BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Bảy, ngày 13 tháng 06, 2026

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập V–Chương 55. Tương Ưng Dự Lưu- Phẩm Trí Giả- SN 55. 51, 52.
BÀI 686. HAI BÀI KINH VỀ THÁNH QUẢ -

Kinh Với Kệ Ngôn (Sagāthakasuttaṃsuttaṃ), Kinh Người Đã An Cư Kiết Hạ (Vassaṃvutthasuttaṃ).
  http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-686.jpg

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png Đức Phật không định nghĩa sự giàu có bằng vàng bạc, ruộng vườn hay quyền lực, mà bằng bốn tài sản cao quý: lòng tin nơi Phật, lòng tin nơi Tăng, giới hạnh thanh tịnh và chánh kiến chân chánh. Trong mắt thế gian, một người có thể sở hữu vô số của cải nhưng vẫn là kẻ nghèo nàn nếu tâm hồn trống rỗng, không có phương hướng và không biết sống hiền thiện. Ngược lại, người có tín, giới và tuệ dù sống đơn sơ vẫn là người giàu có nhất, vì họ đang nắm giữ những giá trị không bị thời gian, bệnh tật hay cái chết cướp mất. Đó là lý do Đức Phật khẳng định: “Đời sống người ấy không phải là sống uổng phí.” Đức Phật cũng dạy về con số mang đầy hy vọng về tiến trình giác ngộ. Điều đặc biệt là Đức Phật không chỉ ca ngợi các bậc A-la-hán mà còn nhắc đến đông đảo những vị Dự Lưu, Nhất Lai và Bất Lai.  Trong một khu rừng, không phải cây nào cũng đã cao chạm mây, nhưng mỗi mầm cây đang lớn lên đều mang trong mình tiềm năng trở thành đại thụ. Cũng vậy, một vị Dự Lưu tuy chưa giải thoát hoàn toàn nhưng đã vượt qua ngưỡng cửa nguy hiểm nhất của luân hồi.

Kinh Văn

Kinh Với Kệ Ngôn (Sagāthakasuttaṃsuttaṃ)

1047. “catūhi, bhikkhave, dhammehi samannāgato ariyasāvako sotāpanno hoti avinipātadhammo niyato sambodhiparāyaṇo.
“katamehi catūhi? idha, bhikkhave, ariyasāvako buddhe aveccappasādena samannāgato hoti — itipi so bhagavā ... pe ... satthā devamanussānaṃ buddho bhagavāti. dhamme ... pe ... saṅghe ... pe ... ariyakantehi sīlehi samannāgato hoti akhaṇḍehi ... pe ... samādhisaṃvattanikehi. imehi kho, bhikkhave, catūhi dhammehi samannāgato ariyasāvako sotāpanno hoti avinipātadhammo niyato sambodhiparāyaṇo”ti. idamavoca bhagavā. idaṃ vatvāna sugato athāparaṃ etadavoca satthā —
“yassa saddhā tathāgate, acalā suppatiṭṭhitā.
sīlañca yassa kalyāṇaṃ, ariyakantaṃ pasaṃsitaṃ.
“saṅghe pasādo yassatthi, ujubhūtañca dassanaṃ.
adaliddoti taṃ āhu, amoghaṃ tassa jīvitaṃ.
“tasmā saddhañca sīlañca, pasādaṃ dhammadassanaṃ.
anuyuñjetha medhāvī, saraṃ buddhānasāsanan”ti. paṭhamaṃ.
(Phần văn xuôi giống như ở Kinh Ý Nghĩa Tóm Lược trong bài trước)

Đó là những gì Đức Thế Tôn đã thuyết. Sau khi thuyết điều này, Đức Thiện Thệ, bậc Đạo Sư, đã dạy thêm các kệ ngôn này:

Ai tịnh tín Như Lai,
Trú niềm tin bất động,
Với ai có giới hạnh,
Mà bậc Thánh  ái mộ.
Với ai tịnh tín Tăng,
Với tri kiến xác thực,
Ðược nói: không phải nghèo,
Đời sống không uổng phí.
Do vậy, người hiền trí,
Luôn tu tập tín giới,
Tri kiến nơi Chánh pháp,
Hằng nhớ lời Phật dạy.

Kinh Người Đã An Cư Kiết Hạ  (Vassaṃvutthasuttaṃ)

1048. ekaṃ samayaṃ bhagavā sāvatthiyaṃ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme. tena kho pana samayena aññataro bhikkhu sāvatthiyaṃ vassaṃvuttho kapilavatthuṃ anuppatto hoti kenacideva karaṇīyena. assosuṃ kho kāpilavatthavā sakyā — “aññataro kira bhikkhu sāvatthiyaṃ vassaṃvuttho kapilavatthuṃ anuppatto”ti.
atha kho kāpilavatthavā sakyā yena so bhikkhu tenupasaṅkamiṃsu; upasaṅkamitvā taṃ bhikkhuṃ abhivādetvā ekamantaṃ nisīdiṃsu. ekamantaṃ nisinnā kho kāpilavatthavā sakyā taṃ bhikkhuṃ etadavocuṃ — “kacci, bhante, bhagavā arogo ceva balavā cā”ti? “arogo cāvuso, bhagavā balavā cā”ti. “kacci pana, bhante, sāriputtamoggallānā arogā ceva balavanto cā”ti? “sāriputtamoggallānāpi kho, āvuso, arogā ceva balavanto cā”ti. “kacci pana, bhante, bhikkhusaṅgho arogo ca balavā cā”ti. “bhikkhusaṅghopi kho, āvuso, arogo ca balavā cā”ti. “atthi pana te, bhante, kiñci iminā antaravassena bhagavato sammukhā sutaṃ sammukhā paṭiggahitan”ti? “sammukhā metaṃ, āvuso, bhagavato sutaṃ sammukhā paṭiggahitaṃ — ‘appakā te, bhikkhave, bhikkhū ye āsavānaṃ khayā anāsavaṃ cetovimuttiṃ paññāvimuttiṃ diṭṭheva dhamme sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharanti. atha kho eteva bahutarā bhikkhū ye pañcannaṃ orambhāgiyānaṃ saṃyojanānaṃ parikkhayā opapātikā tattha parinibbāyino anāvattidhammā tasmā lokā’”ti.
“aparampi kho me, āvuso, bhagavato sammukhā sutaṃ sammukhā paṭiggahitaṃ — ‘appakā te, bhikkhave, bhikkhū ye pañcannaṃ orambhāgiyānaṃ saṃyojanānaṃ parikkhayā opapātikā tattha parinibbāyino anāvattidhammā tasmā lokā. atha kho eteva bahutarā bhikkhū ye tiṇṇaṃ saṃyojanānaṃ parikkhayā rāgadosamohānaṃ tanuttā sakadāgāmino, sakideva imaṃ lokaṃ āgantvā dukkhassantaṃ karissantī’”ti.
“aparampi kho me, āvuso, bhagavato sammukhā sutaṃ sammukhā paṭiggahitaṃ — ‘appakā te, bhikkhave, bhikkhū ye tiṇṇaṃ saṃyojanānaṃ parikkhayā rāgadosamohānaṃ tanuttā sakadāgāmino, sakideva imaṃ lokaṃ āgantvā dukkhassantaṃ karissanti. atha kho eteva bahutarā bhikkhū ye tiṇṇaṃ saṃyojanānaṃ parikkhayā sotāpannā avinipātadhammā niyatā sambodhiparāyaṇā’”ti. dutiyaṃ.

Một thuở, Đức Thế Tôn ngự ở thành Sāvatthī (Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ-Viên), tu viện của Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc). Lúc bấy giờ, có một tỳ-khưu nọ sau khi an cư kiết hạ ở Sāvatthī đã đến Kapilavatthu (Ca-tỳ-la-vệ) vì một vài công sự. Những người dòng tộc Sakyan (Thích Ca) ở Kapilavatthu nghe tin: “Nghe nói có một tỳ-khưu, người đã an cư kiết hạ ở Sāvatthī, vừa mới đến Kapilavatthu.”

Khi ấy, những người Thích-ca ở Kapilavatthu đến gặp vị tỳ-khưu đó, đảnh lễ , rồi ngồi xuống một bên và thưa với vị ấy:

“Bạch tôn giả, chúng con mong rằng Đức Thế Tôn được khỏe mạnh và tráng kiện.”

“Này các bạn, Đức Thế Tôn khỏe mạnh và tráng kiện.”

“Bạch tôn giả, chúng con mong rằng Ngài Sāriputta (Xá-lợi-phất) và Ngài Moggallāna (Mục-kiền-liên) được khỏe và khang kiện.”

“Này các bạn, Ngài Sāriputta và Ngài Moggallāna khỏe  và khang kiện.”

“Bạch tôn giả, chúng con mong rằng chư Tỳ-khưu trong Tăng-già được khỏe  và tráng kiện.”

“Này các bạn, chư Tỳ khưu trong Tăng-già khỏe  và khang kiện.”

“Bạch tôn giả, ngài có được nghe và học hỏi điều gì trực tiếp từ Đức Thế Tôn trong mùa mưa này không?”

“Này các bạn, trực tiếp trước sự hiện diện của Đức Thế Tôn, tôi đã nghe và học hỏi điều này: ‘Này các Tỳ khưu, ít thay là những hành giả, do đoạn trừ các lậu hoặc, ngay trong đời sống này, tự mình chứng tri với thượng trí, chứng đạt và an trú vào tâm giải thoát, tuệ giải thoát không lậu hoặc. Nhiều hơn là những hành giả, do đoạn trừ hoàn toàn năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh, dự kiến sẽ chứng đạt Niết-bàn ở đời đó mà không còn trở lại thế giới này nữa.’

“Hơn nữa, này các bạn, trực tiếp trước sự hiện diện của Đức Thế Tôn, tôi đã nghe và học hỏi điều này: ‘Này các Tỳ khưu, ít thay là những hành giả… được hóa sanh… Nhiều hơn là những hành giả, do đoạn trừ hoàn toàn ba kiết sử và làm giảm nhẹ tham, sân, si, trở thành bậc Nhất lai, những người sau khi chỉ trở lại thế giới này một lần duy nhất nữa, sẽ chấm dứt khổ đau.’

“Hơn nữa, này các bạn, trực tiếp trước sự hiện diện của Đức Thế Tôn, tôi đã nghe và học hỏi điều này: ‘Ít thay là những hành giả… trở thành bậc Nhất lai… Nhiều hơn là những hành giả, do đoạn trừ hoàn toàn ba kiết sử, trở thành bậc Dự lưu, không còn bị đọa vào ác đạo, được định sẵn con đường, hướng thẳng đến giác ngộ.’”

Chú Thích

Như Lai (Tathāgata) là danh hiệu đặc biệt của Đức Phật, mang nhiều tầng ý nghĩa như: "Bật Đã Đến Như Vậy", "Đấng Như Thật Đi", hay "Đấng đã chứng ngộ chân lý như thực". Trong bài kinh này, lòng tin nơi Như Lai không phải là niềm tin mù quáng mà là tín tâm dựa trên sự hiểu biết về những phẩm chất giác ngộ của Đức Phật.

Niềm tin nơi Tăng chúng ở đây chủ yếu chỉ Thánh Tăng (Ariya-saṅgha), tức những vị đã chứng đắc một trong bốn Thánh quả. Tin tưởng nơi Tăng đoàn là tin vào khả năng thực chứng Chánh Pháp của con người.

Chánh kiến đã được huân tu là sự thấy biết đúng đắn về nghiệp và quả nghiệp, Tứ Thánh Đế, duyên khởi và con đường giải thoát. Chánh kiến là yếu tố dẫn đầu Bát Chánh Đạo.

Người ấy không nghèo là cách nói rất đặc biệt: người có tín, giới, chánh kiến tuy không có tài sản vật chất vẫn không phải là người nghèo. Trong Phật giáo, tài sản tâm linh quý giá hơn mọi của cải thế gian. Đây tương ứng với khái niệm "Thất Thánh Tài" (Sattadhana).

Cuộc đời không sống uổng phí "Không sống uổng phí" nghĩa là đời rất đáng có. Dù chưa chứng Thánh quả, người ấy đã đặt chân lên con đường đưa đến giải thoát.

Mùa an cư (Vassa) An cư mùa mưa là truyền thống từ thời Đức Phật. Trong ba tháng mùa mưa từ rằm tháng sáu tới rằm tháng chín, chư Tỳ khưu ở yên một trú xứ để chuyên tâm tu học, tránh việc du hành gây tổn hại cây cỏ và sinh vật nhỏ.

Cách thăm hỏi của người Sakya có điểm đáng chú ý là  hỏi thăm sức khỏe Đức Phật, Tôn giả Sāriputta, Tôn giả Moggallāna và Tăng đoàn. Đây là biểu hiện của lòng kính tín đối với Tam Bảo.

“Những vị A-la-hán là số ít" có nghĩa Đức Phật xác nhận rằng số người chứng quả A-la-hán luôn ít hơn những bậc Thánh ở các tầng thấp hơn. Điều này phản ánh quy luật tự nhiên của sự tu chứng: càng lên cao càng khó đạt.

Bài kinh trình bày số lượng thánh nhân theo con số "kim tự tháp":

  • A-la-hán: ít nhất
  • Bất Lai: nhiều hơn
  • Nhất Lai: nhiều hơn nữa
  • Dự Lưu: đông nhất

Qua đó Đức Phật khuyến khích hàng cư sĩ và Tỳ khưu đừng xem thường quả vị Dự Lưu. Chính Dự Lưu là cánh cửa đầu tiên bước vào dòng Thánh, là nền tảng của toàn bộ lộ trình giải thoát. Người bước vào dòng Thánh tuy chưa đến bờ bên kia, nhưng đã rời khỏi bờ mê và chắc chắn sẽ đến đích.

Sớ Giải

Không có bản Sớ giải riêng cho hai bài kinh trên

Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

------------------

Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

[55] Chương XI

Tương Ưng Dự Lưu (a)

-ooOoo-

VI. Phẩm Với Trí Tuệ

51. I. Với Bài Kệ (S,v,404)

1) ...

2) -- Thành tựu bốn pháp, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử là bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ. Thế nào là bốn?

3) ... (Như các kinh trước, tịnh tín Ba Ngôi báu và thành tựu các giới) ... Này các Tỷ-kheo, thành tựu bốn pháp này, vị Thánh đệ tử là bậc Dự lưu... giác ngộ.

4) Thế Tôn nói như vậy...

Với ai tin Như Lai,
Bất động, khéo an trú,
Với ai giới thiện lành,
Bậc Thánh kính, tán thán.
Với ai tịnh tín Tăng,
Với tri kiến chánh trực,
Ðược nói: không phải nghèo,
Sống vậy không vô ích.
Do vậy, bậc Hiền minh,
Cần tu tập tín giới,
Thấy rõ được Chánh pháp,
Không quên lời Phật dạy.

52. II. An Cư Mùa Mưa (S.v,405)

1) Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, Jetavana, tại khu vườn ông Anàthapindika.

2) Lúc bấy giờ, một Tỷ-kheo, sau khi an cư mùa mưa ở Sàvatthi xong, đi đến Kapilavatthu vì một vài công việc.

3) Các họ Thích ở Kapilavatthu được nghe một Tỷ-kheo, sau khi an cư mùa mưa xong ở Sàvatthi, đã đến Kapilavatthu.

4) Rồi các họ Thích ở Kapilavatthu đi đến Tỷ-kheo ấy; sau khi đến, đảnh lễ Tỷ-kheo ấy rồi ngồi xuống một bên. Các họ Thích ở Kapilavatthu thưa với Tỷ-kheo ấy:

5) -- Thưa Tôn giả, Thế Tôn có sức khỏe không, có khỏe mạnh không?

-- Này chư Hiền, Thế Tôn có sức khỏe, có khỏe mạnh.

-- Thưa Tôn giả, Tôn giả Sàriputta và Tôn giả Moggallàna có sức khỏe không, có khỏe mạnh không?

-- Này chư Hiền, Tôn giả Sàriputta và Tôn giả Moggalàna có sức khỏe, có khỏe mạnh.

-- Thưa Tôn giả, chúng Tỷ-kheo có sức khỏe không, có khỏe mạnh không?

-- Này chư Hiền, chúng Tỷ-kheo có sức khỏe, có khỏe mạnh.

6) -- Thưa Tôn giả, trong dịp an cư này, Tôn giả có tự thân nghe, tự thân lãnh thọ gì từ Thế Tôn?

-- Này chư Hiền, tôi có tự thân nghe, tự thân lãnh thọ từ Thế Tôn như sau: "Thật là ít, này các Tỷ-kheo, là các Tỷ-kheo, sau khi đoạn diệt các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Và nhiều hơn là các Tỷ-kheo, sau khi đoạn diệt năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh, từ đấy nhập Niết-bàn, không còn trở lại đời này nữa".

7) Lại nữa, này chư Hiền, tôi tự thân nghe, tự thân lãnh thọ từ Thế Tôn như sau: "Thật là ít, này các Tỷ-kheo, là những Tỷ-kheo, sau khi đoạn diệt năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh, từ đấy nhập Niết-bàn, không còn trở lại đời này nữa. Và nhiều hơn là những Tỷ-kheo, sau khi đoạn diệt ba kiết sử, làm cho muội lược tham, sân, si là bậc Nhất lai, chỉ một lần trở lui đời này nữa để chấm dứt khổ đau".

8) Lại nữa, này chư Hiền, tôi tự thân nghe, tự thân lãnh thọ từ Thế Tôn như sau: "Thật là ít, này các Tỷ-kheo, là những Tỷ-kheo, sau khi đoạn diệt ba kiết sử, làm cho muội lược tham, sân, si, thành bậc Nhất lai, chỉ một lần trở lui đời này nữa để chấm dứt khổ đau. Và nhiều hơn là những Tỷ-kheo, sau khi đoạn diệt ba kiết sử, thành bậc Dự lưu, không còn phải thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ".