|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Ba, ngày 16 tháng 06, 2026
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
BÀI 687. NIỀM TIN LÀ CƠ SỞ ĐỂ CHUYỂN HOÁ - Kinh Dhammadinna (Dhammadinnasuttaṃ) . ![]()
Khi cư sĩ Dhammadinna thỉnh cầu
giáo giới, Đức Phật trước tiên chỉ ra đỉnh cao của con đường tu
tập: an trú trong những pháp thoại sâu xa, siêu thế, liên hệ đến
tánh Không. Đó là cảnh giới của những ai đã có nền tảng vững
chắc về giới, định và tuệ. Thế nhưng điều đáng quý ở đây không
phải là lời dạy cao siêu ấy, mà là sự chân thành của các vị cư
sĩ. Họ không giả vờ hiểu điều mình chưa hiểu, không tự nhận khả
năng mình chưa có. Trước mặt Đức Phật, họ khiêm tốn thừa nhận
rằng mình vẫn còn sống giữa gia đình, con cái và trách nhiệm thế
tục, nên chưa đủ sức thường xuyên thể nhập những pháp môn thâm
diệu ấy. Chính sự chân thành ấy đã mở ra cánh cửa của Thánh đạo.
Đức Phật không yêu cầu họ phải từ bỏ đời sống cư sĩ để đạt giải
thoát, mà hướng họ trở về nền tảng căn bản nhất: lòng tin bất
động nơi Tam Bảo và giới hạnh được bậc Thánh tán thán. Điều này
cho thấy con đường giác ngộ không phải bắt đầu từ những triết lý
cao siêu, mà bắt đầu từ niềm tin chân chánh và đời sống đạo đức
trong sạch. Giống như một cây đại thọ phải mọc lên từ bộ rễ cắm
sâu trong lòng đất, trí tuệ giải thoát cũng phải được nuôi dưỡng
từ giới đức và chánh tín.
Kinh Văn
Evaṃ me sutaṃ:
Ekaṃ samayaṃ Bhagavā bāraṇasiyaṃ viharati Isipatane
Migadāye.
Atha kho Dhammadinno upāsako
pañcahi upāsaka-satehi saddhiṃ yena Bhagavā ten'upasaṅkami.
Upasaṅkamitvā Bhagavantaṃ abhivādetvā eka-m-antaṃ nisīdi.
Eka-m-antaṃ nisinno kho Dhammadinno upāsako Bhagavantaṃ etad
avoca:
Ngồi một bên xong, cư sĩ Dhammadinna thưa với Đức Thế Tôn:
"Ovadatu no bhante, Bhagavā,
anusāsatu no bhante, Bhagavā yaṃ amhākaṃ assa dīgha-rattaṃ
hitāya sukhāyā" ti.
"Tasmātiha vo Dhammadinna, evaṃ sikkhitabbaṃ:
'Ye te suttantā Tathāgata-bhāsitā
gambhīrā gambhīratthā lokuttarā suññatā paṭisaṃyuttā, te kālena
kālaṃ upasampajja viharissāmā' ti.
"Na kho n'etaṃ bhante, sukaraṃ
amhehi putta-sambādha-sayanaṃ ajjhāvasantehi Kāsika-candanaṃ
pacc'anubhontehi mālagandhavilepanaṃ dhārayantehi
jāta-rūpa-rajataṃ sādiyantehi ye te suttantā Tathāgata-bhāsitā
gambhīrā gambhīratthā lokuttarā suññatā paṭisaṃyuttā te kālena
kālaṃ upasampajja viharituṃ.
Tesaṃ no bhante, Bhagavā amhākaṃ
pañcasu sikkhā-padesu ṭhitānaṃ uttariṃ dhammaṃ desetū" ti.
"Tasmātiha vo Dhammadinna, evaṃ sikkhitabbaṃ: "
Buddhe avecca pasādena samannāgatā bhavissāma...
Ariya-kantehi sīlehi samannāgato
hoti akhaṇḍehi acchiddehi asabalehi akammāsehi bhujissehi
viññ'uppasatthehi aparām- aṭṭhehi samādhi-saṃvaṭṭa-nikehi.
Yān'imāni bhante, Bhagavatā
cattāri sot'āpattiyaṅgāni desitāni, saṃvijjante te dhammā
amhesu, mayañ ca bhante, tesu dhammesu sandissāma.
"Lābhā vo Dhammadinna, suladdhaṃ vo Dhammadinna,
sot'āpatti-phalaṃ Dhammadinna, vyākatan" ti.
Chú Thích
"Các bài pháp sâu xa, thuộc siêu thế, liên hệ đến tánh
Không" (Gambhīrā gambhīratthā lokuttarā suññatapaṭisaṃyuttā
suttantā). là những bài kinh: Sâu xa về nội dung;
khó hiểu đối với người chưa tu tập; hướng đến siêu thế
(lokuttara), vượt khỏi vòng luân hồi; liên hệ đến Suññatā (Tánh
Không), tức sự vắng mặt của tự ngã và ngã sở trong các pháp. Đây
là những đề tài như vô thường, vô ngã, duyên khởi, Niết-bàn và
sự đoạn tận tham ái.
Dhammadinna nói rằng điều ấy "không dễ" vì hoàn cảnh của người cư sĩ sống giữa
gia đình đông con cái; có nhiều trách nhiệm xã hội; đang hưởng
thụ các tiện nghi vật chất. Điều này phản ánh sự khác biệt giữa
đời sống xuất gia và tại gia. Đức Phật không trách cứ mà chuyển
sang chỉ dạy một pháp môn phù hợp hơn với căn cơ của họ.
Năm học giới (Pañca-sikkhāpada) là năm giới của người cư sĩ:
1.
Không sát sanh.
2.
Không trộm cắp.
3.
Không tà hạnh trong dục.
4.
Không nói dối.
5.
Không dùng các chất say.
Năm giới là nền tảng đạo đức căn bản để phát triển định và tuệ.
Bốn chi phần Dự lưu (Sotāpattiyaṅga). Đức Phật dạy cư sĩ Dhammadinna hãy
thành tựu bốn yếu tố:
1.
Bất động tín nơi Đức Phật (Buddhe
aveccappasāda).
2.
Bất động tín nơi Giáo Pháp (Dhamme
aveccappasāda).
3.
Bất động tín nơi Tăng Chúng (Saṅghe
aveccappasāda).
4.
Giới hạnh được bậc Thánh ái kính
(Ariyakaṇṭasīla).
7. Vì sao Đức Phật xác nhận Dhammadinna đã chứng quả Dự lưu?
"Ông đã tuyên bố quả Dự lưu." Điều này cho thấy các phẩm chất ấy
không còn là đức tin thông thường mà đã trở thành những đức tính
bất khả thoái chuyển phát sinh từ sự thấy biết chân lý.
Cần đọc thêm bản Sớ giải để có một số chú thích quan trọng khác về cách huấn thị của Đức Phật.
Sớ Giải
1049. tatiye dhammadinnoti sattasu
janesu eko. buddhakālasmiñhi dhammadinno upāsako, visākho
upāsako, uggo gahapati, citto gahapati, hatthako āḷavako,
cūḷānāthapiṇḍiko, mahāanāthapiṇḍikoti ime satta janā
pañcasataupāsakaparivārā ahesuṃ. etesu esa aññataro. gambhīrāti
dhammagambhīrā sallasuttādayo. gambhīratthāti atthagambhīrā
cetanāsuttantādayo. lokuttarāti lokuttaratthadīpakā
asaṅkhatasaṃyuttādayo. suññatappaṭisaṃyuttāti sattasuññatādīpakā
khajjanikasuttantādayo. upasampajja viharissāmāti paṭilabhitvā
viharissāma. evañhi vo, dhammadinna, sikkhitabbanti evaṃ tumhehi
candopamapaṭipadaṃ rathavinītapaṭipadaṃ moneyyapaṭipadaṃ
mahāariyavaṃsapaṭipadaṃ pūrentehi sikkhitabbaṃ. iti satthā
imesaṃ upāsakānaṃ asayhabhāraṃ āropesi. kasmā? ete kira na
attano bhūmiyaṃ ṭhatvā ovādaṃ yāciṃsu, avisesena pana
sabbabhāraṃ ukkhipituṃ samatthā viya “ovadatu no, bhante,
bhagavā”ti yāciṃsu. tena tesaṃ satthā asayhabhāraṃ āropento
evamāha. na kho netanti na kho etaṃ. nakāro panettha
byañjanasandhimattamevāti veditabbo. tasmāti yasmā idāni attano
bhūmiyaṃ ṭhatvā ovādaṃ yācatha, tasmā.
1049. Trong bài kinh thứ ba, "Dhammadinna" là một trong bảy vị cư sĩ nổi bật, hammadinna
là một người trong số ấy. Vào thời Đức Phật có bảy vị cư sĩ lớn,
mỗi vị đều có đoàn tùy tùng gồm năm trăm cư sĩ:
1.
Cư sĩ
Dhammadinna
2.
Cư sĩ
Visākha
3.
Gia chủ
Ugga
4.
Gia chủ
Citta
5.
Hatthaka Āḷavaka
6.
Cūḷa Anāthapiṇḍika (Tiểu Cấp Cô Độc)
7.
Mahā Anāthapiṇḍika (Đại Cấp Cô Độc)
Dhammadinna trong bài kinh này là một trong bảy vị ấy.
Gambhīrā nghĩa là
sâu xa về Pháp (dhammagambhīra), như các kinh thuộc nhóm Salla
Sutta (Kinh Mũi Tên) và những kinh tương tự.
Gambhīratthā nghĩa là
sâu xa về ý nghĩa (atthagambhīra), như các kinh thuộc nhóm
Cetanā Suttanta (Kinh về Tác Ý) và các kinh tương tự.
Lokuttarā là những
bài kinh trình bày ý nghĩa siêu thế, chẳng hạn các kinh thuộc
nhóm Asaṅkhata Saṃyutta (Tương Ưng Vô Vi) và những kinh tương
tự.
"Suññatappaṭisaṃyuttā" (Liên hệ đến Tánh Không) là
những bài kinh giải thích về
Tánh Không của chúng sinh
(sattasuññatā) và các loại tánh không khác, như các kinh
thuộc nhóm Khajjanīya Sutta
và những kinh tương tự.
"Upasampajja viharissāma" có nghĩa là "Sau khi đạt được (những pháp ấy), chúng tôi
sẽ an trú trong đó."
"Evañhi vo, Dhammadinna, sikkhitabbaṃ" “Này Dhammadinna, các người nên tu học như vậy” nghĩa là: Các ngươ&i nên
học tập bằng cách thực hành và hoàn thành các pháp hành như:
"Tại sao Đức Đạo Sư lại giao cho những cư sĩ này một gánh
nặng vượt quá sức?"
Bởi vì những cư sĩ này đã không yêu cầu giáo giới phù hợp với trình độ của
mình. Họ không nói: "Bạch Thế Tôn, xin dạy chúng con theo khả
năng của chúng con." Mà lại thỉnh cầu một cách tổng quát: "Xin
Đức Thế Tôn giáo giới chúng con." Giống như những người có khả
năng gánh vác mọi trọng trách.Vì vậy Đức Phật mới đưa ra một
pháp hành ở mức rất cao.
"Na kho netaṃ" ("Điều này không dễ đối với chúng con") , không cần phân
tích quá sâu về mặt ngữ nghĩa.
"Tasmā" (Vì vậy) Đức Phật nói:"Tasmā – Vì vậy..." Nghĩa là: "Bởi vì bây
giờ các ông đã đứng trên chính nền tảng của mình và thỉnh cầu
một lời dạy phù hợp với khả năng thực tế của mình, nên Ta sẽ dạy
pháp thích hợp hơn."
------------------
Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu
[55] Chương XI
Tương Ưng Dự Lưu (a)
-ooOoo-
VI. Phẩm Với Trí Tuệ
53. III. Dhammadinna (S.v,406)
1) Một thời, Thế Tôn trú ở Bàrànasi, tại Isipatana, ở vườn nai.
2) Rồi cư sĩ Dhammadinna với năm trăm cư sĩ đi đến Thế Tôn, sau
khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên,
cư sĩ Dhammadinna bạch Thế Tôn:
3) -- Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy giảng dạy cho chúng con. Thế Tôn
hãy giáo giới cho chúng con! Nhờ vậy chúng con được hạnh phúc,
an lạc lâu dài.
-- Nếu vậy, này Dhammadinna, các Ông cần phải học tập như sau:
Các kinh điển nào do Như Lai thuyết giảng thâm sâu, nghĩa lý
thâm sâu, siêu thế, liên hệ đến nghĩa không, cần phải thường
thường được tìm đến và an trú (học hỏi). Như vậy, này
Dhammadinna, các Ông cần phải học tập.
4) -- Bạch Thế Tôn, thật không dễ gì cho chúng con, phải sống
trong những ngôi nhà đầy những trẻ con, sử dụng hương chiên-đàn
từ Kàsi, đeo các vòng hoa, hương và phấn sáp, thọ dụng vàng và
bạc, đối với các kinh điển do Thế Tôn thuyết giảng thâm sâu, với
ý nghĩa thâm sâu, siêu thế, liên hệ đến nghĩa không, có thể
thường thường tìm đến những kinh điển ấy và học hỏi. Bạch Thế
Tôn, chúng con là những người an trú trên năm học pháp, Thế Tôn
hãy giảng cho chúng con các pháp khác!
5) -- Do vậy, này Dhammadinna, các Ông hãy học tập như sau:
"Chúng ta sẽ thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với đức Phật:
"Ðây là bậc Ứng Cúng... Phật, Thế Tôn" ... đối với Pháp... đối
với chúng Tăng... thành tựu các giới được các bậc Thánh ái
kính... đưa đến Thiền định. Như vậy, này Dhammadinna, các Ông
cần phải học tập.
-- Bạch Thế Tôn, bốn Dự lưu phần này được Thế Tôn thuyết giảng,
các pháp ấy có mặt ở nơi chúng con. Chúng con thực hiện các pháp
ấy.
6) Bạch Thế Tôn, chúng con thành tựu lòng tịnh tín bất động đối
với đức Phật: "Ðây là bậc Ứng Cúng,... Phật, Thế Tôn"... đối với
Pháp.... đối với chúng Tăng... chúng con thành tựu các giới được
các bậc Thánh ái kính... đưa đến Thiền định.
7) -- Lợi đắc thay cho Ông, này Dhammadinna! Thật khéo lợi đắc
thay cho Ông, này Dhammadinna! Này Dhammadinna, Ông đã tuyên bố
về Dự lưu quả.
|