ "āsavānaṃ khayāya saṃvattantī" (chúng dẫn đến sự đoạn tận các lậu hoặc) có nghĩa là: Không phải trước hết là đi đến Niết-bàn rồi sau đó mới dẫn đến sự đoạn tận các lậu hoặc; mà chính ngay khi đang đi đến (tiến trình vận hành của các pháp ấy) thì dẫn đến sự đoạn tận các lậu hoặc rồi. Tuy nhiên, cách thức thuyết giảng (desanā) thì được diễn đạt như vậy.

Không có bản Sớ giải riêng cho bài kinh Kāḷigodhā.

1036. dasame divā pavivekāya rattiṃ paṭisallānāyāti divā pavivekatthāya rattiṃ paṭisallānatthāya. dhammā na pātubhavantīti samathavipassanā dhammā na uppajjanti. sesaṃ sabbattha uttānamevāti.

Trong kinh thứ mười [Kinh Nandiya], cụm từ "divā pavivekāya rattiṃ paṭisallānāya" (đạt đến độc cư ban ngày, viễn ly ban đêm) có nghĩa là vì mục đích tìm cầu sự độc cư vào ban ngày, và vì mục đích tìm cầu sự viễn ly (tịch tịnh) vào ban đêm. Cụm từ "dhammā na pātubhavantī" (các pháp không trở nên hiển lộ) có nghĩa là các tịnh chỉ (Samatha) và tuệ quán (Vipassanā) không được sinh khởi. Những phần còn lại trong toàn bộ bài kinh đều đã hoàn toàn rõ ràng (hiển nhiên) rồi.

Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

------------------

Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

[55] Chương XI

Tương Ưng Dự Lưu (a)

-ooOoo-

IV. Phẩm Phước Lưu

38. VIII. Mưa (S.v,396)

1) ...

2) -- Ví như, này các Tỷ-kheo, khi trên đầu núi có cơn mưa to lớn, nước mưa ấy chảy theo hướng xuôi của nó, tràn đầy các hang núi, khe núi; sau khi tràn đầy các hang núi, khe núi, nó tràn đầy hồ nhỏ; sau khi tràn đầy hồ nhỏ, nó tràn đầy hồ lớn; sau khi tràn đầy hồ lớn, wwwnó tràn đầy sông nhỏ; sau khi tràn đầy sông nhỏ, nó tràn đây sông lớn; sau khi tràn đầy sông lớn, nó tràn đầy biển, đại dương.

3) Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, đối với vị Thánh đệ tử, lòng tịnh tín bất động đối với đức Phật, lòng tịnh tín bất động đối với Pháp, lòng tịnh tín bất động đối với chúng Tăng, và các giới được các bậc Thánh ái mộ; những pháp này trôi chảy đến bờ bên kia, đưa đến đoạn diệt các lậu hoặc.

39. IX. Kàli (S.v,398)

1) Lúc bấy giờ Đức Thế Tôn trú giữa dân chúng Sakka, tại Kapilavatthu, khu vườn Cây Bàng.

2) Rồi Thế Tôn, vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát, đi đến nhà của Thích nữ Kàligodhà; sau khi đến, ngồi trên chỗ đã soạn sẵn.

3) Rồi Thích nữ Kàligodhà đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Đức Thế Tôn nói với Thích nữ Kàligodhà đang ngồi một bên:

-- Thành tựu bốn pháp, này Godhà, vị nữ Thánh đệ tử là bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ. Thế nào là bốn?

4) Ở đây, này Godhà, vị nữ Thánh đệ tử thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với đức Phật: "Ðây là bậc Ứng Cúng, ... Phật, Thế Tôn"... đối với Pháp... đối với chúng Tăng... Vị này trú ở gia đình, tâm thoát khỏi cấu uế của xan tham, bố thí dễ dàng, bàn tay rộng mở, thích thú từ bỏ, đáp ứng điều yêu cầu, thích thú chia xẻ vật bố thí. Này Godhà, thành tựu bốn pháp này, một nữ Thánh đệ tử là bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ.

5) -- Bốn Dự lưu phần được Đức Thế Tôn thuyết giảng này, bạch Thế Tôn, chúng đều có trong con. Con thực hiện những pháp này. Bạch Thế Tôn, con thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với Phật, Như Lai... đối với Pháp... đối với chúng Tăng... Phàm những vật gì được đem bố thí trong gia đình, tất cả đều được phân phát cho những người có giới và những người làm thiện.

6) -- Lợi đắc thay cho Người, này Godhà! Thật khéo lợi đắc thay cho Người, này Godhà! Này Godhà, Người đã tuyên bố về Dự lưu quả.

40) X. Nandiyà (S.v,397)

1) Một thời, Đức Thế Tôn trú giữa dân chúng Sakka, tại Kapilavatthu, trong khu vườn Cây Bàng.

2) Rồi họ Thích Nandiyà đi đến Thế Tôn; sau khi đến... ngồi xuống một bên, họ Thích Nandiyà bạch Thế Tôn:

3) -- Với vị Thánh đệ tử nào, bạch Thế Tôn, toàn diện, toàn bộ không có bốn Dự lưu phần này; vị Thánh đệ tử ấy, bạch Thế Tôn, có thể được gọi là trú phóng dật không?

-- Này Nandiyà, với ai toàn diện, toàn bộ không có bốn Dự lưu phần này; người ấy, Ta tuyên bố là người đứng ngoài, trong hàng ngũ kẻ phàm phu.

4) Tuy vậy, này Nandiyà, Ta sẽ nói cho Ông như thế nào một Thánh đệ tử trú phóng dật và trú không phóng dật. Hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói.

-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Họ Thích Nandiyà vâng đáp Thế Tôn, Đức Thế Tôn nói như sau:

5) -- Này Nandiyà, thế nào là vị Thánh đệ tử trú phóng dật?

Ở đây, này Nandiyà, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với đức Phật: "Ðây là bậc Ứng Cúng... Phật, Thế Tôn". Vị ấy thỏa mãn với lòng tịnh tín bất động đối với Phật, không cố gắng thêm, ban ngày không sống viễn ly, ban đêm không sống Thiền tịnh. Do vị ấy sống phóng dật như vậy, nên không có hân hoan. Do không có hân hoan, nên không có hỷ. Do không có hỷ, nên không có khinh an. Do không khinh an, nên sống đau khổ. Do tâm đau khổ, nên không định tĩnh. Do tâm không định tĩnh, nên các pháp không hiện rõ. Do các pháp không hiện rõ, nên vị ấy được gọi là trú phóng dật. Lại nữa, này Nandiyà, vị Thánh đệ tử... đối với Pháp... đối với chúng Tăng... thành tựu các giới được các bậc Thánh ái mộ... đưa đến Thiền định. Vị này thỏa mãn với những giới được các bậc Thánh ái mộ, không cố gắng thêm, ban ngày không sống viễn ly, ban đêm không sống Thiền tịnh. Do vị ấy trú phóng dật như vậy nên không có hân hoan. Do không có hân hoan, nên không có hỷ. Do không có hỷ, nên không có khinh an. Do không có khinh an, nên sống đau khổ. Do tâm đau khổ, nên không định tĩnh. Do tâm không định tĩnh, nên các pháp không hiện rõ. Do các pháp không hiện rõ, nên vị ấy được gọi là trú phóng dật.

6) Này Nandiyà, thế nào là vị Thánh đệ tử trú không phóng dật?

Ở đây, này Nandiyà, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với đức Phật: "Ðây là bậc Ứng Cúng,... Phật, Thế Tôn". Vị này không thỏa mãn với lòng tịnh tín bất động ấy, cố gắng hơn nữa, ban ngày sống viễn ly, ban đêm sống Thiền tịnh. Do vị ấy sống không phóng dật, nên hân hoan khởi. Do vị ấy hân hoan, nên hỷ sanh. Do ý có hỷ, nên thân khinh an. Do thân khinh an, nên vị ấy cảm thọ lạc. Do tâm được lạc, nên vị ấy định tĩnh. Do tâm định tĩnh, các pháp được hiện ra. Do các pháp được hiện ra, vị ấy được gọi là trú không phóng dật. Lại nữa, này Nandiyà, vị Thánh đệ tử đối với Pháp... đối với chúng Tăng... vị ấy thành tựu các giới được các bậc Thánh ái mộ... đưa đến Thiền định. Vị ấy không thỏa mãn với các giới được các bậc Thánh ái mộ, cố gắng tinh tấn hơn nữa, ban ngày sống viễn ly, ban đêm sống Thiền tịnh. Do vị ấy sống không phóng dật như vậy, hân hoan sanh. Vị ấy có hân hoan, nên hỷ sanh. Do ý có hỷ, nên thân kinh an. Do thân khinh an, nên vị ấy cảm thọ lạc. Do tâm được lạc, nên vị ấy định tĩnh. Do tâm định tĩnh, các pháp được hiện ra. Do các pháp được hiện ra, vị ấy được gọi là trú không phóng dật. Như vậy, này Nandiyà, là vị Thánh đệ tử trú không phóng dật.