BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Tư, ngày 10 tháng 06, 2026

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập V–Chương 55. Tương Ưng Dự Lưu- Phẩm Các Dòng Chảy Với Kệ Ngôn- SN 55. 41, 42, 43.
BÀI 684. BA BÀI KINH VỀ ĐẶC TÍNH CỦA BẬC DỰ LƯU -

Kinh Dòng Chảy I (paṭhamābhisandasuttaṃ), Kinh Dòng Chảy II (Dutiyābhisandasuttaṃ), Kinh Dòng Chảy III (Tatiyābhisandasuttaṃ).
 http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-684.jpg

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png Phước đức sung mãn từ niềm tin bất động ờ Tam Bảo không như những hạt cát rời rạc được tích góp để biến thành một thứ "tài sản" mà là Đại hải (Mahāsamudda) và Sự hợp lưu (Saṃsandanti) — một thực tại tự vận hành, tuôn trào liên tục và tự định hình viễn cảnh giải thoát tối hậu. Đó là dòng chảy liên tục không có kẽ hở (nirantarā) của Tín, Giới, và Xả thí. Khi các thiện pháp này không còn vận hành riêng rẽ mà đóng trục, hòa làm một thể (ekībhavanti) trong tâm thức bậc Dự lưu, chúng tạo ra một xung lực thiện pháp khổng lồ, cuốn phăng các tùy miên phiền não và bảo hộ hành giả xuyên qua giông bão sinh tử. Phước báu cuòng dẫn đến Tuệ quán thấu rõ sanh diệt. Sớ giải làm rõ rằng dòng chảy phước đức tối thượng chính là an trú trong tuệ giác đến Cốt tủy của Chánh pháp (dhammasāra) — tức là các tầng Thánh Quả. Khi một hành giả chạm đến cái lõi thực chứng này, nếm trải hương vị  Bất Tử (amata) và "hoan hỷ trong sự đoạn diệt phiền não", vị ấy chính thức thiết lập một tâm thế vô úy, tự tại trước Thần chết. Phước đức chân thực không phải là tấm vé thông hành an nhàn thế gian, mà là một dòng hải lưu năng lượng không ngừng tịnh hóa, đưa hành giả lao thẳng vào đại dương tịch tịnh giải thoát tuyệt đối là Niết-bàn.

Kinh Văn

Kinh Dòng Chảy I (paṭhamābhisandasuttaṃ) 

1037. “cattārome, bhikkhave, puññābhisandā, kusalābhisandā, sukhassāhārā. katame cattāro? idha, bhikkhave, ariyasāvako buddhe aveccappasādena samannāgato hoti — itipi so bhagavā ... pe ... satthā devamanussānaṃ buddho bhagavāti. ayaṃ paṭhamo puññābhisando, kusalābhisando, sukhassāhāro.
“puna caparaṃ, bhikkhave, ariyasāvako dhamme ... pe ... saṅghe ... pe ....
“puna caparaṃ, bhikkhave, ariyasāvako ariyakantehi sīlehi samannāgato hoti akhaṇḍehi ... pe ... samādhisaṃvattanikehi. ayaṃ catuttho puññābhisando, kusalābhisando, sukhassāhāro. ime kho, bhikkhave, cattāro puññābhisandā, kusalābhisandā, sukhassāhārā.
“imehi kho, bhikkhave, catūhi puññābhisandehi kusalābhisandehi samannāgatassa ariyasāvakassa na sukaraṃ puññassa pamāṇaṃ gaṇetuṃ — ‘ettako puññābhisando, kusalābhisando, sukhassāhāro’ti. atha kho asaṅkhyeyyo appameyyo mahāpuññakkhandho tveva saṅkhyaṃ gacchati.
“seyyathāpi, bhikkhave, mahāsamudde na sukaraṃ udakassa pamāṇaṃ gaṇetuṃ — ‘ettakāni udakāḷhakānī’ti vā ‘ettakāni udakāḷhakasatānī’ti vā ‘ettakāni udakāḷhakasahassānī’ti vā ‘ettakāni udakāḷhakasatasahassānī’ti vāti. atha kho asaṅkhyeyyo appameyyo mahāudakakkhandho tveva saṅkhyaṃ gacchati. evameva kho, bhikkhave, imehi catūhi puññābhisandehi kusalābhisandehi samannāgatassa ariyasāvakassa na sukaraṃ puññassa pamāṇaṃ gaṇetuṃ — ‘ettako puññābhisando, kusalābhisando, sukhassāhāro’ti. atha kho asaṅkhyeyyo appameyyo mahāpuññakkhandho tveva saṅkhyaṃ gacchatī”ti.
idamavoca bhagavā. idaṃ vatvāna sugato athāparaṃ etadavoca satthā —
“mahodadhiṃ aparimitaṃ mahāsaraṃ,
bahubheravaṃ ratanagaṇānamālayaṃ.
najjo yathā naragaṇasaṅghasevitā,
puthū savantī upayanti sāgaraṃ.
“evaṃ naraṃ annapānavatthadadaṃ,
seyyāni paccattharaṇassa {sajjattharaṇassa (sī. syā. kaṃ. pī.)} dāyakaṃ.
puññassa dhārā upayanti paṇḍitaṃ,
najjo yathā vārivahāva sāgaran”ti. paṭhamaṃ.

“Này các Tỳ khưu, khi một vị thánh đệ tử thành tựu bốn dòng chảy phước đức, dòng chảy thiện pháp này, thật không dễ gì để đo lường phước đức của vị ấy rằng: ‘Chừng ấy là dòng chảy phước đức, dòng chảy thiện pháp, là dưỡng chất của hạnh phúc’; trái lại, nó được xem là một khối phước đức lớn, không thể cân đo, đong đếm.

Này các Tỳ khưu, ví như thật không dễ gì để đo lường lượng nước trong đại dương rằng: ‘Có chừng ấy số lượng nước,’ hay ‘Có chừng ấy trăm số lượng nước,’ hay ‘Có chừng ấy ngàn số lượng nước,’ hay ‘Có chừng ấy trăm ngàn số lượng nước,’ mà trái lại, nó được xem là một khối nước lớn, không thể tính đếm, không thể đo lường; cũng vậy, này các Tỳ khưu, khi một vị thánh đệ tử thành tựu bốn dòng chảy phước đức này… nó được xem là một khối phước đức lớn, không thể tính đếm, không thể đo lường.”

Đó là những gì Đức Thế Tôn đã thuyết. Sau khi thuyết điều này, Đức Thiện Thệ, bậc Đạo Sư, đã dạy thêm các kệ ngôn này:

Như sông lớn muôn trùng
Mà con người hưởng chung
Chảy xuôi dòng cuồn cuộn
Về biển cả khôn cùng.

Biển mênh mông đáng sợ,
Chứa đựng nhiều báu vật
Cũng vậy, dòng phước đức,
Ở bậc thiện tri thức
Người sẵn lòng hiến tặng,
Vật thực và y phục.
Giường nằm và chỗ ngồi,
Như trăm sông ngàn suối,
Mang nước đổ về khơi,
Dòng phước của người trí,
Sung mãn khắp bao đời.

Kinh Dòng Chảy II (Dutiyābhisandasuttaṃ) 

1038. “cattārome, bhikkhave, puññābhisandā, kusalābhisandā, sukhassāhārā. katame cattāro? idha, bhikkhave, ariyasāvako buddhe aveccappasādena samannāgato hoti — itipi so bhagavā ... pe ... satthā devamanussānaṃ buddho bhagavāti. ayaṃ paṭhamo puññābhisando kusalābhisando sukhassāhāro. “puna caparaṃ, bhikkhave, ariyasāvako dhamme ... pe ... saṅghe ... pe ....
“puna caparaṃ, bhikkhave, ariyasāvako vigatamalamaccherena cetasā agāraṃ ajjhāvasati muttacāgo payatapāṇi vossaggarato yācayogo dānasaṃvibhāgarato. ayaṃ catuttho puññābhisando kusalābhisando sukhassāhāro. ime kho, bhikkhave, cattāro puññābhisandā, kusalābhisandā, sukhassāhārā.
“imehi kho, bhikkhave, catūhi puññābhisandehi kusalābhisandehi samannāgatassa ariyasāvakassa na sukaraṃ puññassa pamāṇaṃ gaṇetuṃ — ‘ettako puññābhisando, kusalābhisando, sukhassāhāro’ti. atha kho asaṅkhyeyyo appameyyo mahāpuññakkhandho tveva saṅkhyaṃ gacchati.
“seyyathāpi, bhikkhave, yatthimā mahānadiyo saṃsandanti samenti, seyyathidaṃ — gaṅgā, yamunā, aciravatī, sarabhū, mahī, tattha na sukaraṃ udakassa pamāṇaṃ gaṇetuṃ — ‘ettakāni udakāḷhakānī’ti vā ‘ettakāni udakāḷhakasatānī’ti vā ‘ettakāni udakāḷhakasahassānī’ti vā ‘ettakāni udakāḷhakasatasahassānī’ti vāti. atha kho asaṅkhyeyyo appameyyo mahāudakakkhandho tveva saṅkhyaṃ gacchati. evameva kho, bhikkhave, imehi catūhi puññābhisandehi kusalābhisandehi samannāgatassa ariyasāvakassa na sukaraṃ puññassa pamāṇaṃ gaṇetuṃ — ‘ettako puññābhisando, kusalābhisando, sukhassāhāro’ti. atha kho asaṅkhyeyyo appameyyo mahāpuññakkhandho tveva saṅkhyaṃ gacchatī”ti. idamavoca bhagavā ... pe ... satthā —
“mahodadhiṃ aparimitaṃ mahāsaraṃ,
bahubheravaṃ ratanagaṇānamālayaṃ.
najjo yathā naragaṇasaṅghasevitā,
puthū savantī upayanti sāgaraṃ.
“evaṃ naraṃ annapānavatthadadaṃ,
seyyāni paccattharaṇassa dāyakaṃ.
puññassa dhārā upayanti paṇḍitaṃ,
najjo yathā vārivahāva sāgaran”ti. dutiyaṃ.

“Này các Tỳ khưu, có bốn dòng chảy phước đức này.… Bốn pháp ấy là gì?

Ở đây, này các Tỳ khưu, một vị thánh đệ tử thành tựu lòng tin bất động vào Đức Phật… vào Pháp… vào Tăng.…

Lại nữa, này các Tỳ khưu, một vị thánh đệ tử trú ở gia đình với tâm không bị ô nhiễm bởi vết nhơ của bỏn xẻn, bố thí rộng rãi, bàn tay sẵn sàng hiến tặng, hoan hỷ trong việc từ bỏ, tận tụy với việc từ thiện, hoan hỷ trong việc cho đi và sẻ chia.

Đây là bốn dòng chảy phước đức.…

Này các Tỳ khưu, khi một vị thánh đệ tử thành tựu bốn dòng chảy phước đức, dòng chảy thiện pháp này, thật không dễ gì để đo lường phước đức của vị ấy rằng: ‘Chừng ấy là dòng chảy phước đức, dòng chảy thiện pháp, là dưỡng chất của hạnh phúc’; trái lại, nó được xem là một khối phước đức lớn, không thể tính đếm, không thể đo lường.

Này các Tỳ khưu, ví như tại nơi các con sông lớn này gặp nhau và hội tụ—chính là sông Hằng (Gaṅgā), sông Yamunā, sông Aciravatī, sông Sarabhū, và sông Mahī—thật không dễ gì để đo lường lượng nước ở nơi đó rằng: ‘Có chừng ấy gallon nước’… mà trái lại, nó được xem là một khối nước lớn, không thể tính đếm, không thể đo lường; cũng vậy, này các Tỳ khưu, khi một vị thánh đệ tử thành tựu bốn dòng chảy phước đức này… nó được xem là một khối phước đức lớn, không thể tính đếm, không thể đo lường.”

Đó là những gì Đức Thế Tôn đã thuyết. Sau khi thuyết điều này, Đức Thiện Thệ, bậc Đạo Sư, đã dạy thêm các kệ ngôn này:

Như sông lớn muôn trùng
Mà con người hưởng chung
Chảy xuôi dòng cuồn cuộn
Về biển cả khôn cùng.

Biển mênh mông đáng sợ,
Chứa đựng nhiều báu vật
Cũng vậy, dòng phước đức,
Ở bậc thiện tri thức
Người sẵn lòng hiến tặng,
Vật thực và y phục.
Giường nằm và chỗ ngồi,
Như trăm sông ngàn suối,
Mang nước đổ về khơi,
Dòng phước của người trí,
Sung mãn khắp bao đời.

Kinh Dòng Chảy III (Tatiyābhisandasuttaṃ) 

1039. “cattārome, bhikkhave, puññābhisandā, kusalābhisandā, sukhassāhārā. katame cattāro? idha, bhikkhave, ariyasāvako buddhe aveccappasādena samannāgato hoti — itipi so bhagavā ... pe ... satthā devamanussānaṃ buddho bhagavāti. ayaṃ paṭhamo puññābhisando, kusalābhisando, sukhassāhāro.
“puna caparaṃ, bhikkhave, ariyasāvako dhamme ... pe ... saṅghe ... pe .... “puna caparaṃ, bhikkhave, ariyasāvako paññavā hoti udayatthagāminiyā paññāya samannāgato ariyāya nibbedhikāya sammā dukkhakkhayagāminiyā. ayaṃ catuttho puññābhisando kusalābhisando sukhassāhāro. ime kho, bhikkhave, cattāro puññābhisandā kusalābhisandā sukhassāhārā.
“imehi kho, bhikkhave, catūhi puññābhisandehi kusalābhisandehi samannāgatassa ariyasāvakassa na sukaraṃ puññassa pamāṇaṃ gaṇetuṃ — ‘ettako puññābhisando, kusalābhisando, sukhassāhāro’ti. atha kho asaṅkhyeyyo appameyyo mahāpuññakkhandho tveva saṅkhyaṃ gacchatī”ti. idamavoca bhagavā ... pe ... satthā —
“yo puññakāmo kusale patiṭṭhito,
bhāveti maggaṃ amatassa pattiyā.
so dhammasārādhigamo khaye rato,
na vedhati maccurājāgamanasmin”ti {maccurājāgamissatīti (sī. pī.), maccujarākampisminti (ka.)} . tatiyaṃ.

“Này các Tỳ khưu, có bốn dòng chảy phước đức này.… Bốn pháp ấy là gì?

Ở đây, này các Tỳ khưu, một vị thánh đng đệ tử thành tựu lòng tin bất động vào Đức Phật… vào Pháp… vào Tăng.…

Lại nữa, này các Tỳ khưu, một vị thánh đệ tử là bậc có trí tuệ, vị ấy thành tựu trí tuệ hướng đến sự sanh diệt, [402] thù thắng và xuyên thấu, đưa đến sự đoạn tận hoàn toàn khổ đau. Đây là dòng chảy phước đức thứ tư.…

Đây là bốn dòng chảy phước đức.…

Này các Tỳ khưu, khi một vị thánh đệ tử thành tựu bốn dòng chảy phước đức, dòng chảy thiện pháp này, thật không dễ gì để đo lường phước đức của vị ấy rằng: ‘Chừng ấy là dòng chảy phước đức, dòng chảy thiện pháp, là dưỡng chất của hạnh phúc’; trái lại, nó được xem là một khối phước đức lớn, không thể tính đếm, không thể đo lường.”

Đó là những gì Đức Thế Tôn đã thuyết. Sau khi thuyết điều này, Đức Thiện Thệ, bậc Đạo Sư, đã dạy thêm các kệ ngôn này:

Người mong cầu phước đức,
An trú trong tâm lành,
Huận tu đạo giải thoát,
Đạt cối lõi chân pháp.

Hoan hỷ pháp tịch tịnh
Tâm không còn khiếp sợ
Khi nghĩ đến Thần chết,

Chú Thích

Khái niệm về sự "Vô lượng" (Asaṅkhyeyyo) trong bài kinh văn được Sớ giải làm rõ nghĩa: Đại dương được gọi là "vô lượng" không phải vì nó hoàn toàn vô biên vô tận theo nghĩa trừu tượng, mà vì nó vượt quá khả năng đo lường bằng các công cụ đong đếm thủ công của con người thời bấy giờ, như đơn vị āḷhaka (một đơn vị đo lường dung tích cổ của Ấn Độ, dùng để đong gạo hoặc nước). Nếu dùng đơn vị lớn mang tính vũ trụ luận như do tuần (yojana) để đo chiều rộng, chiều sâu, thì trên phương diện toán học, đại dương vẫn có một con số cụ thể (yojanavasena panassa saṅkhyā atthi). Ý nghĩa ẩn dụ ở đây: Phước đức của bậc Thánh đệ tử thành tựu 4 pháp Dự lưu cũng vậy. Đứng từ góc độ của phàm phu, khối phước thiện và dưỡng chất hạnh phúc ấy là khổng lồ, không thể đong đếm bằng các tiêu chuẩn đổi chác phước báu thông thường.

1.Tính chất "Đáng khiếp sợ" (Bahubheravaṃ) của biển cả theo Sớ giải hai nhóm đối tượng (ārammaṇa):

    • Saviññāṇaka (Hữu tình / có thức tính): Biển khơi là nơi ẩn náu của các loài thủy quái khổng lồ, cá mập, ác long... có khả năng đe dọa mạng sống của người đi biển.
    • Aviññāṇaka (Vô tình / không thức tính): Biển khơi chứa đựng những hiểm họa thiên nhiên như vực sâu thăm thẳm, dòng hải lưu xiết, sóng thần và bão tố.

Ý nghĩa ẩn dụ hàm ý đại dương sinh tử (Saṃsāra) chứa đựng đầy hiểm họa và sự sợ hãi hãi hùng, nhưng các dòng chảy phước đức (puññadhārā) của bậc hiền trí sẽ gom tụ, giúp vị ấy hiên ngang vượt qua đại dương ấy một cách an toàn mà không bị nhấn chìm.

Kinh văn nhắc đến nơi hội tụ của những con sông lớn: sông Hằng (Gaṅgā), Yamunā, Aciravatī, Sarabhū, và Mahī. Sớ giải dùng từ saṃbhajje (điểm hợp lưu, ngã ba/ngã năm sông) và cụm từ ekībhavanti (trở thành một thể duy nhất) để mô tả khoảnh khắc những dòng thuỷ lưu khổng lồ này quyện vào nhau.

2.Sự "Liên tục không gián đoạn" (Nirantarā bhavanti) được hiểu:

  • Khi các con sông riêng lẻ chảy biệt lập, lượng nước của chúng có thể vơi đầy tùy mùa. Nhưng tại điểm hợp lưu (saṃbhajje), dòng chảy trở nên nirantarā — tức là liên tục, dồn dập, không một kẽ hở và tạo nên một áp lực nước khổng lồ không thể ngăn cản, tiến thẳng ra đại dương.
  • Mối liên hệ với Tâm lý học siêu thế: Bốn dòng chảy phước đức (Tín vào Phật, Pháp, Tăng và nếp sống Vô tham xả ly) của một vị Thánh đệ tử cũng vận hành theo cơ chế hợp lưu này. Khi bốn tâm sở thiện lành này vận hành riêng rẽ, chúng là những dòng chảy nhỏ. Nhưng khi chúng hợp làm một thể (ekībhavanti) trong tâm thức của một bậc Dự lưu, chúng tạo ra một xung lực thiện pháp liên tục, kiên cố không gián đoạn (nirantarā), áp đảo hoàn toàn các tùy miên phiền não và đẩy toàn bộ dòng chảy tâm thức ấy xuôi dòng về hướng biển lớn Niết-bàn.

"Thiện pháp" và "Phước đức" theo nghĩa Siêu thế được chú thích: Thông thường, người bình dân hiểu "thiện pháp" là làm lành, lánh dữ, bố thí để gieo phước sinh cõi trời. Nhưng ở đây, ngài Chú giải sư khẳng định: "Kusale" (thiện pháp) ở đây chính là Maggacitta (Tâm Đạo tức tuệ giác thánh đạo) – trạng thái tâm thức cực kỳ mạnh mẽ xuất hiện trong sát-na chứng ngộ của các bậc Thánh. "Phát triển con đường để đạt đến cõi Bất Tử" chính là hành trình tu tập Tứ Thánh Đạo mà đỉnh cao là Arahattamagga (A la hán Đạo). Đây là dòng chảy phước đức tối thượng siêu thế.

"Cốt tủy của Chánh pháp" (Dhammasāra) chỉ cho tinh yếu của giáo Phật. Mặc dù giáo pháp có nhiều giai tầng nhưng Sớ giải tuyên bố: Cốt tủy đích thực của Giáo pháp chính là Ariyaphala (Thánh Quả).Một hành giả chỉ được coi là chạm vào lõi cây/cốt tủy của đạo khi họ tự mình chứng thực các tầng quả vị (từ Dự lưu Quả đến Alahán Quả). Nếu chưa đạt được Thánh Quả, hành giả vẫn mới chỉ chạm vào lớp vỏ ngoài của cây Chánh pháp.

3. "Hoan hỷ trong sự đoạn diệt các lậu hoặc" (Khaye rato) và Tâm thế vô úy trước Thần chết hàm nghĩa Kilesakkhaya là sự đoạn diệt hoàn toàn 10 phiền não kiết sử. Khi tâm không còn bóng dáng của tham, sân, si, vị ấy đạt đến trạng thái tự tại tuyệt đối. Bài kệ trong kinh kết luận vị ấy "Sẽ không hề run sợ khi nghĩ rằng: Chúa tể Thần chết rồi sẽ đến". . Đối với một bậc Thánh đã an trú vào cảnh giới Bất Tử (Niết-bàn) và chạm đến cốt tủy của pháp, Thần chết (Maccurāja) hoàn toàn mất đi hiệu lực định đoạt. Vị ấy nhìn cái chết như một sự tịch tịnh tự nhiên, không một chút dao động hay sợ hãi.

Kinh thứ nhất dùng ẩn dụ đại dương asaṅkhyeyya (không thể đếm) để khẳng định: bốn dòng công đức – tín Tam Bảo kiên cố và tâm rộng rãi không keo kiệt – không thể đo lường bằng bất kỳ đơn vị nào. Chúng giống như muôn sông đổ về biển cả “bahubherava” (vô cùng hùng vĩ và kinh sợ), vừa chứa đựng vô số châu báu giải thoát, vừa là chỗ quy y tối hậu của bậc Hiền trí.

Kinh thứ hai nâng ẩn dụ lên một bậc: không chỉ mưa từ đỉnh núi, mà là nơi hợp lưu của năm con sông lớn (Hằng, Yamunā…). Khi tín, giới, bố thí hòa quyện, chúng không còn là những dòng riêng lẻ mà trở thành một khối nước liên tục, không gián đoạn (nirantarā). Đây là hình ảnh đẹp về sự thống nhất trong tâm Thánh đệ tử.

Đến Kinh thứ ba, Đức Phật chỉ ra dòng công đức tối thượng: tuệ giác thấu rõ sinh diệt (udayabbaya-ñāṇa), dẫn đến đoạn tận khổ. Bài kệ kết thúc là một tuyên ngôn giải thoát vang vọng: “Người mong cầu công đức, an trú trong thiện pháp, Tu tập con đường để chứng đắc Bất Tử… Hoan hỷ trong sự diệt tận trói buộc, Không run sợ khi Thần Chết đến.”

Sớ Giải

1037. pañcamassa paṭhame asaṅkhyeyyoti āḷhakagaṇanāya asaṅkhyeyyo, yojanavasena panassa saṅkhyā atthi. bahubheravanti saviññāṇakāviññāṇakānaṃ bheravārammaṇānaṃ vasena bahubheravaṃ. puthūti bahu. savantīti sandamānā. upayantīti upagacchanti.

Trong kinh đầu tiên của chương thứ năm [Kinh Các Dòng Chảy 1], cụm từ "asaṅkhyeyyo" (không thể tính đếm / vô lượng) có nghĩa là không thể tính đếm bằng các đơn vị đo lường thông thường (như đơn vị āḷhaka); tuy nhiên, nếu xét theo đơn vị do tuần (yojana) thì nó vẫn có một số lượng giới hạn nào đó. Cụm từ "bahubheravaṃ" (đáng khiếp sợ / chứa đựng nhiều điều kinh hãi) có nghĩa là đáng khiếp sợ vì nó là trú xứ của các đối tượng gây ra sự sợ hãi, bao gồm cả loài có thức tính (như thủy quái, cá lớn) và loài không có thức tính (như sóng thần, bão tố). Từ "puthū" có nghĩa là nhiều (muôn trùng / số lượng lớn). Từ "savantī" có nghĩa là đang chảy (chảy xuôi dòng). Từ "upayantī" có nghĩa là đi đến (hội tụ về / hướng về).

1038. dutiye yatthimā mahānadiyo saṃsandanti samentīti yasmiṃ saṃbhajje etā mahānadiyo ekībhavanti, nirantarā bhavantīti attho. Trong kinh thứ hai [Kinh Các Dòng Chảy 2], cụm từ "yatthimā mahānadiyo saṃsandanti samentī" (tại nơi các con sông lớn này gặp nhau và hội tụ) có nghĩa là: tại điểm ngã ba sông/nơi giao thoa (saṃbhajje) mà các con sông lớn này hòa làm một (ekībhavanti) và tuôn chảy liên tục không có khoảng cách (nirantarā bhavanti). Đó là ý nghĩa của cụm từ trên.

1039. tatiye puññakāmoti puññatthiko. kusale patiṭṭhitoti maggakusale patiṭṭhito. bhāveti maggaṃ amatassa pattiyāti nibbānassa pāpuṇanatthaṃ arahattamaggaṃ bhāveti. dhammasārādhigamoti dhammasāro vuccati ariyaphalaṃ dhammasāro, adhigamo assāti dhammasārādhigamo, adhigataphaloti attho. khaye ratoti kilesakkhaye rato.

Trong kinh thứ ba [Kinh Các Dòng Chảy 3], từ "puññakāmo" (người mong cầu phước đức) có nghĩa là người tìm cầu lợi ích từ phước đức. Cụm từ "kusale patiṭṭhito" (an trú trong thiện pháp) có nghĩa là an trú vững chắc trong Thiện Đạo tâm (Maggakusala - Tâm Thiện thuộc Bốn tầng Thánh Đạo). Cụm từ "bhāveti maggaṃ amatassa pattiyā" (phát triển con đường để đạt đến cõi Bất Tử) có nghĩa là tu tập/phát triển Thánh Đạo Tối Thượng (Arahattamagga - Đạo quả A-la-hán) vì mục đích chứng đắc Niết-bàn. Cụm từ "dhammasārādhigamo" (người đã chạm đến cốt tủy của Chánh pháp): "Cốt tủy của Chánh pháp" (Dhammasāro) ở đây được gọi là các Thánh Quả (Ariyaphala); người có được sự chứng đắc ấy gọi là Dhammasārādhigamo, nghĩa là bậc đã chứng đắc các Thánh Quả vậy. Cụm từ "khaye rato" (hoan hỷ trong sự đoạn diệt) có nghĩa là hoan hỷ, vui thích trong việc đoạn diệt hoàn toàn các phiền não (Kilesakkhaya).

Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

------------------

Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

[55] Chương XI

Tương Ưng Dự Lưu (a)

-ooOoo-

V. Phẩm Phước Ðức Sung Mãn Với Kệ

41. I. Sung Mãn (1) (S.v,399)

1) ...

2) -- Này các Tỷ-kheo, có bốn phước đức sung mãn, thiện sung mãn, món ăn cho lạc này. Thế nào là bốn?

3) Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với Phật: "Ðây là bậc Ứng Cúng... Phật, Thế Tôn". Ðây là phước đức sung mãn, thiện sung mãn, món ăn cho lạc thứ nhất. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với Pháp... đối với Tăng... thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính... đưa đến Thiền định. Ðây là phước đức sung mãn, thiện sung mãn, món ăn cho lạc thứ tư. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là bốn phước đức sung mãn, thiện sung mãn, món ăn cho lạc.

4) Với vị Thánh đệ tử thành tựu bốn phước đức sung mãn, thiện sung mãn, món ăn cho lạc này, này các Tỷ-kheo, thật không dễ đếm được vô lượng phước đức: "Số lượng như thế này là phước đức sung mãn, thiện sung mãn, món ăn cho lạc". Chúng chỉ có thể gọi được là vô số, vô lượng, đại uẩn phước đức.

5) Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, thật không dễ đếm được số lượng nước trong biển lớn là có bao nhiêu thùng, hay có bao nhiêu trăm thùng, hay có bao nhiêu trăm ngàn thùng. Chúng chỉ có thể gọi được là vô số, vô lượng nước lớn tụ tập. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử thành tựu bốn phước đức sung mãn, thiện sung mãn, món ăn cho lạc này, thật không dễ gì đếm được số lượng phước đức: "Số lượng như thế này là phước đức sung mãn, thiện sung mãn, món ăn cho lạc". Chúng chỉ có thể gọi được là vô số, vô lượng, đại uẩn phước đức.

6) Thế Tôn nói như vầy:

Là đại dương, đại hải,
Nước mênh mông rộng lớn,
Ðầy rẫy những hãi hùng,
Chứa vô lượng trân châu,
Phục vụ trăm ngàn người,
Các con sông lớn, nhỏ,
Chúng tuôn chảy ồ ạt,
Chúng đổ về bể khơi.
Cũng vậy là những người,
Thí đồ ăn, uống, vải,
Bố thí giường, chỗ ngồi,
Mền, nệm, các đồ nằm,
Vô lượng nguồn phước đức,
Từ kẻ trí tuôn chảy,
Như sông hồ đầy nước,
Chảy tuôn ra bể cả.

42. II. Sung Mãn (2) (S.v,401)

1) ...

2) -- Này các Tỷ-kheo, có bốn phước đức sung mãn, thiện sung mãn, món ăn cho lạc này. Thế nào là bốn?

3) Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với đức Phật... đối với Pháp... đối với chúng Tăng... trú ở gia đình, với tâm thoát khỏi cấu uế của xan tham, bố thí dễ dàng, bàn tay rộng mở, thích thú từ bỏ, đáp ứng điều yêu cầu, thích thú chia xẻ vật bố thí. Ðây là phước đức sung mãn, thiện sung mãn, món ăn cho lạc thứ tư. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là bốn phước đức sung mãn, thiện sung mãn, món ăn cho lạc.

4) ... (như đoạn số 4, kinh trên) ...

5) Ví như, tại chỗ mà các con sông lớn này gặp nhau, nhập vào một dòng với nhau, ví như sông Hằng, sông Yamunà, sông Aciravati, sông Sarabhuu, sông Mahi, thật không dễ gì đếm được số lượng nước tại chỗ ấy là có bao nhiêu thùng, bao nhiêu trăm thùng, bao nhiêu trăm ngàn thùng. Chúng chỉ có thể gọi được là vô số, vô lượng nước lớn tụ tập... đại uẩn phước đức.

6) Thế Tôn nói như vầy:

... (giống như hai bài kệ kinh trên) ...

43. III. Sung Mãn (3) (S.v,401)

1) ...

2) ... (như đoạn số 2, kinh trên) ...

3) ... (đoạn đầu giống kinh trên về đối với Phật, Pháp, Tăng... ) có trí tuệ, thành tựu trí tuệ về sanh diệt (các pháp), trí tuệ các bậc Thánh thể nhập (các pháp), đưa đến chơn chánh đoạn tận khổ đau. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là bốn phước đức sung mãn, thiện sung mãn, món ăn cho lạc.

4) ... (như đoạn số 4, kinh trước) ...

5) Thế Tôn thuyết như vầy:

Ai ước muốn phước đức,
Vững trú trên điều thiện,
Tu tập theo con đường,
Ðưa đến đạt bất tử,
Chứng được lõi của pháp,
Thích thú đoạn lậu hoặc,
Vị ấy không run sợ,
Khi nghĩ đến thần chết.