Bài kinh cốt tủy nằm ở phương cách an ủi bậc trí đối với bậc trí khi lâm
chung. Đức Phật không khuyên xoa dịu bằng những lời an ủi thế
tục suông, mà dùng bốn nền tảng kiên cố của bậc Dự Lưu: tín tâm
bất động nơi Phật, Pháp, Tăng và giới đức trong sạch. Đây chính
là “bốn chân đế” của người tại gia đã thấy Đạo. Từ nền tảng ấy,
Ngài dẫn dắt tâm
người bệnh buông xả từng lớp chấp trước: cha mẹ, vợ con, phước
báu nhân gian, các cõi trời Dục giới, cõi Phạm thiên, và cuối
cùng hướng thẳng giải thoát Niết-bàn. Đây “thiện xảo phương
tiện” (upāya-kosalla). Đức Phật không phủ nhận dục lạc, mà nâng
tâm lên dần những đối tượng tinh khiết và thù thắng hơn, rồi đột
ngột chỉ ra rằng ngay cả cõi Phạm thiên vẫn còn vô thường, vẫn
thuộc về “sở chấp”. Đỉnh
cao của kinh là lời khẳng định bất hủ: “Không có sự khác biệt
giữa một cận sự nam được giải thoát về tâm như vậy và một
Tỳ-kheo đã giải thoát tâm trong một trăm năm.”
Giải thoát không thuộc về hình thức xuất gia hay tại gia,
mà thuộc về sự buông xả triệt để của tâm. Một cư sĩ chứng ngộ có
thể ngang bằng vị Tỳ-kheo thâm niên.
Kinh Văn
1050. ekaṃ samayaṃ bhagavā sakkesu
viharati kapilavatthusmiṃ nigrodhārāme. tena kho pana samayena
sambahulā bhikkhū bhagavato cīvarakammaṃ karonti —
“niṭṭhitacīvaro bhagavā temāsaccayena cārikaṃ pakkamissatī”ti.
assosi kho mahānāmo sakko — “sambahulā kira bhikkhū bhagavato
cīvarakammaṃ karonti — ‘niṭṭhitacīvaro bhagavā temāsaccayena
cārikaṃ pakkamissatī’”ti.
atha kho mahānāmo sakko yena bhagavā tenupasaṅkami;
upasaṅkamitvā bhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ nisīdi.
ekamantaṃ nisinno kho mahānāmo sakko bhagavantaṃ etadavoca —
“sutametaṃ, bhante — ‘sambahulā kira bhikkhū bhagavato
cīvarakammaṃ karonti — niṭṭhitacīvaro bhagavā temāsaccayena
cārikaṃ pakkamissatī’ti. na kho netaṃ {na kho te etaṃ (sī.
pī.)}, bhante, bhagavato sammukhā sutaṃ sammukhā paṭiggahitaṃ
sappaññena upāsakena sappañño upāsako ābādhiko dukkhito
bāḷhagilāno ovaditabbo”ti.
“sappaññena mahānāma, upāsakena sappañño upāsako ābādhiko
dukkhito bāḷhagilāno catūhi assāsanīyehi dhammehi assāsetabbo —
‘assāsatāyasmā — atthāyasmato buddhe aveccappasādo itipi so
bhagavā ... pe ... satthā devamanussānaṃ buddho bhagavāti.
assāsatāyasmā — atthāyasmato dhamme ... pe ... saṅghe ... pe ...
ariyakantāni sīlāni akhaṇḍāni ... pe ...
samādhisaṃvattanikānī’”ti.
“sappaññena, mahānāma, upāsakena sappañño upāsako ābādhiko
dukkhito bāḷhagilāno imehi catūhi assāsanīyehi dhammehi
assāsetvā evamassa vacanīyo — ‘atthāyasmato mātāpitūsu
apekkhā’ti? so ce evaṃ vadeyya — ‘atthi me mātāpitūsu
apekkhā’ti, so evamassa vacanīyo — ‘āyasmā kho māriso
maraṇadhammo. sace pāyasmā mātāpitūsu apekkhaṃ karissati,
marissateva; no ce pāyasmā mātāpitūsu apekkhaṃ karissati,
marissateva. sādhāyasmā, yā te mātāpitūsu apekkhā taṃ
pajahā’”ti.
“so ce evaṃ vadeyya — ‘yā me mātāpitūsu apekkhā sā pahīnā’ti, so
evamassa vacanīyo — ‘atthi panāyasmato puttadāresu apekkhā’ti?
so ce evaṃ vadeyya — ‘atthi me puttadāresu apekkhā’ti, so
evamassa vacanīyo — ‘āyasmā kho māriso maraṇadhammo. sace
pāyasmā puttadāresu apekkhaṃ karissati, marissateva; no ce
pāyasmā puttadāresu apekkhaṃ karissati, marissateva. sādhāyasmā,
yā te puttadāresu apekkhā taṃ pajahā’”ti.
“so ce evaṃ vadeyya — ‘yā me puttadāresu apekkhā sā pahīnā’ti,
so evamassa vacanīyo — ‘atthi panāyasmato mānusakesu pañcasu
kāmaguṇesu apekkhā’ti? so ce evaṃ vadeyya — ‘atthi me mānusakesu
pañcasu kāmaguṇesu apekkhā’ti, so evamassa vacanīyo —
‘mānusakehi kho, āvuso, kāmehi dibbā kāmā abhikkantatarā ca
paṇītatarā ca. sādhāyasmā, mānusakehi kāmehi cittaṃ vuṭṭhāpetvā
cātumahārājikesu {cātummahārājikesu (sī. syā. kaṃ. pī.)} devesu
cittaṃ adhimocehī’”ti.
“so ce evaṃ vadeyya — ‘mānusakehi me kāmehi cittaṃ vuṭṭhitaṃ,
cātumahārājikesu devesu cittaṃ adhimocitan’ti, so evamassa
vacanīyo — ‘cātumahārājikehi kho, āvuso, devehi tāvatiṃsā devā
abhikkantatarā ca paṇītatarā ca. sādhāyasmā, cātumahārājikehi
devehi cittaṃ vuṭṭhāpetvā tāvatiṃsesu devesu cittaṃ
adhimocehī’”ti. “so ce evaṃ vadeyya — ‘cātumahārājikehi me
devehi cittaṃ vuṭṭhitaṃ, tāvatiṃsesu devesu cittaṃ
adhimocitan’ti, so evamassa vacanīyo — ‘tāvatiṃsehi kho, āvuso,
devehi yāmā devā ... pe ... tusitā devā ... pe ... nimmānaratī
devā ... pe ... paranimmitavasavattī devā ... pe ...
paranimmitavasavattīhi kho, āvuso, devehi brahmaloko
abhikkantataro ca paṇītataro ca. sādhāyasmā,
paranimmitavasavattīhi devehi cittaṃ vuṭṭhāpetvā brahmaloke
cittaṃ adhimocehī’ti. so ce evaṃ vadeyya —
‘paranimmitavasavattīhi me devehi cittaṃ vuṭṭhitaṃ, brahmaloke
cittaṃ adhimocitan’ti, so evamassa vacanīyo — ‘brahmalokopi kho,
āvuso, anicco addhuvo sakkāyapariyāpanno.
sādhāyasmā, brahmalokā cittaṃ vuṭṭhāpetvā sakkāyanirodhe cittaṃ
upasaṃharāhī’”ti. “so ce evaṃ vadeyya — ‘brahmalokā me cittaṃ
vuṭṭhitaṃ, sakkāyanirodhe cittaṃ upasaṃharāmī’ti; evaṃ
vimuttacittassa kho, mahānāma, upāsakassa āsavā {vassasata (sī.
syā.)} vimuttacittena bhikkhunā na kiñci nānākaraṇaṃ vadāmi,
yadidaṃ — vimuttiyā vimuttan”ti. catutthaṃ.
Một thuở, Đức Thế Tôn ngự giữa các vị Thích Ca tại Kapilavatthu
(Ca-tỳ-la-vệ), trong khu vườn của Nigrodha (Ni-câu-luật). Vào
lúc bấy giờ, một số đông tỳ-kheo đang may một chiếc y cho Thế
Tôn, nghĩ rằng: "Sau ba tháng này, khi chiếc y được hoàn thành,
Thế Tôn sẽ khởi hành du hoá."
Mahānāma (Ma-ha-nam), người Thích Ca, nghe tin: "Nghe nói có một số đông
tỳ-kheo đang may một chiếc y cho Thế Tôn, nghĩ rằng sau ba tháng
này, khi chiếc y được hoàn thành, Thế Tôn sẽ khởi hành du hoá."
Rồi Mahānāma người Thích Ca đi đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ Ngài, ngồi xuống
một bên, và bạch với Ngài: "Bạch Thế Tôn, con nghe nói có một số
đông tỳ-kheo đang may một chiếc y cho Thế Tôn... Bạch Thế Tôn,
con chưa từng được nghe và học hỏi trực tiếp trước mặt Thế Tôn
về việc một cư sĩ hiền trí khi bị bệnh, đau đớn, bệnh tình trầm
trọng, thì nên được một cư sĩ hiền trí khác khuyên bảo như thế
nào."
"Này Mahānāma, một cư sĩ hiền trí khi bị bệnh, đau đớn, bệnh tình trầm
trọng, nên được một cư sĩ hiền trí khác an ủi với bốn niềm an
ủi: 'Xin bạn hãy yên lòng. Bạn đã có niềm tin bất động vào đức
Phật rằng: "Thế Tôn là... bậc Thầy của chư thiên và loài người,
là bậc Giác Ngộ, là Thế Tôn." Bạn đã có niềm tin bất động vào
Giáo pháp... vào Tăng chúng... Bạn có các giới đức được các bậc
Thánh ái kính, không bị bẻ gãy... đưa đến định.'
Sau khi một cư sĩ hiền trí bị bệnh, đau đớn, bệnh tình trầm trọng được một
cư sĩ hiền trí khác an ủi với bốn niềm an ủi này, người ấy nên
được hỏi: 'Bạn có còn lo lắng về cha và mẹ không?' Nếu người ấy
nói: 'Tôi có,' thì nên bảo người ấy: 'Nhưng thưa bạn, bạn là
người phải chết. Dù bạn có lo lắng về cha mẹ hay không, bạn cũng
sẽ chết. Vì vậy, xin bạn hãy từ bỏ lòng lo lắng về cha mẹ của
mình.'
Nếu người ấy nói: 'Tôi đã từ bỏ lòng lo lắng về cha mẹ,' thì nên hỏi người
ấy: 'Bạn có còn lo lắng về vợ và con không?' Nếu người ấy nói:
'Tôi có,' thì nên bảo người ấy: 'Nhưng thưa bạn, bạn là người
phải chết. Dù bạn có lo lắng về vợ con hay không, bạn cũng sẽ
chết. Vì vậy, xin bạn hãy từ bỏ lòng lo lắng về vợ con của
mình.'
Nếu người ấy nói: 'Tôi đã từ bỏ lòng lo lắng về vợ con,' thì nên hỏi người
ấy: 'Bạn có còn luyến ái năm dục trưởng dưỡng của nhân gian
không?' Nếu người ấy nói: 'Tôi có,' thì nên bảo người ấy: 'Thưa
bạn, dục lạc cõi trời thù thắng và vi diệu hơn dục lạc nhân
gian. Vì vậy, xin bạn hãy rút tâm ra khỏi các dục lạc nhân gian
và hướng tâm đến chư Thiên cõi trời Tứ Đại Vương.'
Nếu người ấy nói: 'Tâm tôi đã được rút ra khỏi các dục lạc nhân gian và đã
hướng đến chư Thiên cõi trời Tứ Đại Vương,' thì nên bảo người
ấy: 'Thưa bạn, chư Thiên cõi trời Tāvatiṃsa (Đao Lợi) thù thắng
và vi diệu hơn chư Thiên cõi trời Tứ Đại Vương. Vì vậy, xin bạn
hãy rút tâm ra khỏi chư Thiên cõi trời Tứ Đại Vương và hướng tâm
đến chư Thiên cõi trời Tāvatiṃsa.'
Nếu người ấy nói: 'Tâm tôi đã được rút ra khỏi chư Thiên cõi trời Tứ Đại
Vương và đã hướng đến chư Thiên cõi trời Tāvatiṃsa,' thì nên bảo
người ấy: 'Thưa bạn, thù thắng và vi diệu hơn chư Thiên cõi trời
Tāvatiṃsa là chư Thiên cõi trời Yāma (Dạ Ma)... chư Thiên cõi
trời Tusita (Đâu Suất)... chư Thiên cõi trời Nimmānarati (Hóa
Lạc)... chư Thiên cõi trời Paranimmitavasavattī (Tha Hóa Tự
Tại)... Thưa bạn, thế giới Phạm thiên lại thù thắng và vi diệu
hơn chư Thiên cõi trời Paranimmitavasavattī. Vì vậy, xin bạn hãy
rút tâm ra khỏi chư Thiên cõi trời Paranimmitavasavattī và hướng
tâm đến thế giới Phạm thiên.'
Nếu người ấy nói: 'Tâm tôi đã được rút ra khỏi chư Thiên cõi trời
Paranimmitavasavattī và đã hướng đến thế giới Phạm thiên,' thì
nên bảo người ấy: 'Thưa bạn, ngay cả thế giới Phạm thiên cũng là
vô thường, không biến vững, vẫn hệ thuộc vào thân kiến (hoặc tự
ngã). Vì vậy, xin bạn hãy rút tâm ra khỏi thế giới Phạm thiên và
hướng tâm đến sự đoạn diệt của thân kiến (tự ngã).'
Nếu người ấy nói: 'Tâm tôi đã được rút ra khỏi thế giới Phạm thiên; tôi đã
hướng tâm đến sự đoạn diệt của thân kiến,' thì này Mahānāma, Ta
nói rằng không có sự khác biệt nào giữa một vị cư sĩ có tâm giải
thoát như vậy và một vị tỳ-kheo đã giải thoát
suốt một trăm năm; nghĩa là, không có sự khác biệt giữa
giải thoát này và giải thoát kia."
Chú Thích
Bốn niềm an ủi (Bốn pháp an ủi)
thực chất
là bốn chi phần của một vị đã chứng quả Dự Lưu (Sotāpanna), bao
gồm:
1.
Niềm tin bất động vào Phật (Buddhe
aveccappasāda).
2.
Niềm tin bất động vào Pháp (Dhamme
aveccappasāda).
3.
Niềm tin bất động vào Tăng (Saṅghe
aveccappasāda).
4.
Thành tựu các Giới đức được các bậc
Thánh ái mộ (Ariyakantehi sīlehi samannāgato) – tức giữ ngũ giới
trọn vẹn, không tỳ vết.
Năm dục trưởng dưỡng : Năm kích
thích của thế gian qua năm giác quan gồm: hình sắc (mắt), âm
thanh (tai), hương thơm (mũi), vị nếm (lưỡi), và sự xúc chạm
(thân) đem lại cảm giác dễ chịu, đắm say.
Cơ cấu các cõi an lạc dục giới, sắc giới và vô sắc giới: Bài kinh liệt kê lộ trình hướng tâm từ thấp lên cao để
người hấp hối buông bỏ dính mắc: Cõi người, Tứ Đại
Vương (Cõi trời thấp nhất), Tāvatiṃsa (Đao Lợi / Tam
Thập Tam Thiên), Yāma (Dạ Ma), Tusita (Đâu Suất),
Nimmānarati (Hóa Lạc), Paranimmitavasavattī (Tha
Hóa Tự Tại - cõi cao nhất của Dục giới), Thế giới Phạm thiên
(Brahmā loka): Thuộc cõi sắc giới
và vô sắc giới có tuổi
thọ và hỷ lạc vượt trội hơn hẳn các cõi Trời dục giới.
Người cư sĩ hiền trí
ở đây tối thiểu phải là một vị đã chứng quả Dự Lưu (Tu-đà-hoàn), có đủ sự
thấu hiểu Chánh pháp để hướng dẫn người khác.
Từ "Ayasmā"
(Bạn/ hiền
giả) trong ngôn ngữ Pali thường dùng cho các bậc xuất gia, nhưng
ở đây được người cư sĩ này dùng để gọi người cư sĩ kia một cách
đầy tôn kính trong giờ phút lâm chung.
Việc hướng tâm từ cõi người đến cõi Phạm thiên là nấc thang tối thượng của
một người chưa giải thoát hoàn toàn, giúp họ tránh khỏi ác đạo
và tái sanh vào cõi lành có định lực cao. Đây là bước ngoặt tối
quan trọng. Đức Phật không dừng lại ở việc khuyên người bệnh cầu
sanh thiên giới (vẫn nằm trong luân hồi), mà hướng thẳng đến
việc giải thoát tối hậu (Niết-bàn). Trong Majjhima Nikāya (Trung
Bộ Kinh) II, trang Tôn giả Sāriputta cũng hướng dẫn một vị
Bà-la-môn đang hấp hối đi qua một chuỗi quán niệm tương tự,
nhưng ngài dừng lại ở việc hướng tâm đến cõi Phạm thiên
(Brahmaloka). Vì dừng lại ở đó nên về sau Tôn giả đã bị Đức Phật
quở trách.
Đoạn kết khẳng định một điểm quan trọng trong Phật pháp: Về mặt Tâm giải
thoát (Ceti-vimutti) và Tuệ giải thoát (Paññā-vimutti), sự giải
thoát của một người cư sĩ chứng quả A-la-hán ngay trên giường
bệnh và một vị tỳ-kheo đã đắc quả A-la-hán suốt 100 năm là
hoàn toàn như nhau, không có
sự cao thấp về bản chất của Niết-bàn.
Đức Phật không chỉ giúp
người bệnh buông bỏ thế gian, mà còn giúp họ buông bỏ cả những
cảnh giới cao quý nhất trong luân hồi. Từ cha mẹ, vợ con, dục
lạc nhân gian, chư thiên, Phạm thiên, tâm tiếp tục được nâng lên
cho đến khi không còn bám víu vào bất cứ cảnh giới hiện hữu nào.
Khi mọi đối tượng chấp thủ đều được buông xuống, tâm mới thực sự
hướng đến Niết-bàn,
sự an tịnh vượt ngoài mọi sinh và tử. Đây chính là điểm khác
biệt giữa khát vọng tái sinh tốt đẹp và con đường giải thoát.
Một bên vẫn còn đi trong luân hồi; bên kia là sự chấm dứt hoàn
toàn của luân hồi.
Sớ Giải
Adhimocehīti ṭhapehi.
Adhimocitanti ṭhapitaṃ. Evaṃ vimuttacittassāti evaṃ
arahattaphalavimuttiyā vimuttacittassa. Yadidaṃ vimuttiyā
vimuttanti yaṃ idaṃ vimuttiṃ ārabbha vimuttiyā nānākaraṇaṃ
vattabbaṃ siyā, na taṃ vadāmi. Bhikkhusaṅghassa hi
cetiyaṅgaṇabodhiyaṅgaṇavattesu ceva asītikkhandhakavattesu cāti
āgamanīyaguṇesu pamāṇaṃ nāma natthi, paṭividdhe pana magge vā
phale vā upāsakānañca bhikkhūnañca nānākaraṇaṃ natthi.
050. Trong bài kinh thứ tư (Bệnh):
Câu “Na kho panetaṃ” nghĩa là: “Không
phải chúng tôi đã từng nghe điều này.”
Cụm từ “sappañño upāsako” (người cư sĩ có trí
tuệ) ở đây được hiểu là: Một vị Dự Lưu (Sotāpanna).
Cụm từ “assāsanīyehi dhammehi” nghĩa
là:“Bằng những pháp đem lại sự an ủi, khích lệ và trấn an.”
Cụm từ “assāsatāyasmā” nghĩa là:“Xin
ngài hãy an tâm.”
Từ “mārisa” có nghĩa là: “Người đang bị
cái chết chi phối,”hay “người gắn liền với cái chết.”
Từ “maraṇadhammo” nghĩa là: “Có bản
chất phải chết,” “có tự tánh là phải chết.”
Từ “adhimocehi” nghĩa là: “Hãy đặt tâm
vào,” “hãy hướng tâm đến.”
Từ “adhimocitaṃ” nghĩa là:“Đã được đặt
vào,” “đã được hướng đến.”
Cụm từ “evaṃ vimuttacittassa” nghĩa là:
“Đối với người có tâm được giải thoát như vậy,” tức là:“Người có
tâm được giải thoát bằng Thánh quả A-la-hán.”
Cụm từ “yadidaṃ vimuttiyā vimuttaṃ” có
nghĩa: “Nếu có ai muốn nói rằng giữa sự giải thoát này và sự
giải thoát kia có sự khác biệt nào đó, thì Ta không nói như
vậy.” Nghĩa là Đức Phật không thừa nhận có sự sai khác về bản
chất giữa hai sự giải thoát ấy. Bởi vì: Đối với Tăng chúng Tỳ
khưu, trong các phận sự liên quan đến sân thờ tháp
(cetiyaṅgaṇa), sân cây Bồ-đề (bodhiyaṅgaṇa), cũng như tám mươi
loại bổn phận được quy định trong các thiên Kiền-độ (Khandhaka),
thì có vô số phẩm chất và trách nhiệm đặc biệt của đời sống xuất
gia. Tuy nhiên: Khi đã chứng đắc Thánh Đạo hay Thánh Quả, thì
giữa cư sĩ và Tỳ khưu hoàn toàn không có sự khác biệt.