|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Năm, ngày 11 tháng 06, 2026
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
BÀI 685. MỘT SỐ KINH VỀ GIÁ TRỊ VÀ NHÂN TỐ ĐƯA ĐẾN QUẢ DỰ LƯU - Kinh Giàu Có I (Paṭhamamahaddhanasuttaṃ), Kinh Giàu Có II (dutiyamahaddhanasuttaṃ), Kinh Phiên Bản Tóm Lược (Suddhakasuttaṃ), Kinh Nandiya (Nandiyasuttaṃ), Kinh Bhaddiya (Bhaddiyasuttaṃ), Kinh Mahānāma (Mahānāmasuttaṃ), Kinh Các Chi Phần (Các Nhân Tố) (Aṅgasuttaṃ). ![]()
Trong khi thế gian thường đánh giá giá trị một con người qua tài sản, địa
vị hay danh tiếng, Đức Phật lại đưa ra một tiêu chuẩn hoàn toàn
khác. Người giàu nhất không phải là người sở hữu nhiều vàng bạc,
mà là người sở hữu bốn Thánh tài: niềm tin bất động nơi Tam Bảo
và giới đức thanh tịnh. Đây là những tài sản không ai có thể
cướp đoạt, không bị lửa thiêu, nước cuốn hay thời gian hủy hoại.
Đức Phật không chỉ dừng lại ở việc ca ngợi bốn Thánh tài, mà còn
tuyên bố rằng người thành tựu bốn pháp ấy chính là một vị Nhập
Lưu, người đã bước vào dòng Thánh đạo. Điều này cho thấy giá trị
của tín và giới trong Phật giáo không phải là những phẩm chất
phụ thuộc hay hình thức tôn giáo, mà là những dấu hiệu của một
sự chuyển hóa tận gốc trong tâm thức. Khi một người thật sự thấy
được ánh sáng của Chánh Pháp, niềm tin nơi Tam Bảo không còn là
sự tin tưởng vay mượn từ người khác, mà trở thành sự xác tín
phát sinh từ kinh nghiệm nội tâm. Từ đó, giới hạnh không còn là
sự gò bó ép buộc, mà trở thành biểu hiện tự nhiên của trí tuệ và
lòng tôn kính chân lý. Bài kinh cuối cùng lại chỉ ra con đường
dẫn đến kho tàng ấy bằng bốn nhân tố rất thực tiễn: thân cận
thiện nhân, nghe Chánh Pháp, như lý tác ý và thực hành đúng theo
Chánh Pháp. Đây là một tiến trình chuyển hoá hoàn chỉnh. Thiện
hữu tri thức mở cánh cửa, Chánh Pháp soi sáng con đường, như lý
tác ý giúp tránh lạc hướng, và thực hành là những bước chân đưa
người học đi đến đích. Không có bước nào có thể thiếu. Một hạt
giống dù tốt đến đâu cũng cần đất lành, nước tưới và ánh sáng
mặt trời mới có thể đơm hoa kết trái.
Kinh Văn
Kinh Giàu Có I
(Paṭhamamahaddhanasuttaṃ)
1040. “catūhi, bhikkhave, dhammehi
samannāgato ariyasāvako ‘aḍḍho mahaddhano mahābhogo’ti
{mahābhogo mahāyasoti (syā. pī. ka.)} vuccati.
“Này các Tỳ khưu, một vị thánh đệ tử thành tựu bốn pháp được gọi là người
giàu có, có nhiều tài sản và của cải.362 Bốn pháp ấy là gì?
Ở đây, này các Tỳ khưu, một vị thánh đệ tử thành tựu lòng tin bất động vào
Đức Phật… vào Pháp… vào Tăng.… Vị ấy thành tựu các giới đức được
các bậc Thánh ái mộ, không bị phá vỡ… đưa đến định.
Một vị thánh đệ tử thành tựu bốn pháp này được gọi là người giàu có, có
nhiều tài sản và của cải.”
Kinh Giàu Có II
(dutiyamahaddhanasuttaṃ)
1041. “catūhi, bhikkhave, dhammehi
samannāgato ariyasāvako ‘aḍḍho mahaddhano mahābhogo mahāyaso’ti
vuccati.
“Này các Tỳ khưu, một vị thánh đệ tử thành tựu bốn pháp được gọi là người
giàu có, có nhiều tài sản, của cải, và có đại danh tiếng. Bốn
pháp ấy là gì?”
(Phần còn lại giống như kinh số 44). [403]
Kinh Phiên Bản Tóm
Lược (Suddhakasuttaṃ)
1042. “catūhi, bhikkhave, dhammehi samannāgato ariyasāvako
sotāpanno hoti avinipātadhammo niyato sambodhiparāyaṇo.
“Này các Tỳ khưu, một vị thánh đệ tử thành tựu bốn pháp là bậc Dự lưu,
không còn bị thối đọa vào ác đạo, định sẵn cõi thiện, quyết định
hướng đến giác ngộ viên mãn. Bốn pháp ấy là gì?
Ở đây, này các Tỳ khưu, một vị thánh đệ tử thành tựu lòng tin bất động vào
Đức Phật như sau: ‘Đức Thế Tôn là… bậc Thầy của chư thiên và
loài người, là Phật Đà, là Thế Tôn.’ Vị ấy thành tựu lòng tin
bất động vào Pháp… vào Tăng.… Vị ấy thành tựu các giới đức được
các bậc Thánh ái mộ, không bị phá vỡ… đưa đến định.
Này các Tỳ khưu, một vị thánh đệ tử thành tựu bốn pháp này là bậc Dự lưu…
quyết định hướng đến giác ngộ viên mãn.”
Kinh Nandiya
(Nandiyasuttaṃ)
1043. kapilavatthunidānaṃ. ekamantaṃ nisinnaṃ kho nandiyaṃ sakkaṃ
bhagavā etadavoca — “catūhi kho, nandiya, dhammehi samannāgato
ariyasāvako sotāpanno hoti avinipātadhammo niyato
sambodhiparāyaṇo”.
Tại Ca-tỳ-la-vệ (Kapilavatthu). Đức Thế Tôn liền nói với nam cư sĩ Nandiya
người dòng họ Thích khi ông đang ngồi xuống một bên:
(Phần còn lại giống như Kinh Phiên Bản Tóm Lược ).
Kinh Bhaddiya
(Bhaddiyasuttaṃ)
1044. kapilavatthunidānaṃ.
ekamantaṃ nisinnaṃ kho bhaddiyaṃ sakkaṃ bhagavā etadavoca —
“catūhi kho, bhaddiya, dhammehi samannāgato ariyasāvako
sotāpanno hoti avinipātadhammo niyato sambodhiparāyaṇo.
“katamehi catūhi? idha, bhaddiya, ariyasāvako buddhe ... pe ...
dhamme ... pe ... saṅghe ... pe ... ariyakantehi sīlehi
samannāgato hoti akhaṇḍehi ... pe ... samādhisaṃvattanikehi.
imehi kho, bhaddiya, catūhi dhammehi samannāgato ariyasāvako
sotāpanno hoti avinipātadhammo niyato sambodhiparāyaṇo”ti.
aṭṭhamaṃ.
(Giống như Kinh Nandiya nhưng dạy cho lời dạy cho nam cư sĩ Bhaddiya ).
Kinh Mahānāma
(Mahānāmasuttaṃ)
1045. kapilavatthunidānaṃ.
ekamantaṃ nisinnaṃ kho mahānāmaṃ sakkaṃ bhagavā etadavoca —
“catūhi kho, mahānāma, dhammehi samannāgato ariyasāvako
sotāpanno hoti ... pe ... sambodhiparāyaṇo”. “katamehi catūhi?
idha, mahānāma, ariyasāvako buddhe ... pe ... dhamme ... pe ...
saṅghe ... pe ... ariyakantehi sīlehi samannāgato hoti akhaṇḍehi
... pe ... samādhisaṃvattanikehi. imehi kho, mahānāma, catūhi
dhammehi samannāgato ariyasāvako sotāpanno hoti avinipātadhammo
niyato sambodhiparāyaṇo”ti. navamaṃ.
(Giống như Kinh Nandiya nhưng dạy cho lời dạy cho hoàng thân Mahānāma).
Kinh Các Chi Phần
(Các Nhân Tố) (Aṅgasuttaṃ)
1046. “cattārimāni, bhikkhave,
sotāpattiyaṅgāni. katamāni cattāri? sappurisasaṃsevo,
saddhammassavanaṃ, yonisomanasikāro, dhammānudhammappaṭipatti —
imāni kho, bhikkhave, cattāri sotāpattiyaṅgānī”ti. dasamaṃ.
“Này các Tỳ khưu, có bốn nhân tố này đưa đến quả vị Dự lưu . Bốn nhân tố
ấy là gì? Đó là: Thân cận bậc Chân nhân (bậc thiện trí thức),
nghe diệu pháp, như lý tác ý, và hành trì đúng pháp. Đây là bốn
nhân tố đưa đến quả vị Dự lưu.”
Chú Thích
1.KINH GIÀU CÓ 1 & 2
Sự hoán đổi hệ giá trị: Thông thường thế gian định danh sự giàu có bằng thước đo vật chất: vàng
bạc, đất đai, gia sản hữu lậu. Đức Thế Tôn đã thực hiện một cuộc
cách mạng tư duy khi tuyên bố: Bốn pháp Dự lưu (Tín bất động vào
Tam Bảo và Giới) mới chính là "tài sản lớn" (Mahaddhana).
Tương tự như vậy. tiếng tăm thế gian có được do quyền lực hoặc tiền tài
thường đi kèm với sự đố kỵ và cấu uế. "Đại danh tiếng" của một
bậc Thánh đệ tử là hương thơm của đức hạnh và giới luật hữu lậu
đã tịnh hóa, lan tỏa khắp cõi người và cõi trời, được chư thiên
và các bậc đồng phạm hạnh tán dương, ái mộ.
2. KINH PHIÊN BẢN PHIÊN BẢN TÓM LƯỢC, NANDIYA, BHADDIYA,
MAHĀNĀMA
Nandiya, Bhaddiya và Mahānāma đều là những nhà lãnh đạo, những cư sĩ quý tộc kiệt xuất của dòng họ
Thích.Việc Đức Phật liên tục nhắc lại những chi phần của bậc dự
lưu cho các vị cư sĩ quyền quý này nhằm khẳng định: Dù họ có
đang nắm giữ vận mệnh của một vương quốc, bận rộn với vương
quyền, thì cốt tủy của sự tu tập bảo hiểm mạng sống tâm linh vẫn
không thay đổi: Giữ vững niềm tin bất động và duy trì giới hạnh
nghiêm túc.
3. CHÚ THÍCH KINH
CÁC CHI PHẦN (Aṅga Sutta )
Đây là bài kinh mang tính nền tảng thường được dịch là "Dự lưu chi phần"
dễ gây nhầm lẫn trong Kinh tạng.
Đặc tính của bậc dự lưu (Sotāpannassa aṅgāni) gồm 4 pháp:
tịnh tín bất động nơi Phật, Pháp, Tăng, và giới thanh
tịnh.Thuật ngữ gọi là Sotāpannassa aṅgāni (Chi phần của bậc Dự
lưu)
Pháp đưa đến quả dự lưu (Sotāpattiyaṅga) gồm 4
pháp
1. Thân cận bậc Chân nhân (Sappurisasaṃseva), 2. Nghe
diệu pháp (Saddhammassavana), 3. Như lý tác ý
(Yonisomanasikāra), 4. Hành trì đúng pháp
(Dhammānudhammappaṭipatti)
Sớ Giải
1040. catutthe aḍḍho mahaddhanoti
sattavidhena ariyadhanena aḍḍho ceva mahaddhano ca. teneva
bhogena mahābhogo. sesaṃ sabbattha uttānamevāti.
Trong kinh thứ tư [Kinh Giàu Có 1], cụm từ "aḍḍho mahaddhano"
(người giàu có, có nhiều của cải/tài sản) có nghĩa là: vị ấy
giàu có và có nhiều của cải chính là nhờ vào Bảy thứ Tài sản của
bậc Thánh (Satta-ariya-dhana). Và cũng chính nhờ vào thứ
tài sản/vật dụng thọ hưởng ấy mà vị ấy trở thành người có sự thọ
hưởng vĩ đại (mahābhogo). Những phần còn lại trong toàn
bộ bài kinh đều đã hoàn toàn rõ ràng rồi.
1048. chaṭṭhassa dutiye
ayamadhippāyo — sotāpanno bhikkhu ettakena vosānaṃ anāpajjitvā
tāneva indriyabalabojjhaṅgāni samodhānetvā vipassanaṃ vaḍḍhetvā
sakadāgāmimaggaṃ pāpuṇissati, sakadāgāmī anāgāmimaggaṃ, anāgāmī
arahattamagganti imamatthaṃ sandhāya bhagavatā imasmiṃ sutte
sāsane tanti paveṇī kathitāti.
Trong bài thứ hai của phẩm thứ sáu, đây là ý nghĩa cốt lõi
(ý định của Đức Phật): Một vị Tỳ khưu đã chứng đắc quả vị Dự lưu
(sotāpanno) không có thói quen thỏa mãn hay dừng lại (vosānaṃ
anāpajjitvā) ở ngang mức độ ấy; vị ấy gom tụ, hợp nhất chính
các căn (indriya), lực (bala), và các chi phần
giác ngộ (bojjhaṅga) đó để tiếp tục nuôi dưỡng, phát
triển Tuệ quán (vipassanaṃ vaḍḍhetvā), nhằm chứng đạt đến
Nhất Lai Đạo (sakadāgāmimaggaṃ); vị Nhất Lai lại tiếp tục
hướng đến Bất Lai Đạo (anāgāmimaggaṃ); và vị Bất Lai
hướng đến A-la-hán Đạo (arahattamaggaṃ). Nhắm đến ý nghĩa
tối hậu này, Đức Thế Tôn đã thuyết giảng trong bài kinh này về
cái nhìn xuyên suốt (tanti), về mạng mạch (paveṇī)
trong giáo pháp vậy.
------------------
Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu
[55] Chương XI
Tương Ưng Dự Lưu (a)
-ooOoo-
V. Phẩm Phước Ðức Sung Mãn Với Kệ
44. IV. Rất Giàu Hay
Giàu (1) (S.v,402)
1) ...
2) -- Thành tựu bốn pháp, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử
được gọi là giàu, rất giàu, có tài sản lớn, có danh xưng lớn.
Thế nào là bốn?
3) ... (như các kinh trước, nói về tịnh tín bất động đối với
ba ngôi báu và các giới) ...
4) Thành tựu bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử
được gọi là giàu, rất giàu, có tài sản lớn, có danh xưng lớn.
45. V. Rất Giàu Hay
Giàu (2) (S.v,402)
... (giống như kinh trước) ...
46. VI. Tỷ-Kheo Hay
Thanh Tịnh (S.v,403)
1) ...
2) -- Thành tựu bốn pháp, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử là
bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác
ngộ. Thế nào là bốn?
3) ... (như các kinh trước, nói về tịnh tín đối với ba ngôi
báu và các giới) ...
4) Thành tựu bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử
là bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác
ngộ.
47. VII. Nandiya (S.v,403)
1) Nhân duyên ở Kapilavatthu.
2) Thế Tôn nói với họ Thích Nandiya đang ngồi một bên:
"Thành tựu bốn pháp này, này Nandiya, vị Thánh đệ tử là bậc Dự
lưu... giác ngộ. Thế nào là bốn?".
3) ... (thành tựu tịnh tín đối với Ba Ngôi Báu và các giới)
...
4) ... (như đoạn số 4, kinh trước) ...
48. VIII. Bhaddiya (S.v,403)
... (như kinh trước, chỉ khác, đây là họ Thích Bhaddiya )
...
49. IX. Mahànàma (S.v,404)
... (như kinh trước, chỉ khác, đây là họ Thích Mahànàma )
...
50. X. Phần (S.v,404)
1) ...
2) -- Có bốn Dự lưu phần này, này các Tỷ-kheo. Thế nào là
bốn?
3) Thân cận bậc Chân nhân, nghe diệu pháp, như lý tác ý,
thực hành pháp và tùy pháp.
4) Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là bốn Dự lưu phần.
|