|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Ba, ngày 09 tháng 06, 2026
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
BÀI 683. BA BÀI KINH VỀ ĐẶC TÍNH CỦA BẬC DỰ LƯU - Kinh Mưa (Vassasuttaṃ), Kinh Kāḷigodhā (Kāḷigodhasuttaṃ), Kinh Nandiya (Nandiyasakkasuttaṃ). ![]()
Ba bài kinh được gom chung thành một bài vì tính đối lập của bài kinh thứ
nhất và thứ ba.
Ý nghĩa tương phản của Kinh Mưa và Kinh Nandiya cần sự chiêm nghiệm và tìm
hiểu cẩn thận.
Kinh Văn
Kinh Mưa
(Vassasuttaṃ)
1034. “seyyathāpi, bhikkhave,
uparipabbate thullaphusitake deve vassante taṃ udakaṃ
yathāninnaṃ pavattamānaṃ pabbatakandarapadarasākhā paripūreti,
pabbatakandarapadarasākhā paripūrā kusobbhe paripūrenti,
kusobbhā paripūrā mahāsobbhe paripūrenti, mahāsobbhā paripūrā
kunnadiyo paripūrenti, kunnadiyo paripūrā mahānadiyo
paripūrenti, mahānadiyo paripūrā mahāsamuddaṃ
{mahāsamuddasāgaraṃ (sabbattha) saṃ. ni. 4.70} paripūrenti;
evameva kho, bhikkhave, ariyasāvakassa yo ca buddhe
aveccappasādo, yo ca dhamme aveccappasādo, yo ca saṅghe
aveccappasādo, yāni ca ariyakantāni sīlāni — ime dhammā
sandamānā pāraṃ gantvā āsavānaṃ khayāya saṃvattantī”ti.
aṭṭhamaṃ.
“Này các Tỳ khưu, ví như khi mưa đổ xuống từng giọt lớn trên đỉnh núi,
nước chảy xuôi dọc theo sườn dốc và làm đầy các khe, hẻm núi và
các con lạch; khi các khe, hẻm núi và con lạch được đầy, chúng
làm đầy các hồ nhỏ; các hồ nhỏ được đầy sẽ làm đầy các hồ lớn;
các hồ lớn được đầy sẽ làm đầy các dòng suối; các dòng suối được
đầy sẽ làm đầy các con sông; và các con sông được đầy sẽ làm đầy
đại dương; cũng vậy, này các Tỳ khưu, đối với một vị thánh đệ
tử, những pháp này—lòng tin bất động vào Đức Phật, Pháp, Tăng,
và các giới đức được các bậc Thánh ái mộ—chảy tràn tới, và sau
khi vượt bờ, chúng dẫn đến sự đoạn tận các lậu hoặc.”
Kinh Kāḷigodhā
(Kāḷigodhasuttaṃ)
1035. ekaṃ samayaṃ bhagavā sakkesu
viharati kapilavatthusmiṃ nigrodhārāme. atha kho bhagavā
pubbaṇhasamayaṃ nivāsetvā pattacīvaramādāya yena kāḷigodhāya
sākiyāniyā nivesanaṃ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane
nisīdi. atha kho kāḷigodhā sākiyānī yena bhagavā tenupasaṅkami;
upasaṅkamitvā bhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ nisīdi.
ekamantaṃ nisinnaṃ kho kāḷigodhaṃ sākiyāniṃ bhagavā etadavoca —
“catūhi kho, godhe, dhammehi samannāgatā ariyasāvikā sotāpannā
hoti avinipātadhammā niyatā sambodhiparāyaṇā. katamehi catūhi?
idha, godhe, ariyasāvikā buddhe aveccappasādena samannāgatā hoti
— itipi so bhagavā ... pe ... satthā devamanussānaṃ buddho
bhagavāti.
Một thuở, Đức Thế Tôn ngự giữa các dòng họ Thích (Sakya) tại Kapilavatthu
(Ca-tỳ-la-vệ), ở khu vườn Nigrodha (Ni-câu-luật). Rồi vào buổi
sáng, Đức Thế Tôn đắp y, cầm bát và y chỉnh tề, đi đến trú xứ
của nữ cư sĩ Kāḷigodhā người dòng họ Sakya, rồi ngồi trên chỗ
ngồi đã soạn sẵn. Lúc bấy giờ, nữ cư sĩ Kāḷigodhā người dòng họ
Sakya đi đến trước Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên.
Đức Thế Tôn liền nói với bà:
“Này Godhā, một nữ thánh đệ tử thành tựu bốn pháp là bậc Dự lưu, không còn
bị thối đọa vào ác đạo, định sẵn cõi thiện, quyết định hướng đến
giác ngộ viên mãn. Bốn pháp ấy là gì?
“Ở đây, này Godhā, một nữ thánh đệ tử thành tựu lòng tin bất động vào Đức
Phật như sau: ‘Đức Thế Tôn là… bậc Thầy của chư thiên và loài
người, là Phật Đà, là Thế Tôn.’ Bà thành tựu lòng tin bất động
vào Pháp… vào Tăng.…
Trú ở gia đình với tâm không bị ô nhiễm bởi vết nhơ của xan
tham, bố thí rộng rãi, bàn tay sẵn sàng hiến tặng, hoan hỷ trong
việc từ bỏ, tận tụy với việc từ thiện, hoan hỷ trong việc cho đi
và chia sẻ.
“Này Godhā, một nữ thánh đệ tử thành tựu bốn pháp này là bậc Dự lưu, không
còn bị thối đọa vào ác đạo, định sẵn cõi thiện, quyết định hướng
đến giác ngộ viên mãn.”
“Bạch Thế Tôn, đối với bốn dự lưu chi này được Đức Thế Tôn thuyết giảng,
những pháp ấy có mặt trong con, và con đang sống phù hợp với
những pháp ấy. Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thành tựu lòng tin bất
động vào Đức Phật, vào Pháp, và vào Tăng. Hơn nữa, bất cứ thứ gì
trong gia đình con thích hợp cho việc bố thí, tất cả những thứ
ấy con đều sẻ chia không hạn chế đến những bậc có giới hạnh và
có thiện đức.”
“Thật là một lợi ích cho bà, này Godhā! Thật khéo đạt được cho bà, này
Godhā! Bà đã tuyên bố quả vị Dự lưu.”
Kinh Nandiya
(Nandiyasakkasuttaṃ)
1036. ekaṃ samayaṃ bhagavā sakkesu
viharati kapilavatthusmiṃ nigrodhārāme. atha kho nandiyo sakko
yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṃ
abhivādetvā ekamantaṃ nisīdi. ekamantaṃ nisinno kho nandiyo
sakko bhagavantaṃ etadavoca — “yasseva nu kho, bhante,
ariyasāvakassa cattāri sotāpattiyaṅgāni sabbena sabbaṃ sabbathā
sabbaṃ natthi sveva nu kho, bhante, ariyasāvako pamādavihārī”ti.
Một thời, Đức Thế Tôn trú giữa các dân chúng dòng họ Thích tại
Kapilavatthu, ở khu vườn Nigrodha. Rồi nam cư sĩ Nandiya người
dòng họ Sakya đi đến trước Thế Tôn, đảnh lễ Ngài, ngồi xuống một
bên và bạch với Ngài:
“Bạch Thế Tôn, khi bốn dự lưu chi hoàn toàn và trọn vẹn không có mặt ở một
vị thánh đệ tử, thì vị thánh đệ tử ấy có phải là người sống
phóng dật không?”
“Này Nandiya, Ta nói rằng một người mà bốn dự lưu chi hoàn toàn và trọn
vẹn không có mặt thì là ‘một kẻ ngoại lai, một kẻ đứng trong
hàng ngũ của phàm phu.’ Nhưng, này Nandiya, về việc thế nào là
một vị thánh đệ tử sống phóng dật và một vị sống tinh tấn, hãy
lắng nghe và chú ý kỹ, Ta sẽ nói.”
“Bạch Thế Tôn, xin vâng,” Nandiya người dòng họ Sakya thưa giọng đáp lời.
Đức Đức Thế Tôn liền thuyết như sau:
“Và như thế nào, này Nandiya, là một vị thánh đệ tử sống phóng dật? Ở đây,
này Nandiya, một vị thánh đệ tử thành tựu lòng tin bất động vào
Đức Phật như sau: ‘Đức Đức Thế Tôn là… bậc Thầy của chư thiên và
loài người, là bậc Chánh Biến Tri, là Đức Thế Tôn.’ Tự mãn với
lòng tin bất động vào Đức Phật ấy, vị ấy không nỗ lực thêm nữa
để đạt đến độc cư ban ngày hay viễn ly ban đêm. Khi vị ấy sống
phóng dật như vậy, sự hân hoan không khởi lên. Khi không có hân
hoan, hỷ không khởi lên. Khi không có hỷ, thân tâm không được
khinh an. Khi không có khinh an, vị ấy sống trong khổ. Tâm của
một người đau khổ thì không thể định tĩnh. Khi tâm không định
tĩnh, các pháp không trở nên hiển lộ. Vì các pháp không trở nên
hiển lộ, vị ấy được xem là ‘một người sống phóng dật.’
“Lại nữa, này Nandiya, một vị thánh đệ tử thành tựu lòng tin bất động vào
Pháp… vào Tăng.… Vị ấy thành tựu các giới đức được các bậc Thánh
ái mộ, không bị phá vỡ… đưa đến định. Tự mãn với các giới đức
được các bậc Thánh ái mộ ấy, vị ấy không nỗ lực thêm nữa để đạt
đến độc cư ban ngày hay viễn ly ban đêm. Khi vị ấy sống phóng
dật như vậy, sự hân hoan không khởi lên.… Vì các pháp không trở
nên hiển lộ, vị ấy được xem là ‘một người sống phóng dật.’
“Chính theo cách này, này Nandiya, một vị thánh đệ tử là người sống phóng
dật.
“Và như thế nào, này Nandiya, là một vị thánh đệ tử sống tinh tấn? Ở đây,
này Nandiya, một vị thánh đệ tử thành tựu lòng tin bất động vào
Đức Phật như sau: ‘Đức Đức Thế Tôn là… bậc Thầy của chư thiên và
loài người, là bậc Chánh Biến Tri, là Đức Thế Tôn.’ Không tự mãn
với lòng tin bất động vào Đức Phật ấy, vị ấy nỗ lực thêm nữa để
đạt đến độc cư ban ngày và viễn ly ban đêm. Khi vị ấy sống tinh
tấn như vậy, sự hân hoan được sinh khởi. Khi có hân hoan, hỷ
được sinh khởi. Khi tâm được nâng cao bởi hỷ, thân được khinh
an. Một người có thân khinh an thì cảm nhận được hạnh phúc. Tâm
của một người hạnh phúc sẽ trở nên định tĩnh. Khi tâm định tĩnh,
các pháp trở nên hiển lộ. Vì các pháp trở nên hiển lộ, vị ấy
được xem là ‘một người sống tinh tấn.’
“Lại nữa, này Nandiya, một vị thánh đệ tử thành tựu lòng tin bất động vào
Pháp… vào Tăng.… Vị ấy thành tựu các giới đức được các bậc Thánh
ái mộ, không bị phá vỡ… đưa đến định. Không tự mãn với các giới
đức được các bậc Thánh ái mộ ấy, vị ấy nỗ lực thêm nữa để đạt
đến độc cư ban ngày và viễn ly ban đêm. Khi vị ấy sống tinh tấn
như vậy, sự hân hoan được sinh khởi.… Vì các pháp trở nên hiển
lộ, vị ấy được xem là ‘một người sống tinh tấn.’
“Chính theo cách này, này Nandiya, một vị thánh đệ tử là người sống tinh
tấn.”
Chú Thích
KINH MƯA (Vassa Sutta) mang ý nghĩa ẩn dụ hệ thống:
Đức Thế Tôn dùng quy luật thủy văn tự nhiên (mưa đỉnh núi, khe
núi, lạch, hồ nhỏ, hồ lớn, sông, đại dương) để mô tả tính chất
tích lũy tất yếu và có tuần tự
của công phu tu tập. Đây là ý nghĩa của bậc tu đà huờn tại sao
gọi là dự lưu (hay nhập lưu)
Bốn dự lưu chi (Sotāpattiyaṅga): Gồm Lòng tin bất động vào Phật, Pháp,
Tăng và các Giới đức được bậc Thánh ái mộ. Khác với "niềm tin"
cảm xúc thông thường, lòng tin ở đây là Acalasaddhā (Tín kiên
cố) – loại đức tin đã được phối hợp với Tuệ giác sau khi đã tự
mình chứng nghiệm thực tính pháp.
"Sau khi đáo bỉ ngạn" (Pāraṅgantvā) Sớ giải chú thích giải thích:
"Bờ bên kia" (Pāraṃ) chính là Niết-bàn (Nibbāna).
KINH KĀḶIGODHĀ
(Kāḷigodhā Sutta)
Kāḷigodhā: Một nữ cư
sĩ hoàng tộc thuộc dòng họ Thích (Sakya) tại kinh thành
Ca-tỳ-la-vệ. Bà là người có căn cơ tu tập sâu dày, sống đời sống
cư sĩ quyền quý nhưng tâm hoàn toàn hướng thượng.
Sự hoán đổi chi pháp đặc biệt: Trong kinh văn thông thường, Dự lưu
chi thứ tư là "Thành tựu giới đức được các bậc Thánh ái mộ"
(Ariyakantehi sīlehi samannāgato). Nhưng ở bài kinh này, Đức Thế
Tôn đã hoán đổi chi pháp thứ tư bằng
"Tâm không bị ô nhiễm bởi vết nhơ của bỏn xẻn, bố thí rộng
rãi..." (Vigatamalamaccherena cetasā agāraṃ
ajjhāvasati...). Một đặc điểm của bậc dự lưu, dù không nêu trong
4 chi phần dự lưu, là không bao giờ sống với tâm keo kiệt.
KINH NANDIYA
(Nandiya Sutta)
Nandiya
là một nam cư sĩ dòng họ Thích. Câu hỏi của ông chạm đến một thực trạng có
bao giờ một thánh đệ tử không có bốn chi phần dự lưu. Đức Phật
trả lời một cách khẳng định:. Một người hoàn toàn không có 4
pháp này thì không thể gọi là Thánh đệ tử; họ đứng ngoài giáo
pháp, "Kẻ ngoại lai... thuộc hàng
ngũ phàm phu" (Bāhiro puthujjhanapakkhe ṭhito),
Tuy vậy bậc dự lưu vẫn có thể có “sự dể duôi chểnh mảng” ở mức độ khác với phàm phu do “
Tự mãn với lòng tin bất động”
vào Đức Phật ấy, vị ấy không nỗ lực thêm nữa để đạt đến độc cư
ban ngày hay viễn ly ban đêm. Khi vị ấy sống phóng dật như vậy,
sự hân hoan không khởi lên. Khi không có hân hoan, hỷ không khởi
lên. Khi không có hỷ, thân tâm không được khinh an. Khi không có
khinh an, vị ấy sống trong khổ. Tâm của một người đau khổ thì
không thể định tĩnh. Khi tâm không định tĩnh, các pháp không trở
nên hiển lộ. Vì các pháp không trở nên hiển lộ, vị ấy được xem
là ‘một người sống phóng dật.’ Dù phóng dật thế nào thì “tối đa
chỉ sanh lại cõi dục giới 7 lần”
"Độc cư ban ngày, viễn ly ban đêm" (Divā pavivekāya rattiṃ
paṭisallānāya).
Sớ giải chú thích Sāratthappakāsinī
nhấn mạnh chữ -atthāya (vì lợi ích/mục đích). Có nghĩa là mọi
hành động rút lui vào nơi vắng vẻ của vị Thánh đệ tử không phải
để ngủ nghỉ hay trốn tránh, mà là chủ động tìm kiếm môi trường
tối ưu để nuôi dưỡng các trạng thái tâm cao thượng.
"Các pháp không hiển lộ" (Dhammā na pātubhavanti): Sớ giải chú thích: "Các pháp" ở đây
chính là định (Samatha) và niệm
(Vipassanā).
Sớ Giải
1034. aṭṭhame pāraṃgantvāti pāraṃ
vuccati nibbānaṃ, taṃ patvāti attho. āsavānaṃ khayāya
saṃvattantīti na paṭhamaṃ nibbānaṃ gantvā pacchā saṃvattanti,
gacchamānā eva saṃvattanti. desanā pana evaṃ katā.
Trong kinh thứ tám [Kinh Mưa], cụm từ
"pāraṅgantvā"
(sau khi vượt bờ / đi đến bờ bên kia) có nghĩa là: "bờ bên
kia" (pāraṃ) ở đây chỉ cho Niết-bàn, nghĩa là sau khi đã
đạt đến Niết-bàn vậy. Cụm từ
"āsavānaṃ khayāya
saṃvattantī" (chúng dẫn đến sự đoạn
tận các lậu hoặc) có nghĩa là: Không phải trước hết là đi đến
Niết-bàn rồi sau đó mới dẫn đến sự đoạn tận các lậu hoặc; mà
chính ngay khi đang đi đến (tiến trình vận hành của các pháp ấy)
thì dẫn đến sự đoạn tận các lậu hoặc rồi. Tuy nhiên, cách thức
thuyết giảng (desanā) thì được diễn đạt như vậy.
Không có bản Sớ giải riêng cho bài kinh
Kāḷigodhā.
1036. dasame divā pavivekāya
rattiṃ paṭisallānāyāti divā pavivekatthāya rattiṃ
paṭisallānatthāya. dhammā na pātubhavantīti samathavipassanā
dhammā na uppajjanti. sesaṃ sabbattha uttānamevāti.
Trong kinh thứ mười [Kinh Nandiya], cụm từ
"divā pavivekāya rattiṃ
paṭisallānāya" (đạt đến độc cư ban ngày, viễn ly ban đêm)
có nghĩa là vì mục đích tìm cầu sự độc cư vào ban ngày, và vì
mục đích tìm cầu sự viễn ly (tịch tịnh) vào ban đêm. Cụm từ
"dhammā na pātubhavantī" (các
pháp không trở nên hiển lộ) có nghĩa là các tịnh chỉ (Samatha)
và tuệ quán (Vipassanā) không được sinh khởi. Những phần còn lại
trong toàn bộ bài kinh đều đã hoàn toàn rõ ràng (hiển nhiên)
rồi.
------------------
Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu
[55] Chương XI
Tương Ưng Dự Lưu (a)
-ooOoo- IV. Phẩm Phước Lưu
38. VIII. Mưa (S.v,396)
1) ...
2) -- Ví như, này các Tỷ-kheo, khi trên đầu núi có cơn mưa to
lớn, nước mưa ấy chảy theo hướng xuôi của nó, tràn đầy các hang
núi, khe núi; sau khi tràn đầy các hang núi, khe núi, nó tràn
đầy hồ nhỏ; sau khi tràn đầy hồ nhỏ, nó tràn đầy hồ lớn; sau khi
tràn đầy hồ lớn, wwwnó tràn đầy sông nhỏ; sau khi tràn đầy sông
nhỏ, nó tràn đây sông lớn; sau khi tràn đầy sông lớn, nó tràn
đầy biển, đại dương.
3) Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, đối với vị Thánh đệ tử, lòng tịnh
tín bất động đối với đức Phật, lòng tịnh tín bất động đối với
Pháp, lòng tịnh tín bất động đối với chúng Tăng, và các giới
được các bậc Thánh ái mộ; những pháp này trôi chảy đến bờ bên
kia, đưa đến đoạn diệt các lậu hoặc.
39. IX. Kàli (S.v,398)
1) Lúc bấy giờ Đức Thế Tôn trú giữa dân chúng Sakka, tại
Kapilavatthu, khu vườn Cây Bàng.
2) Rồi Thế Tôn, vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát, đi đến nhà của
Thích nữ Kàligodhà; sau khi đến, ngồi trên chỗ đã soạn sẵn.
3) Rồi Thích nữ Kàligodhà đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ
Đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Đức Thế Tôn nói với Thích nữ
Kàligodhà đang ngồi một bên:
-- Thành tựu bốn pháp, này Godhà, vị nữ Thánh đệ tử là bậc Dự
lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ. Thế
nào là bốn?
4) Ở đây, này Godhà, vị nữ Thánh đệ tử thành tựu lòng tịnh tín
bất động đối với đức Phật: "Ðây là bậc Ứng Cúng, ... Phật, Thế
Tôn"... đối với Pháp... đối với chúng Tăng... Vị này trú ở gia
đình, tâm thoát khỏi cấu uế của xan tham, bố thí dễ dàng, bàn
tay rộng mở, thích thú từ bỏ, đáp ứng điều yêu cầu, thích thú
chia xẻ vật bố thí. Này Godhà, thành tựu bốn pháp này, một nữ
Thánh đệ tử là bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc
chứng quả giác ngộ.
5) -- Bốn Dự lưu phần được Đức Thế Tôn thuyết giảng này, bạch
Thế Tôn, chúng đều có trong con. Con thực hiện những pháp này.
Bạch Thế Tôn, con thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với Phật,
Như Lai... đối với Pháp... đối với chúng Tăng... Phàm những vật
gì được đem bố thí trong gia đình, tất cả đều được phân phát cho
những người có giới và những người làm thiện.
6) -- Lợi đắc thay cho Người, này Godhà! Thật khéo lợi đắc thay
cho Người, này Godhà! Này Godhà, Người đã tuyên bố về Dự lưu
quả.
40) X. Nandiyà (S.v,397)
1) Một thời, Đức Thế Tôn trú giữa dân chúng Sakka, tại
Kapilavatthu, trong khu vườn Cây Bàng.
2) Rồi họ Thích Nandiyà đi đến Thế Tôn; sau khi đến... ngồi
xuống một bên, họ Thích Nandiyà bạch Thế Tôn:
3) -- Với vị Thánh đệ tử nào, bạch Thế Tôn, toàn diện, toàn bộ
không có bốn Dự lưu phần này; vị Thánh đệ tử ấy, bạch Thế Tôn,
có thể được gọi là trú phóng dật không?
-- Này Nandiyà, với ai toàn diện, toàn bộ không có bốn Dự lưu
phần này; người ấy, Ta tuyên bố là người đứng ngoài, trong hàng
ngũ kẻ phàm phu.
4) Tuy vậy, này Nandiyà, Ta sẽ nói cho Ông như thế nào một Thánh
đệ tử trú phóng dật và trú không phóng dật. Hãy nghe và khéo tác
ý, Ta sẽ nói.
-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Họ Thích Nandiyà vâng đáp Thế Tôn, Đức Thế Tôn nói như sau:
5) -- Này Nandiyà, thế nào là vị Thánh đệ tử trú phóng dật?
Ở đây, này Nandiyà, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tịnh tín bất
động đối với đức Phật: "Ðây là bậc Ứng Cúng... Phật, Thế Tôn".
Vị ấy thỏa mãn với lòng tịnh tín bất động đối với Phật, không cố
gắng thêm, ban ngày không sống viễn ly, ban đêm không sống Thiền
tịnh. Do vị ấy sống phóng dật như vậy, nên không có hân hoan. Do
không có hân hoan, nên không có hỷ. Do không có hỷ, nên không có
khinh an. Do không khinh an, nên sống đau khổ. Do tâm đau khổ,
nên không định tĩnh. Do tâm không định tĩnh, nên các pháp không
hiện rõ. Do các pháp không hiện rõ, nên vị ấy được gọi là trú
phóng dật. Lại nữa, này Nandiyà, vị Thánh đệ tử... đối với
Pháp... đối với chúng Tăng... thành tựu các giới được các bậc
Thánh ái mộ... đưa đến Thiền định. Vị này thỏa mãn với những
giới được các bậc Thánh ái mộ, không cố gắng thêm, ban ngày
không sống viễn ly, ban đêm không sống Thiền tịnh. Do vị ấy trú
phóng dật như vậy nên không có hân hoan. Do không có hân hoan,
nên không có hỷ. Do không có hỷ, nên không có khinh an. Do không
có khinh an, nên sống đau khổ. Do tâm đau khổ, nên không định
tĩnh. Do tâm không định tĩnh, nên các pháp không hiện rõ. Do các
pháp không hiện rõ, nên vị ấy được gọi là trú phóng dật.
6) Này Nandiyà, thế nào là vị Thánh đệ tử trú không phóng dật?
Ở đây, này Nandiyà, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tịnh tín bất
động đối với đức Phật: "Ðây là bậc Ứng Cúng,... Phật, Thế Tôn".
Vị này không thỏa mãn với lòng tịnh tín bất động ấy, cố gắng hơn
nữa, ban ngày sống viễn ly, ban đêm sống Thiền tịnh. Do vị ấy
sống không phóng dật, nên hân hoan khởi. Do vị ấy hân hoan, nên
hỷ sanh. Do ý có hỷ, nên thân khinh an. Do thân khinh an, nên vị
ấy cảm thọ lạc. Do tâm được lạc, nên vị ấy định tĩnh. Do tâm
định tĩnh, các pháp được hiện ra. Do các pháp được hiện ra, vị
ấy được gọi là trú không phóng dật. Lại nữa, này Nandiyà, vị
Thánh đệ tử đối với Pháp... đối với chúng Tăng... vị ấy thành
tựu các giới được các bậc Thánh ái mộ... đưa đến Thiền định. Vị
ấy không thỏa mãn với các giới được các bậc Thánh ái mộ, cố gắng
tinh tấn hơn nữa, ban ngày sống viễn ly, ban đêm sống Thiền
tịnh. Do vị ấy sống không phóng dật như vậy, hân hoan sanh. Vị
ấy có hân hoan, nên hỷ sanh. Do ý có hỷ, nên thân kinh an. Do
thân khinh an, nên vị ấy cảm thọ lạc. Do tâm được lạc, nên vị ấy
định tĩnh. Do tâm định tĩnh, các pháp được hiện ra. Do các pháp
được hiện ra, vị ấy được gọi là trú không phóng dật. Như vậy,
này Nandiyà, là vị Thánh đệ tử trú không phóng dật.
|