BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Tư, ngày 17 tháng 06, 2026

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập V–Chương 55. Tương Ưng Dự Lưu- Phẩm Trí Giả- SN 55. 54.
BÀI 688. LỜI KHUYÊN CHO NGƯỜI LÂM CHUNG-

Kinh Bệnh (Gilānasuttaṃ) .
  http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-688.jpg

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png Bài kinh cốt tủy nằm ở phương cách an ủi bậc trí đối với bậc trí khi lâm chung. Đức Phật không khuyên xoa dịu bằng những lời an ủi thế tục suông, mà dùng bốn nền tảng kiên cố của bậc Dự Lưu: tín tâm bất động nơi Phật, Pháp, Tăng và giới đức trong sạch. Đây chính là “bốn chân đế” của người tại gia đã thấy Đạo. Từ nền tảng ấy, Ngài  dẫn dắt tâm người bệnh buông xả từng lớp chấp trước: cha mẹ, vợ con, phước báu nhân gian, các cõi trời Dục giới, cõi Phạm thiên, và cuối cùng hướng thẳng giải thoát Niết-bàn. Đây “thiện xảo phương tiện” (upāya-kosalla). Đức Phật không phủ nhận dục lạc, mà nâng tâm lên dần những đối tượng tinh khiết và thù thắng hơn, rồi đột ngột chỉ ra rằng ngay cả cõi Phạm thiên vẫn còn vô thường, vẫn thuộc về “sở chấp”.  Đỉnh cao của kinh là lời khẳng định bất hủ: “Không có sự khác biệt giữa một cận sự nam được giải thoát về tâm như vậy và một Tỳ-kheo đã giải thoát tâm trong một trăm năm.”  Giải thoát không thuộc về hình thức xuất gia hay tại gia, mà thuộc về sự buông xả triệt để của tâm. Một cư sĩ chứng ngộ có thể ngang bằng vị Tỳ-kheo thâm niên.

Kinh Văn

1050. ekaṃ samayaṃ bhagavā sakkesu viharati kapilavatthusmiṃ nigrodhārāme. tena kho pana samayena sambahulā bhikkhū bhagavato cīvarakammaṃ karonti — “niṭṭhitacīvaro bhagavā temāsaccayena cārikaṃ pakkamissatī”ti. assosi kho mahānāmo sakko — “sambahulā kira bhikkhū bhagavato cīvarakammaṃ karonti — ‘niṭṭhitacīvaro bhagavā temāsaccayena cārikaṃ pakkamissatī’”ti.
atha kho mahānāmo sakko yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ nisīdi. ekamantaṃ nisinno kho mahānāmo sakko bhagavantaṃ etadavoca — “sutametaṃ, bhante — ‘sambahulā kira bhikkhū bhagavato cīvarakammaṃ karonti — niṭṭhitacīvaro bhagavā temāsaccayena cārikaṃ pakkamissatī’ti. na kho netaṃ {na kho te etaṃ (sī. pī.)}, bhante, bhagavato sammukhā sutaṃ sammukhā paṭiggahitaṃ sappaññena upāsakena sappañño upāsako ābādhiko dukkhito bāḷhagilāno ovaditabbo”ti.
“sappaññena mahānāma, upāsakena sappañño upāsako ābādhiko dukkhito bāḷhagilāno catūhi assāsanīyehi dhammehi assāsetabbo — ‘assāsatāyasmā — atthāyasmato buddhe aveccappasādo itipi so bhagavā ... pe ... satthā devamanussānaṃ buddho bhagavāti. assāsatāyasmā — atthāyasmato dhamme ... pe ... saṅghe ... pe ... ariyakantāni sīlāni akhaṇḍāni ... pe ... samādhisaṃvattanikānī’”ti.
“sappaññena, mahānāma, upāsakena sappañño upāsako ābādhiko dukkhito bāḷhagilāno imehi catūhi assāsanīyehi dhammehi assāsetvā evamassa vacanīyo — ‘atthāyasmato mātāpitūsu apekkhā’ti? so ce evaṃ vadeyya — ‘atthi me mātāpitūsu apekkhā’ti, so evamassa vacanīyo — ‘āyasmā kho māriso maraṇadhammo. sace pāyasmā mātāpitūsu apekkhaṃ karissati, marissateva; no ce pāyasmā mātāpitūsu apekkhaṃ karissati, marissateva. sādhāyasmā, yā te mātāpitūsu apekkhā taṃ pajahā’”ti.
“so ce evaṃ vadeyya — ‘yā me mātāpitūsu apekkhā sā pahīnā’ti, so evamassa vacanīyo — ‘atthi panāyasmato puttadāresu apekkhā’ti? so ce evaṃ vadeyya — ‘atthi me puttadāresu apekkhā’ti, so evamassa vacanīyo — ‘āyasmā kho māriso maraṇadhammo. sace pāyasmā puttadāresu apekkhaṃ karissati, marissateva; no ce pāyasmā puttadāresu apekkhaṃ karissati, marissateva. sādhāyasmā, yā te puttadāresu apekkhā taṃ pajahā’”ti.
“so ce evaṃ vadeyya — ‘yā me puttadāresu apekkhā sā pahīnā’ti, so evamassa vacanīyo — ‘atthi panāyasmato mānusakesu pañcasu kāmaguṇesu apekkhā’ti? so ce evaṃ vadeyya — ‘atthi me mānusakesu pañcasu kāmaguṇesu apekkhā’ti, so evamassa vacanīyo — ‘mānusakehi kho, āvuso, kāmehi dibbā kāmā abhikkantatarā ca paṇītatarā ca. sādhāyasmā, mānusakehi kāmehi cittaṃ vuṭṭhāpetvā cātumahārājikesu {cātummahārājikesu (sī. syā. kaṃ. pī.)} devesu cittaṃ adhimocehī’”ti.
“so ce evaṃ vadeyya — ‘mānusakehi me kāmehi cittaṃ vuṭṭhitaṃ, cātumahārājikesu devesu cittaṃ adhimocitan’ti, so evamassa vacanīyo — ‘cātumahārājikehi kho, āvuso, devehi tāvatiṃsā devā abhikkantatarā ca paṇītatarā ca. sādhāyasmā, cātumahārājikehi devehi cittaṃ vuṭṭhāpetvā tāvatiṃsesu devesu cittaṃ adhimocehī’”ti. “so ce evaṃ vadeyya — ‘cātumahārājikehi me devehi cittaṃ vuṭṭhitaṃ, tāvatiṃsesu devesu cittaṃ adhimocitan’ti, so evamassa vacanīyo — ‘tāvatiṃsehi kho, āvuso, devehi yāmā devā ... pe ... tusitā devā ... pe ... nimmānaratī devā ... pe ... paranimmitavasavattī devā ... pe ... paranimmitavasavattīhi kho, āvuso, devehi brahmaloko abhikkantataro ca paṇītataro ca. sādhāyasmā, paranimmitavasavattīhi devehi cittaṃ vuṭṭhāpetvā brahmaloke cittaṃ adhimocehī’ti. so ce evaṃ vadeyya — ‘paranimmitavasavattīhi me devehi cittaṃ vuṭṭhitaṃ, brahmaloke cittaṃ adhimocitan’ti, so evamassa vacanīyo — ‘brahmalokopi kho, āvuso, anicco addhuvo sakkāyapariyāpanno.
sādhāyasmā, brahmalokā cittaṃ vuṭṭhāpetvā sakkāyanirodhe cittaṃ upasaṃharāhī’”ti. “so ce evaṃ vadeyya — ‘brahmalokā me cittaṃ vuṭṭhitaṃ, sakkāyanirodhe cittaṃ upasaṃharāmī’ti; evaṃ vimuttacittassa kho, mahānāma, upāsakassa āsavā {vassasata (sī. syā.)} vimuttacittena bhikkhunā na kiñci nānākaraṇaṃ vadāmi, yadidaṃ — vimuttiyā vimuttan”ti. catutthaṃ.

Một thuở, Đức Thế Tôn ngự giữa các vị Thích Ca tại Kapilavatthu (Ca-tỳ-la-vệ), trong khu vườn của Nigrodha (Ni-câu-luật). Vào lúc bấy giờ, một số đông tỳ-kheo đang may một chiếc y cho Thế Tôn, nghĩ rằng: "Sau ba tháng này, khi chiếc y được hoàn thành, Thế Tôn sẽ khởi hành du hoá."

Mahānāma (Ma-ha-nam), người Thích Ca, nghe tin: "Nghe nói có một số đông tỳ-kheo đang may một chiếc y cho Thế Tôn, nghĩ rằng sau ba tháng này, khi chiếc y được hoàn thành, Thế Tôn sẽ khởi hành du hoá."

Rồi Mahānāma người Thích Ca đi đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ Ngài, ngồi xuống một bên, và bạch với Ngài: "Bạch Thế Tôn, con nghe nói có một số đông tỳ-kheo đang may một chiếc y cho Thế Tôn... Bạch Thế Tôn, con chưa từng được nghe và học hỏi trực tiếp trước mặt Thế Tôn về việc một cư sĩ hiền trí khi bị bệnh, đau đớn, bệnh tình trầm trọng, thì nên được một cư sĩ hiền trí khác khuyên bảo như thế nào."

"Này Mahānāma, một cư sĩ hiền trí khi bị bệnh, đau đớn, bệnh tình trầm trọng, nên được một cư sĩ hiền trí khác an ủi với bốn niềm an ủi: 'Xin bạn hãy yên lòng. Bạn đã có niềm tin bất động vào đức Phật rằng: "Thế Tôn là... bậc Thầy của chư thiên và loài người, là bậc Giác Ngộ, là Thế Tôn." Bạn đã có niềm tin bất động vào Giáo pháp... vào Tăng chúng... Bạn có các giới đức được các bậc Thánh ái kính, không bị bẻ gãy... đưa đến định.'

Sau khi một cư sĩ hiền trí bị bệnh, đau đớn, bệnh tình trầm trọng được một cư sĩ hiền trí khác an ủi với bốn niềm an ủi này, người ấy nên được hỏi: 'Bạn có còn lo lắng về cha và mẹ không?' Nếu người ấy nói: 'Tôi có,' thì nên bảo người ấy: 'Nhưng thưa bạn, bạn là người phải chết. Dù bạn có lo lắng về cha mẹ hay không, bạn cũng sẽ chết. Vì vậy, xin bạn hãy từ bỏ lòng lo lắng về cha mẹ của mình.'

Nếu người ấy nói: 'Tôi đã từ bỏ lòng lo lắng về cha mẹ,' thì nên hỏi người ấy: 'Bạn có còn lo lắng về vợ và con không?' Nếu người ấy nói: 'Tôi có,' thì nên bảo người ấy: 'Nhưng thưa bạn, bạn là người phải chết. Dù bạn có lo lắng về vợ con hay không, bạn cũng sẽ chết. Vì vậy, xin bạn hãy từ bỏ lòng lo lắng về vợ con của mình.'

Nếu người ấy nói: 'Tôi đã từ bỏ lòng lo lắng về vợ con,' thì nên hỏi người ấy: 'Bạn có còn luyến ái năm dục trưởng dưỡng của nhân gian không?' Nếu người ấy nói: 'Tôi có,' thì nên bảo người ấy: 'Thưa bạn, dục lạc cõi trời thù thắng và vi diệu hơn dục lạc nhân gian. Vì vậy, xin bạn hãy rút tâm ra khỏi các dục lạc nhân gian và hướng tâm đến chư Thiên cõi trời Tứ Đại Vương.'

Nếu người ấy nói: 'Tâm tôi đã được rút ra khỏi các dục lạc nhân gian và đã hướng đến chư Thiên cõi trời Tứ Đại Vương,' thì nên bảo người ấy: 'Thưa bạn, chư Thiên cõi trời Tāvatiṃsa (Đao Lợi) thù thắng và vi diệu hơn chư Thiên cõi trời Tứ Đại Vương. Vì vậy, xin bạn hãy rút tâm ra khỏi chư Thiên cõi trời Tứ Đại Vương và hướng tâm đến chư Thiên cõi trời Tāvatiṃsa.'

Nếu người ấy nói: 'Tâm tôi đã được rút ra khỏi chư Thiên cõi trời Tứ Đại Vương và đã hướng đến chư Thiên cõi trời Tāvatiṃsa,' thì nên bảo người ấy: 'Thưa bạn, thù thắng và vi diệu hơn chư Thiên cõi trời Tāvatiṃsa là chư Thiên cõi trời Yāma (Dạ Ma)... chư Thiên cõi trời Tusita (Đâu Suất)... chư Thiên cõi trời Nimmānarati (Hóa Lạc)... chư Thiên cõi trời Paranimmitavasavattī (Tha Hóa Tự Tại)... Thưa bạn, thế giới Phạm thiên lại thù thắng và vi diệu hơn chư Thiên cõi trời Paranimmitavasavattī. Vì vậy, xin bạn hãy rút tâm ra khỏi chư Thiên cõi trời Paranimmitavasavattī và hướng tâm đến thế giới Phạm thiên.'

Nếu người ấy nói: 'Tâm tôi đã được rút ra khỏi chư Thiên cõi trời Paranimmitavasavattī và đã hướng đến thế giới Phạm thiên,' thì nên bảo người ấy: 'Thưa bạn, ngay cả thế giới Phạm thiên cũng là vô thường, không biến vững, vẫn hệ thuộc vào thân kiến (hoặc tự ngã). Vì vậy, xin bạn hãy rút tâm ra khỏi thế giới Phạm thiên và hướng tâm đến sự đoạn diệt của thân kiến (tự ngã).'

Nếu người ấy nói: 'Tâm tôi đã được rút ra khỏi thế giới Phạm thiên; tôi đã hướng tâm đến sự đoạn diệt của thân kiến,' thì này Mahānāma, Ta nói rằng không có sự khác biệt nào giữa một vị cư sĩ có tâm giải thoát như vậy và một vị tỳ-kheo đã giải thoát  suốt một trăm năm; nghĩa là, không có sự khác biệt giữa giải thoát này và giải thoát kia."

Chú Thích
Bốn niềm an ủi (Bốn pháp an ủi)
thực chất là bốn chi phần của một vị đã chứng quả Dự Lưu (Sotāpanna), bao gồm:

1.    Niềm tin bất động vào Phật (Buddhe aveccappasāda).

2.    Niềm tin bất động vào Pháp (Dhamme aveccappasāda).

3.    Niềm tin bất động vào Tăng (Saṅghe aveccappasāda).

4.    Thành tựu các Giới đức được các bậc Thánh ái mộ (Ariyakantehi sīlehi samannāgato) – tức giữ ngũ giới trọn vẹn, không tỳ vết.

Năm dục trưởng dưỡng : Năm kích thích của thế gian qua năm giác quan gồm: hình sắc (mắt), âm thanh (tai), hương thơm (mũi), vị nếm (lưỡi), và sự xúc chạm (thân) đem lại cảm giác dễ chịu, đắm say.

Cơ cấu các cõi an lạc dục giới, sắc giới và vô sắc giới: Bài kinh liệt kê lộ trình hướng tâm từ thấp lên cao để người hấp hối buông bỏ dính mắc: Cõi người, Tứ Đại Vương (Cõi trời thấp nhất), Tāvatiṃsa (Đao Lợi / Tam Thập Tam Thiên), Yāma (Dạ Ma), Tusita (Đâu Suất), Nimmānarati (Hóa Lạc), Paranimmitavasavattī (Tha Hóa Tự Tại - cõi cao nhất của Dục giới), Thế giới Phạm thiên (Brahmā loka): Thuộc cõi sắc giới  và vô sắc giới có tuổi thọ và hỷ lạc vượt trội hơn hẳn các cõi Trời dục giới.

Người cư sĩ hiền trí ở đây tối thiểu phải là một vị đã chứng quả Dự Lưu (Tu-đà-hoàn), có đủ sự thấu hiểu Chánh pháp để hướng dẫn người khác.

Từ "Ayasmā" (Bạn/ hiền giả) trong ngôn ngữ Pali thường dùng cho các bậc xuất gia, nhưng ở đây được người cư sĩ này dùng để gọi người cư sĩ kia một cách đầy tôn kính trong giờ phút lâm chung.

Việc hướng tâm từ cõi người đến cõi Phạm thiên là nấc thang tối thượng của một người chưa giải thoát hoàn toàn, giúp họ tránh khỏi ác đạo và tái sanh vào cõi lành có định lực cao. Đây là bước ngoặt tối quan trọng. Đức Phật không dừng lại ở việc khuyên người bệnh cầu sanh thiên giới (vẫn nằm trong luân hồi), mà hướng thẳng đến việc giải thoát tối hậu (Niết-bàn). Trong Majjhima Nikāya (Trung Bộ Kinh) II, trang Tôn giả Sāriputta cũng hướng dẫn một vị Bà-la-môn đang hấp hối đi qua một chuỗi quán niệm tương tự, nhưng ngài dừng lại ở việc hướng tâm đến cõi Phạm thiên (Brahmaloka). Vì dừng lại ở đó nên về sau Tôn giả đã bị Đức Phật quở trách.

Đoạn kết khẳng định một điểm quan trọng trong Phật pháp: Về mặt Tâm giải thoát (Ceti-vimutti) và Tuệ giải thoát (Paññā-vimutti), sự giải thoát của một người cư sĩ chứng quả A-la-hán ngay trên giường bệnh và một vị tỳ-kheo đã đắc quả A-la-hán suốt 100 năm là hoàn toàn như nhau, không có sự cao thấp về bản chất của Niết-bàn.  Đức Phật không chỉ giúp người bệnh buông bỏ thế gian, mà còn giúp họ buông bỏ cả những cảnh giới cao quý nhất trong luân hồi. Từ cha mẹ, vợ con, dục lạc nhân gian, chư thiên, Phạm thiên, tâm tiếp tục được nâng lên cho đến khi không còn bám víu vào bất cứ cảnh giới hiện hữu nào. Khi mọi đối tượng chấp thủ đều được buông xuống, tâm mới thực sự hướng đến  Niết-bàn, sự an tịnh vượt ngoài mọi sinh và tử. Đây chính là điểm khác biệt giữa khát vọng tái sinh tốt đẹp và con đường giải thoát. Một bên vẫn còn đi trong luân hồi; bên kia là sự chấm dứt hoàn toàn của luân hồi.

Sớ Giải

Adhimocehīti ṭhapehi. Adhimocitanti ṭhapitaṃ. Evaṃ vimuttacittassāti evaṃ arahattaphalavimuttiyā vimuttacittassa. Yadidaṃ vimuttiyā vimuttanti yaṃ idaṃ vimuttiṃ ārabbha vimuttiyā nānākaraṇaṃ vattabbaṃ siyā, na taṃ vadāmi. Bhikkhusaṅghassa hi cetiyaṅgaṇabodhiyaṅgaṇavattesu ceva asītikkhandhakavattesu cāti āgamanīyaguṇesu pamāṇaṃ nāma natthi, paṭividdhe pana magge vā phale vā upāsakānañca bhikkhūnañca nānākaraṇaṃ natthi.

050. Trong bài kinh thứ tư (Bệnh):

Câu “Na kho panetaṃ” nghĩa là: “Không phải chúng tôi đã từng nghe điều này.”

Cụm từ “sappañño upāsako” (người cư sĩ có trí tuệ) ở đây được hiểu là: Một vị Dự Lưu (Sotāpanna).

Cụm từ “assāsanīyehi dhammehi” nghĩa là:“Bằng những pháp đem lại sự an ủi, khích lệ và trấn an.”

Cụm từ “assāsatāyasmā” nghĩa là:“Xin ngài hãy an tâm.”

Từ “mārisa” có nghĩa là: “Người đang bị cái chết chi phối,”hay “người gắn liền với cái chết.”

Từ “maraṇadhammo” nghĩa là: “Có bản chất phải chết,” “có tự tánh là phải chết.”

Từ “adhimocehi” nghĩa là: “Hãy đặt tâm vào,” “hãy hướng tâm đến.”

Từ “adhimocitaṃ” nghĩa là:“Đã được đặt vào,” “đã được hướng đến.”

Cụm từ “evaṃ vimuttacittassa” nghĩa là: “Đối với người có tâm được giải thoát như vậy,” tức là:“Người có tâm được giải thoát bằng Thánh quả A-la-hán.”

Cụm từ “yadidaṃ vimuttiyā vimuttaṃ” có nghĩa: “Nếu có ai muốn nói rằng giữa sự giải thoát này và sự giải thoát kia có sự khác biệt nào đó, thì Ta không nói như vậy.” Nghĩa là Đức Phật không thừa nhận có sự sai khác về bản chất giữa hai sự giải thoát ấy. Bởi vì: Đối với Tăng chúng Tỳ khưu, trong các phận sự liên quan đến sân thờ tháp (cetiyaṅgaṇa), sân cây Bồ-đề (bodhiyaṅgaṇa), cũng như tám mươi loại bổn phận được quy định trong các thiên Kiền-độ (Khandhaka), thì có vô số phẩm chất và trách nhiệm đặc biệt của đời sống xuất gia. Tuy nhiên: Khi đã chứng đắc Thánh Đạo hay Thánh Quả, thì giữa cư sĩ và Tỳ khưu hoàn toàn không có sự khác biệt.

Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

------------------

Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

[55] Chương XI

Tương Ưng Dự Lưu (a)

-ooOoo-

VI. Phẩm Với Trí Tuệ

54. IV. Bị Bệnh (S.v,408)

1) Một thời, Thế Tôn trú ở giữa dân chúng họ Thích, tại Kapilavatthu, khu vườn các cây bàng.

2) Lúc bấy giờ, nhiều Tỷ-kheo đang làm y cho Thế Tôn, nghĩ rằng khi y làm xong, Thế Tôn sau ba tháng sẽ đi du hành.

3) Họ Thích Mahànàma được nghe: "Nhiều Tỷ-kheo đang làm y cho Thế Tôn và họ nghĩ rằng: "Khi y làm xong, Thế Tôn sau ba tháng sẽ đi du hành"". Rồi họ Thích Mahànàma đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, họ Thích Mahànàma bạch Thế Tôn:

4) -- Bạch Thế Tôn, con được nghe nhiều Tỷ-kheo đang làm y cho Thế Tôn và họ nghĩ rằng: "Sau khi y làm xong, Thế Tôn sau ba tháng sẽ ra đi du hành". Chúng con chưa được tự thân nghe từ Thế Tôn, tự thân lãnh thọ từ Thế Tôn điều này. Bạch Thế Tôn, một cư sĩ có trí bị bệnh, đau đớn, bị trọng bệnh, cần phải được một cư sĩ có trí giáo giới như thế nào?

5) -- Này Mahànàma, một cư sĩ có trí bị bệnh, đau đớn, bị trọng bệnh, cần phải được an ủi với bốn pháp an ủi như sau (assàsaniya dhamma): Tôn giả hãy yên tâm, với lòng tịnh tín bất động của Tôn giả đối với đức Phật: "Ðây là bậc Ứng Cúng... Phật, Thế Tôn". Tôn giả hãy yên tâm, với lòng tịnh tín bất động của Tôn giả đối với Pháp... Tôn giả hãy yên tâm, với lòng tịnh tín bất động của của Tôn giả đối với chúng Tăng... Tôn giả hãy yên tâm, với các giới của Tôn giả được các bậc Thánh ái kính... đưa đến Thiền định.

6) Một cư sĩ có trí bị bệnh, đau đớn, bị trọng bệnh, này Mahànàma, phải được một cư sĩ có trí giáo giới với bốn pháp an ủi này. Cần phải nói như vậy.

7) Tôn giả ấy có lòng thương nhớ cha mẹ. Nếu vị ấy nói: "Tôi còn có lòng thương nhớ cha mẹ", thời nên nói với vị ấy như sau: "Thưa Tôn giả, Tôn giả thế nào cũng phải chết. Dầu Tôn giả có lòng thương nhớ cha mẹ, Tôn giả cũng sẽ chết. Dầu Tôn giả không có lòng thương nhớ cha mẹ, Tôn giả cũng sẽ chết. Vậy tốt hơn là Tôn giả hãy từ bỏ lòng thương nhớ đối với cha mẹ của Tôn giả".

8) Nếu vị ấy nói như sau: "Lòng thương nhớ của tôi đối với cha mẹ, lòng thương nhớ ấy đã được đoạn tận", vị ấy cần phải được nói như sau: "Tôn giả có lòng thương nhớ vợ con hay không?" Nếu vị ấy nói: "Tôi có lòng thương nhớ vợ con", thời vị ấy cần phải được nói như sau: "Tôn giả thế nào cũng chết. Dầu Tôn giả có lòng thương nhớ vợ con, Tôn giả cũng sẽ chết. Dầu Tôn giả không có lòng thương nhớ vợ con, Tôn giả cũng sẽ chết. Vậy tốt hơn là Tôn giả hãy từ bỏ lòng thương nhớ đối với vợ con của Tôn giả".

9) Nếu vị ấy nói như sau: "Lòng thương nhớ của tôi đối với vợ con, lòng thương nhớ ấy đã được đoạn tận", vị ấy cần phải được nói như sau: "Tôn giả có lòng thương tiếc năm dục công đức của loài Người không?" Nếu vị ấy nói như sau: "Tôi có lòng thương nhớ năm dục công đức của loài Người", vị ấy cần phải được nói như sau: "Các Thiên dục đối với nhân dục, còn hấp dẫn hơn, còn thù diệu hơn. Vậy tốt hơn Tôn giả hãy từ bỏ tâm khỏi các nhân dục, và hướng tâm đến Tứ đại thiên vương thiên".

10) Nếu vị ấy nói như sau: "Tâm tôi đã từ bỏ nhân dục và hướng đến Tứ đại thiên vương thiên", vị ấy cần được nói như sau: "Chư Thiên ở cõi Ba mươi ba còn hấp dẫn hơn, còn thù diệu hơn Tứ đại thiên vương thiên. Tốt hơn Tôn giả hãy từ bỏ tâm khỏi Tứ đại thiên vương thiên và hướng tâm đến chư Thiên ở cõi trời Ba mươi ba".

11-16) Nếu vị ấy nói như sau: "Tâm tôi đã từ bỏ Tứ đại thiên vương thiên và hướng đến chư Thiên ở cõi trời Ba mươi ba", vị ấy cần được nói như sau: "Chư Thiên Yamà, chư Thiên Tusità, chư Thiên Hóa lạc thiên, chư Thiên Tha hóa tự tại thiên còn hấp dẫn hơn, còn thù diệu hơn chư Thiên ở cõi trời Ba mươi ba".

17) ... "Chư Thiên ở Phạm thế còn hấp dẫn hơn, còn thù diệu hơn chư Thiên ở Tha hóa tự tại thiên. Tốt hơn Tôn giả từ bỏ tâm khỏi chư Thiên Tha hóa tự tại thiên và hướng tâm đến Phạm thế, Phạm thiên giới".

18) Nếu vị ấy nói như sau: "Tâm tôi đã từ bỏ chư Thiên Tha hóa tự tại thiên và hướng tâm về chư Thiên ở Phạm thế", thời vị ấy cần phải được nói như sau: "Này Tôn giả, Phạm thiên giới là vô thường, không thường hằng, bị thân kiến giới hạn. Tốt hơn là Tôn giả hãy từ bỏ tâm khỏi Phạm thế và hướng tâm đến đoạn diệt thân kiến (Sakkàya)".

19) Nếu vị ấy nói như sau: "Tâm tôi đã từ bỏ Phạm thế và hướng đến đoạn diệt thân kiến"; vị cư sĩ nói như vậy, này Mahànàama, và với Tỷ-kheo có tâm giải thoát khỏi các lậu hoặc, Ta nói rằng không có gì sai biệt, tức là về phương diện giải thoát.