|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Bảy, ngày 13 tháng 06, 2026
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
BÀI 686. HAI BÀI KINH VỀ THÁNH QUẢ - Kinh Với Kệ Ngôn (Sagāthakasuttaṃsuttaṃ), Kinh Người Đã An Cư Kiết Hạ (Vassaṃvutthasuttaṃ). ![]()
Đức Phật không định nghĩa sự giàu có bằng vàng bạc, ruộng vườn hay quyền
lực, mà bằng bốn tài sản cao quý: lòng tin nơi Phật, lòng tin
nơi Tăng, giới hạnh thanh tịnh và chánh kiến chân chánh. Trong
mắt thế gian, một người có thể sở hữu vô số của cải nhưng vẫn là
kẻ nghèo nàn nếu tâm hồn trống rỗng, không có phương hướng và
không biết sống hiền thiện. Ngược lại, người có tín, giới và tuệ
dù sống đơn sơ vẫn là người giàu có nhất, vì họ đang nắm giữ
những giá trị không bị thời gian, bệnh tật hay cái chết cướp
mất. Đó là lý do Đức Phật khẳng định: “Đời sống người ấy không
phải là sống uổng phí.” Đức Phật cũng dạy về con số mang đầy hy
vọng về tiến trình giác ngộ. Điều đặc biệt là Đức Phật không chỉ
ca ngợi các bậc A-la-hán mà còn nhắc đến đông đảo những vị Dự
Lưu, Nhất Lai và Bất Lai.
Trong một khu rừng, không phải cây nào cũng đã cao chạm
mây, nhưng mỗi mầm cây đang lớn lên đều mang trong mình tiềm
năng trở thành đại thụ. Cũng vậy, một vị Dự Lưu tuy chưa giải
thoát hoàn toàn nhưng đã vượt qua ngưỡng cửa nguy hiểm nhất của
luân hồi.
Kinh Văn
Kinh Với Kệ Ngôn
(Sagāthakasuttaṃsuttaṃ)
1047. “catūhi, bhikkhave, dhammehi
samannāgato ariyasāvako sotāpanno hoti avinipātadhammo niyato
sambodhiparāyaṇo.
Đó là những gì Đức Thế Tôn đã thuyết. Sau khi thuyết điều này, Đức Thiện
Thệ, bậc Đạo Sư, đã dạy thêm các kệ ngôn này:
Ai tịnh tín Như Lai,
Kinh Người Đã An Cư
Kiết Hạ (Vassaṃvutthasuttaṃ)
1048. ekaṃ samayaṃ bhagavā
sāvatthiyaṃ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme. tena kho
pana samayena aññataro bhikkhu sāvatthiyaṃ vassaṃvuttho
kapilavatthuṃ anuppatto hoti kenacideva karaṇīyena. assosuṃ kho
kāpilavatthavā sakyā — “aññataro kira bhikkhu sāvatthiyaṃ
vassaṃvuttho kapilavatthuṃ anuppatto”ti.
Một thuở, Đức Thế Tôn ngự ở thành Sāvatthī (Xá-vệ), tại Jetavana
(Kỳ-Viên), tu viện của Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc). Lúc bấy giờ,
có một tỳ-khưu nọ sau khi an cư kiết hạ ở Sāvatthī đã đến
Kapilavatthu (Ca-tỳ-la-vệ) vì một vài công sự. Những người dòng
tộc Sakyan (Thích Ca) ở Kapilavatthu nghe tin: “Nghe nói có một
tỳ-khưu, người đã an cư kiết hạ ở Sāvatthī, vừa mới đến
Kapilavatthu.”
Khi ấy, những người Thích-ca ở Kapilavatthu đến gặp vị tỳ-khưu đó, đảnh lễ
, rồi ngồi xuống một bên và thưa với vị ấy:
“Bạch tôn giả, chúng con mong rằng Đức Thế Tôn được khỏe mạnh và tráng
kiện.”
“Này các bạn, Đức Thế Tôn khỏe mạnh và tráng kiện.”
“Bạch tôn giả, chúng con mong rằng Ngài Sāriputta (Xá-lợi-phất) và Ngài
Moggallāna (Mục-kiền-liên) được khỏe và khang kiện.”
“Này các bạn, Ngài Sāriputta và Ngài Moggallāna khỏe
và khang kiện.”
“Bạch tôn giả, chúng con mong rằng chư Tỳ-khưu trong Tăng-già được khỏe
và tráng kiện.”
“Này các bạn, chư Tỳ khưu trong Tăng-già khỏe
và khang kiện.”
“Bạch tôn giả, ngài có được nghe và học hỏi điều gì trực tiếp từ Đức Thế
Tôn trong mùa mưa này không?”
“Này các bạn, trực tiếp trước sự hiện diện của Đức Thế Tôn, tôi đã nghe và
học hỏi điều này: ‘Này các Tỳ khưu, ít thay là những hành giả,
do đoạn trừ các lậu hoặc, ngay trong đời sống này, tự mình chứng
tri với thượng trí, chứng đạt và an trú vào tâm giải thoát, tuệ
giải thoát không lậu hoặc. Nhiều hơn là những hành giả, do đoạn
trừ hoàn toàn năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh, dự kiến sẽ
chứng đạt Niết-bàn ở đời đó mà không còn trở lại thế giới này
nữa.’
“Hơn nữa, này các bạn, trực tiếp trước sự hiện diện của Đức Thế Tôn, tôi
đã nghe và học hỏi điều này: ‘Này các Tỳ khưu, ít thay là những
hành giả… được hóa sanh… Nhiều hơn là những hành giả, do đoạn
trừ hoàn toàn ba kiết sử và làm giảm nhẹ tham, sân, si, trở
thành bậc Nhất lai, những người sau khi chỉ trở lại thế giới này
một lần duy nhất nữa, sẽ chấm dứt khổ đau.’
“Hơn nữa, này các bạn, trực tiếp trước sự hiện diện của Đức Thế Tôn, tôi
đã nghe và học hỏi điều này: ‘Ít thay là những hành giả… trở
thành bậc Nhất lai… Nhiều hơn là những hành giả, do đoạn trừ
hoàn toàn ba kiết sử, trở thành bậc Dự lưu, không còn bị đọa vào
ác đạo, được định sẵn con đường, hướng thẳng đến giác ngộ.’”
Chú Thích
Như Lai (Tathāgata) là danh hiệu đặc biệt của Đức Phật,
mang nhiều tầng ý nghĩa như: "Bật Đã Đến Như Vậy", "Đấng Như
Thật Đi", hay "Đấng đã chứng ngộ chân lý như thực". Trong bài
kinh này, lòng tin nơi Như Lai không phải là niềm tin mù quáng
mà là tín tâm dựa trên sự hiểu biết về những phẩm chất giác ngộ
của Đức Phật.
Niềm tin nơi Tăng chúng ở đây chủ yếu chỉ Thánh Tăng (Ariya-saṅgha), tức những vị đã chứng đắc
một trong bốn Thánh quả. Tin tưởng nơi Tăng đoàn là tin vào khả
năng thực chứng Chánh Pháp của con người.
Chánh kiến đã được huân tu là sự thấy biết đúng đắn về nghiệp và quả nghiệp, Tứ Thánh Đế, duyên khởi
và con đường giải thoát. Chánh kiến là yếu tố dẫn đầu Bát Chánh
Đạo.
Người ấy không nghèo là cách nói rất đặc biệt: người có tín,
giới, chánh kiến tuy không có tài sản vật chất vẫn không phải là
người nghèo. Trong Phật giáo, tài sản tâm linh quý giá hơn mọi
của cải thế gian. Đây tương ứng với khái niệm "Thất Thánh Tài"
(Sattadhana).
Cuộc đời không sống uổng phí "Không sống uổng phí" nghĩa là đời rất
đáng có. Dù chưa chứng Thánh quả, người ấy đã đặt chân lên con
đường đưa đến giải thoát.
Mùa an cư (Vassa) An cư mùa mưa là truyền thống từ thời
Đức Phật. Trong ba tháng mùa mưa từ rằm tháng sáu tới rằm tháng
chín, chư Tỳ khưu ở yên một trú xứ để chuyên tâm tu học, tránh
việc du hành gây tổn hại cây cỏ và sinh vật nhỏ.
Cách thăm hỏi của người Sakya có điểm đáng chú ý là hỏi
thăm sức khỏe Đức Phật, Tôn giả Sāriputta, Tôn giả Moggallāna và
Tăng đoàn. Đây là biểu hiện của lòng kính tín đối với Tam Bảo.
“Những vị A-la-hán là số ít" có nghĩa Đức Phật xác nhận rằng số người chứng
quả A-la-hán luôn ít hơn những bậc Thánh ở các tầng thấp hơn.
Điều này phản ánh quy luật tự nhiên của sự tu chứng: càng lên
cao càng khó đạt.
Bài kinh trình bày số lượng thánh nhân theo con số "kim tự tháp":
Qua đó Đức Phật khuyến khích hàng cư sĩ và Tỳ khưu đừng xem thường quả vị
Dự Lưu. Chính Dự Lưu là cánh cửa đầu tiên bước vào dòng Thánh,
là nền tảng của toàn bộ lộ trình giải thoát. Người bước vào dòng
Thánh tuy chưa đến bờ bên kia, nhưng đã rời khỏi bờ mê và chắc
chắn sẽ đến đích.
Sớ Giải
Không có bản Sớ giải
riêng cho hai bài kinh trên
------------------
Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu
[55] Chương XI
Tương Ưng Dự Lưu (a)
-ooOoo-
VI. Phẩm Với Trí Tuệ
51. I. Với Bài Kệ (S,v,404)
1) ...
2) -- Thành tựu bốn pháp, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử là
bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác
ngộ. Thế nào là bốn?
3) ... (Như các kinh trước, tịnh tín Ba Ngôi báu và thành
tựu các giới) ... Này các Tỷ-kheo, thành tựu bốn pháp này, vị
Thánh đệ tử là bậc Dự lưu... giác ngộ.
4) Thế Tôn nói như vậy...
Với ai tin Như Lai,
52. II. An Cư Mùa
Mưa (S.v,405)
1) Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, Jetavana, tại khu vườn
ông Anàthapindika.
2) Lúc bấy giờ, một Tỷ-kheo, sau khi an cư mùa mưa ở
Sàvatthi xong, đi đến Kapilavatthu vì một vài công việc.
3) Các họ Thích ở Kapilavatthu được nghe một Tỷ-kheo, sau
khi an cư mùa mưa xong ở Sàvatthi, đã đến Kapilavatthu.
4) Rồi các họ Thích ở Kapilavatthu đi đến Tỷ-kheo ấy; sau
khi đến, đảnh lễ Tỷ-kheo ấy rồi ngồi xuống một bên. Các họ Thích
ở Kapilavatthu thưa với Tỷ-kheo ấy:
5) -- Thưa Tôn giả, Thế Tôn có sức khỏe không, có khỏe mạnh
không?
-- Này chư Hiền, Thế Tôn có sức khỏe, có khỏe mạnh.
-- Thưa Tôn giả, Tôn giả Sàriputta và Tôn giả Moggallàna có
sức khỏe không, có khỏe mạnh không?
-- Này chư Hiền, Tôn giả Sàriputta và Tôn giả Moggalàna có
sức khỏe, có khỏe mạnh.
-- Thưa Tôn giả, chúng Tỷ-kheo có sức khỏe không, có khỏe
mạnh không?
-- Này chư Hiền, chúng Tỷ-kheo có sức khỏe, có khỏe mạnh.
6) -- Thưa Tôn giả, trong dịp an cư này, Tôn giả có tự thân
nghe, tự thân lãnh thọ gì từ Thế Tôn?
-- Này chư Hiền, tôi có tự thân nghe, tự thân lãnh thọ từ
Thế Tôn như sau: "Thật là ít, này các Tỷ-kheo, là các Tỷ-kheo,
sau khi đoạn diệt các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với
thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát,
tuệ giải thoát. Và nhiều hơn là các Tỷ-kheo, sau khi đoạn diệt
năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh, từ đấy nhập Niết-bàn, không
còn trở lại đời này nữa".
7) Lại nữa, này chư Hiền, tôi tự thân nghe, tự thân lãnh thọ
từ Thế Tôn như sau: "Thật là ít, này các Tỷ-kheo, là những
Tỷ-kheo, sau khi đoạn diệt năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh,
từ đấy nhập Niết-bàn, không còn trở lại đời này nữa. Và nhiều
hơn là những Tỷ-kheo, sau khi đoạn diệt ba kiết sử, làm cho muội
lược tham, sân, si là bậc Nhất lai, chỉ một lần trở lui đời này
nữa để chấm dứt khổ đau".
8) Lại nữa, này chư Hiền, tôi tự thân nghe, tự thân lãnh thọ
từ Thế Tôn như sau: "Thật là ít, này các Tỷ-kheo, là những
Tỷ-kheo, sau khi đoạn diệt ba kiết sử, làm cho muội lược tham,
sân, si, thành bậc Nhất lai, chỉ một lần trở lui đời này nữa để
chấm dứt khổ đau. Và nhiều hơn là những Tỷ-kheo, sau khi đoạn
diệt ba kiết sử, thành bậc Dự lưu, không còn phải thối đọa,
quyết chắc chứng quả giác ngộ".
|