BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Ba, ngày 16 tháng 06, 2026

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập V–Chương 55. Tương Ưng Dự Lưu- Phẩm Trí Giả- SN 55. 53.
BÀI 687. NIỀM TIN LÀ CƠ SỞ ĐỂ CHUYỂN HOÁ -

Kinh Dhammadinna (Dhammadinnasuttaṃ) .
  http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-687.jpg

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png Khi cư sĩ Dhammadinna  thỉnh cầu giáo giới, Đức Phật trước tiên chỉ ra đỉnh cao của con đường tu tập: an trú trong những pháp thoại sâu xa, siêu thế, liên hệ đến tánh Không. Đó là cảnh giới của những ai đã có nền tảng vững chắc về giới, định và tuệ. Thế nhưng điều đáng quý ở đây không phải là lời dạy cao siêu ấy, mà là sự chân thành của các vị cư sĩ. Họ không giả vờ hiểu điều mình chưa hiểu, không tự nhận khả năng mình chưa có. Trước mặt Đức Phật, họ khiêm tốn thừa nhận rằng mình vẫn còn sống giữa gia đình, con cái và trách nhiệm thế tục, nên chưa đủ sức thường xuyên thể nhập những pháp môn thâm diệu ấy. Chính sự chân thành ấy đã mở ra cánh cửa của Thánh đạo. Đức Phật không yêu cầu họ phải từ bỏ đời sống cư sĩ để đạt giải thoát, mà hướng họ trở về nền tảng căn bản nhất: lòng tin bất động nơi Tam Bảo và giới hạnh được bậc Thánh tán thán. Điều này cho thấy con đường giác ngộ không phải bắt đầu từ những triết lý cao siêu, mà bắt đầu từ niềm tin chân chánh và đời sống đạo đức trong sạch. Giống như một cây đại thọ phải mọc lên từ bộ rễ cắm sâu trong lòng đất, trí tuệ giải thoát cũng phải được nuôi dưỡng từ giới đức và chánh tín.

Kinh Văn

Evaṃ me sutaṃ:
Tôi nghe như vầy:

Ekaṃ samayaṃ Bhagavā bāraṇasiyaṃ viharati Isipatane Migadāye.
Một thời, Đức Thế Tôn trú tại Bārāṇasī, ở Isipatana, Khu Rừng Nai (Migadāya).

Atha kho Dhammadinno upāsako pañcahi upāsaka-satehi saddhiṃ yena Bhagavā ten'upasaṅkami.
Lúc bấy giờ, vị cư sĩ Dhammadinna cùng với năm trăm vị cư sĩ khác đi đến chỗ Đức Thế Tôn.

Upasaṅkamitvā Bhagavantaṃ abhivādetvā eka-m-antaṃ nisīdi.
Đến rồi, đảnh lễ Đức Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên.

Eka-m-antaṃ nisinno kho Dhammadinno upāsako Bhagavantaṃ etad avoca:

Ngồi một bên xong, cư sĩ Dhammadinna thưa với Đức Thế Tôn:

"Ovadatu no bhante, Bhagavā, anusāsatu no bhante, Bhagavā yaṃ amhākaṃ assa dīgha-rattaṃ hitāya sukhāyā" ti.
"Bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn hãy khích lệ chúng con, xin Thế Tôn hãy dạy bảo chúng con, để mang lại lợi ích và hạnh phúc lâu dài cho chúng con."

"Tasmātiha vo Dhammadinna, evaṃ sikkhitabbaṃ:
"Do vậy, này Dhammadinna, các ngươi nên tu học như sau:

'Ye te suttantā Tathāgata-bhāsitā gambhīrā gambhīratthā lokuttarā suññatā paṭisaṃyuttā, te kālena kālaṃ upasampajja viharissāmā' ti.
‘Chúng ta sẽ thường thâm nhập và an trú trong những bài kinh do Như Lai thuyết giảng, vi diệu, có ý nghĩa sâu xa, thuộc siêu thế, liên hệ đến tánh Không.’ Các người nên tu học như vậy."

"Na kho n'etaṃ bhante, sukaraṃ amhehi putta-sambādha-sayanaṃ ajjhāvasantehi Kāsika-candanaṃ pacc'anubhontehi mālagandhavilepanaṃ dhārayantehi jāta-rūpa-rajataṃ sādiyantehi ye te suttantā Tathāgata-bhāsitā gambhīrā gambhīratthā lokuttarā suññatā paṭisaṃyuttā te kālena kālaṃ upasampajja viharituṃ.
"Bạch Thế Tôn, đối với chúng con — những người đang sống trong ngôi nhà chật hẹp với con cái, hưởng thụ trầm hương Kāsi, đeo vòng hoa, hương thơm và dầu thơm, nhận vàng và bạc — thì không dễ dàng để từ thời thời gian nhập và an trú vào những kinh điển do Như Lai thuyết giảng, vi diệu, có ý nghĩa sâu xa, thuộc siêu thế, liên hệ đến tánh Không.’

Tesaṃ no bhante, Bhagavā amhākaṃ pañcasu sikkhā-padesu ṭhitānaṃ uttariṃ dhammaṃ desetū" ti.
Vì chúng con đã an trú trong năm học giới, xin Thế Tôn hãy dạy thêm Pháp cho chúng con."

"Tasmātiha vo Dhammadinna, evaṃ sikkhitabbaṃ: "
Do vậy, này Dhammadinna, các người nên  tu học như sau:

Buddhe avecca pasādena samannāgatā bhavissāma...
 Chúng ta sẽ có lòng tin kiên cố, không lay chuyển đối với Phật... đối với Pháp…đối với Tăng, (toàn bộ đoạn tuyên bố lòng tin kiên cố vào Phật, như trong các bài kinh trước)

Ariya-kantehi sīlehi samannāgato hoti akhaṇḍehi acchiddehi asabalehi akammāsehi bhujissehi viññ'uppasatthehi aparām- aṭṭhehi samādhi-saṃvaṭṭa-nikehi.
Chúng ta sẽ có những giới đức được chư Thánh ái mộ, không bị phá hoại, không có lỗ hổng, không loang lổ, không uế tạp, tự tại, được người trí khen ngợi, không bị chấp thủ, dẫn đến định . Các ngươi nên tự huấn luyện như vậy."

Yān'imāni bhante, Bhagavatā cattāri sot'āpattiyaṅgāni desitāni, saṃvijjante te dhammā amhesu, mayañ ca bhante, tesu dhammesu sandissāma.
"Bạch Thế Tôn, về bốn chi phần nhập lưu  mà Thế Tôn đã dạy, những pháp ấy có tồn tại nơi chúng con, và chúng con đang sống phù hợp với những pháp ấy.

"Lābhā vo Dhammadinna, suladdhaṃ vo Dhammadinna, sot'āpatti-phalaṃ Dhammadinna, vyākatan" ti.
"Đó là sự lợi lạc cho các người, này Dhammadinna! Các người đã đạt được lợi lạc, này Dhammadinna! Các người đã tuyên bố quả Nhập lưu , này Dhammadinna!"

Chú Thích
Dhammadinna trong bài kinh này là một nam cư sĩ cùng với năm trăm cư sĩ đến thỉnh pháp Đức Phật. Không nên nhầm vị này với nữ cư sĩ Dhammadinnā nổi tiếng trong các kinh khác, người sau này xuất gia và chứng quả A-la-hán. Vị cư sĩ Dhammadinna ở đây đại diện cho hàng tại gia có tín tâm sâu sắc và có đời sống đạo đức vững chắc.

"Các bài pháp sâu xa, thuộc siêu thế, liên hệ đến tánh Không" (Gambhīrā gambhīratthā lokuttarā suññatapaṭisaṃyuttā suttantā). là những bài kinh: Sâu xa về nội dung; khó hiểu đối với người chưa tu tập; hướng đến siêu thế (lokuttara), vượt khỏi vòng luân hồi; liên hệ đến Suññatā (Tánh Không), tức sự vắng mặt của tự ngã và ngã sở trong các pháp. Đây là những đề tài như vô thường, vô ngã, duyên khởi, Niết-bàn và sự đoạn tận tham ái.

Dhammadinna nói rằng điều ấy "không dễ" hoàn cảnh của người cư sĩ sống giữa gia đình đông con cái; có nhiều trách nhiệm xã hội; đang hưởng thụ các tiện nghi vật chất. Điều này phản ánh sự khác biệt giữa đời sống xuất gia và tại gia. Đức Phật không trách cứ mà chuyển sang chỉ dạy một pháp môn phù hợp hơn với căn cơ của họ.

Năm học giới (Pañca-sikkhāpada) là năm giới của người cư sĩ:

1.    Không sát sanh.

2.    Không trộm cắp.

3.    Không tà hạnh trong dục.

4.    Không nói dối.

5.    Không dùng các chất say.

Năm giới là nền tảng đạo đức căn bản để phát triển định và tuệ.

Bốn chi phần Dự lưu (Sotāpattiyaṅga). Đức Phật dạy cư sĩ Dhammadinna hãy thành tựu bốn yếu tố:

1.    Bất động tín nơi Đức Phật (Buddhe aveccappasāda).

2.    Bất động tín nơi Giáo Pháp (Dhamme aveccappasāda).

3.    Bất động tín nơi Tăng Chúng (Saṅghe aveccappasāda).

4.    Giới hạnh được bậc Thánh ái kính (Ariyakaṇṭasīla).

7. Vì sao Đức Phật xác nhận Dhammadinna đã chứng quả Dự lưu?
Khi Dhammadinna tuyên bố rằng ông đã đầy đủ: tín tâm bất động tín Tam Bảo và giới hạnh Thánh thiện.
 Đức Phật không phủ nhận mà xác nhận:

"Ông đã tuyên bố quả Dự lưu." Điều này cho thấy các phẩm chất ấy không còn là đức tin thông thường mà đã trở thành những đức tính bất khả thoái chuyển phát sinh từ sự thấy biết chân lý.

Cần đọc thêm bản Sớ giải để có một số chú thích quan trọng khác về cách huấn thị của Đức Phật.

Sớ Giải

1049. tatiye dhammadinnoti sattasu janesu eko. buddhakālasmiñhi dhammadinno upāsako, visākho upāsako, uggo gahapati, citto gahapati, hatthako āḷavako, cūḷānāthapiṇḍiko, mahāanāthapiṇḍikoti ime satta janā pañcasataupāsakaparivārā ahesuṃ. etesu esa aññataro. gambhīrāti dhammagambhīrā sallasuttādayo. gambhīratthāti atthagambhīrā cetanāsuttantādayo. lokuttarāti lokuttaratthadīpakā asaṅkhatasaṃyuttādayo. suññatappaṭisaṃyuttāti sattasuññatādīpakā khajjanikasuttantādayo. upasampajja viharissāmāti paṭilabhitvā viharissāma. evañhi vo, dhammadinna, sikkhitabbanti evaṃ tumhehi candopamapaṭipadaṃ rathavinītapaṭipadaṃ moneyyapaṭipadaṃ mahāariyavaṃsapaṭipadaṃ pūrentehi sikkhitabbaṃ. iti satthā imesaṃ upāsakānaṃ asayhabhāraṃ āropesi. kasmā? ete kira na attano bhūmiyaṃ ṭhatvā ovādaṃ yāciṃsu, avisesena pana sabbabhāraṃ ukkhipituṃ samatthā viya “ovadatu no, bhante, bhagavā”ti yāciṃsu. tena tesaṃ satthā asayhabhāraṃ āropento evamāha. na kho netanti na kho etaṃ. nakāro panettha byañjanasandhimattamevāti veditabbo. tasmāti yasmā idāni attano bhūmiyaṃ ṭhatvā ovādaṃ yācatha, tasmā.

1049. Trong bài kinh thứ ba, "Dhammadinna" là một trong bảy vị cư sĩ nổi bật, hammadinna là một người trong số ấy. Vào thời Đức Phật có bảy vị cư sĩ lớn, mỗi vị đều có đoàn tùy tùng gồm năm trăm cư sĩ:

1.    Cư sĩ Dhammadinna

2.    Cư sĩ Visākha

3.    Gia chủ Ugga

4.    Gia chủ Citta

5.    Hatthaka Āḷavaka

6.    Cūḷa Anāthapiṇḍika (Tiểu Cấp Cô Độc)

7.    Mahā Anāthapiṇḍika (Đại Cấp Cô Độc)

Dhammadinna trong bài kinh này là một trong bảy vị ấy.

Gambhīrā nghĩa là sâu xa về Pháp (dhammagambhīra), như các kinh thuộc nhóm Salla Sutta (Kinh Mũi Tên) và những kinh tương tự.

Gambhīratthā nghĩa là sâu xa về ý nghĩa (atthagambhīra), như các kinh thuộc nhóm Cetanā Suttanta (Kinh về Tác Ý) và các kinh tương tự.

Lokuttarā là những bài kinh trình bày ý nghĩa siêu thế, chẳng hạn các kinh thuộc nhóm Asaṅkhata Saṃyutta (Tương Ưng Vô Vi) và những kinh tương tự.

"Suññatappaṭisaṃyuttā" (Liên hệ đến Tánh Không) là những bài kinh giải thích về Tánh Không của chúng sinh (sattasuññatā) và các loại tánh không khác, như các kinh thuộc nhóm Khajjanīya Sutta và những kinh tương tự.

"Upasampajja viharissāma" có nghĩa là "Sau khi đạt được (những pháp ấy), chúng tôi sẽ an trú trong đó."

"Evañhi vo, Dhammadinna, sikkhitabbaṃ" “Này Dhammadinna, các người nên tu học như vậy” nghĩa là: Các ngươ&i nên học tập bằng cách thực hành và hoàn thành các pháp hành như:

  • Candopama-paṭipadā (Hạnh như mặt trăng)
  • Rathavinīta-paṭipadā (Hạnh cỗ xe tiếp nối)
  • Moneyya-paṭipadā (Hạnh của bậc Mâu-ni)
  • Mahāariyavaṃsa-paṭipadā (Hạnh thuộc Đại Thánh Chủng)

"Tại sao Đức Đạo Sư lại giao cho những cư sĩ này một gánh nặng vượt quá sức?" Bởi vì những cư sĩ này đã không yêu cầu giáo giới phù hợp với trình độ của mình. Họ không nói: "Bạch Thế Tôn, xin dạy chúng con theo khả năng của chúng con." Mà lại thỉnh cầu một cách tổng quát: "Xin Đức Thế Tôn giáo giới chúng con." Giống như những người có khả năng gánh vác mọi trọng trách.Vì vậy Đức Phật mới đưa ra một pháp hành ở mức rất cao.

"Na kho netaṃ" ("Điều này không dễ đối với chúng con") , không cần phân tích quá sâu về mặt ngữ nghĩa.

"Tasmā" (Vì vậy) Đức Phật nói:"Tasmā – Vì vậy..." Nghĩa là: "Bởi vì bây giờ các ông đã đứng trên chính nền tảng của mình và thỉnh cầu một lời dạy phù hợp với khả năng thực tế của mình, nên Ta sẽ dạy pháp thích hợp hơn."

Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

------------------

Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

[55] Chương XI

Tương Ưng Dự Lưu (a)

-ooOoo-

VI. Phẩm Với Trí Tuệ

53. III. Dhammadinna (S.v,406)

1) Một thời, Thế Tôn trú ở Bàrànasi, tại Isipatana, ở vườn nai.

2) Rồi cư sĩ Dhammadinna với năm trăm cư sĩ đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, cư sĩ Dhammadinna bạch Thế Tôn:

3) -- Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy giảng dạy cho chúng con. Thế Tôn hãy giáo giới cho chúng con! Nhờ vậy chúng con được hạnh phúc, an lạc lâu dài.

-- Nếu vậy, này Dhammadinna, các Ông cần phải học tập như sau: Các kinh điển nào do Như Lai thuyết giảng thâm sâu, nghĩa lý thâm sâu, siêu thế, liên hệ đến nghĩa không, cần phải thường thường được tìm đến và an trú (học hỏi). Như vậy, này Dhammadinna, các Ông cần phải học tập.

4) -- Bạch Thế Tôn, thật không dễ gì cho chúng con, phải sống trong những ngôi nhà đầy những trẻ con, sử dụng hương chiên-đàn từ Kàsi, đeo các vòng hoa, hương và phấn sáp, thọ dụng vàng và bạc, đối với các kinh điển do Thế Tôn thuyết giảng thâm sâu, với ý nghĩa thâm sâu, siêu thế, liên hệ đến nghĩa không, có thể thường thường tìm đến những kinh điển ấy và học hỏi. Bạch Thế Tôn, chúng con là những người an trú trên năm học pháp, Thế Tôn hãy giảng cho chúng con các pháp khác!

5) -- Do vậy, này Dhammadinna, các Ông hãy học tập như sau: "Chúng ta sẽ thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với đức Phật: "Ðây là bậc Ứng Cúng... Phật, Thế Tôn" ... đối với Pháp... đối với chúng Tăng... thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính... đưa đến Thiền định. Như vậy, này Dhammadinna, các Ông cần phải học tập.

-- Bạch Thế Tôn, bốn Dự lưu phần này được Thế Tôn thuyết giảng, các pháp ấy có mặt ở nơi chúng con. Chúng con thực hiện các pháp ấy.

6) Bạch Thế Tôn, chúng con thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với đức Phật: "Ðây là bậc Ứng Cúng,... Phật, Thế Tôn"... đối với Pháp.... đối với chúng Tăng... chúng con thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính... đưa đến Thiền định.

7) -- Lợi đắc thay cho Ông, này Dhammadinna! Thật khéo lợi đắc thay cho Ông, này Dhammadinna! Này Dhammadinna, Ông đã tuyên bố về Dự lưu quả.