BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Ba, ngày 23 tháng 06, 2026

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập V–Chương 56. Tương Ưng Diệu Đế- Phẩm Thiền Định.
BÀI 691. MỘT SỐ KINH KHỞI ĐẦU TƯƠNG ƯNG DIỆU ĐẾ-

Kinh Thiền Định (Samādhisuttaṃ), Kinh Viễn Ly (Paṭisallānasuttaṃ), Kinh Thiện Nam Tử I (Paṭhamakulaputtasuttaṃ), Kinh Thiện Nam Tử II (Dutiyakulaputtasuttaṃ), Kinh Sa-môn và Bà-la-môn I (Paṭhamasamaṇabrāhmaṇasuttaṃ), Kinh Sa-môn và Bà-la-môn II (Dutiyasamaṇabrāhmaṇasuttaṃ).
  http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-691.jpg

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png Sáu bài kinh đầu của phẩm này tuy được trình bày dưới nhiều góc độ khác nhau như định (samādhi), viễn ly (viveka), xuất gia (pabbajjā), giác ngộ (sambodhi), nhưng tất cả đều quy tụ về một trọng tâm duy nhất là Tứ Thánh Đế (Cattāri Ariyasaccāni). Đức Phật cho thấy rằng định không phải là cứu cánh tự thân, mà là phương tiện làm cho tâm trở nên trong sáng và vững chắc để thấy biết các pháp đúng như thật (yathābhūtaṃ). Viễn ly cũng không phải chỉ là sự xa lánh đám đông về mặt hình thức, mà là điều kiện thuận lợi giúp phát triển định và tuệ, từ đó thể nhập chân lý. Các bài kinh về thiện nam tử xuất gia nhấn mạnh rằng mục đích chân chính của đời sống phạm hạnh không phải là danh vọng, tri thức hay thần thông, mà là sự chứng ngộ Tứ Thánh Đế. Hai bài kinh về sa-môn và bà-la-môn lại xác quyết rằng tất cả những ai thực sự giác ngộ, kể cả các Đức Phật Chánh Đẳng Giác trong ba thời, đều giác ngộ cùng một chân lý ấy chứ không có một con đường giải thoát nào khác. Vì vậy, toàn bộ sáu bài kinh có thể xem như một lời tuyên bố ngắn gọn nhưng sâu sắc rằng: mọi pháp hành chân chánh đều bắt đầu từ thiền định và viễn ly, nhưng đích đến cuối cùng luôn là sự thấu triệt Tứ Thánh Đế để chấm dứt vòng luân hồi sinh tử.

Kinh Văn

Kinh Thiền Định (Samādhisuttaṃ) 

1071. sāvatthinidānaṃ. “samādhiṃ, bhikkhave, bhāvetha. samāhito, bhikkhave, bhikkhu yathābhūtaṃ pajānāti. kiñca yathābhūtaṃ pajānāti? ‘idaṃ dukkhan’ti yathābhūtaṃ pajānāti, ‘ayaṃ dukkhasamudayo’ti yathābhūtaṃ pajānāti, ‘ayaṃ dukkhanirodho’ti yathābhūtaṃ pajānāti, ‘ayaṃ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti yathābhūtaṃ pajānāti. samādhiṃ, bhikkhave, bhāvetha. samāhito, bhikkhave, bhikkhu yathābhūtaṃ pajānāti”.
“tasmātiha, bhikkhave, ‘idaṃ dukkhan’ti yogo karaṇīyo, ‘ayaṃ dukkhasamudayo’ti yogo karaṇīyo, ‘ayaṃ dukkhanirodho’ti yogo karaṇīyo, ‘ayaṃ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti yogo karaṇīyo”ti. paṭhamaṃ.

Tại Sāvatthī.

“Này các Tỳ khưu, hãy tu tập định. Một vị Tỳ khưu có định sẽ hiểu các pháp đúng như thật. Và vị ấy hiểu đúng như thật điều gì?

Vị ấy hiểu đúng như thật rằng: ‘Đây là khổ.’

Vị ấy hiểu đúng như thật rằng: ‘Đây là nguyên nhân của khổ.’

Vị ấy hiểu đúng như thật rằng: ‘Đây là sự diệt tận của khổ.’

Vị ấy hiểu đúng như thật rằng: ‘Đây là con đường đưa đến sự diệt tận của khổ.’

Này các Tỳ khưu, hãy tu tập định. Một vị Tỳ khưu có định sẽ hiểu các pháp đúng như thật.

Do vậy, này các Tỳ khưu, cần phải tinh cần để hiểu rằng: ‘Đây là khổ.’²

Cần phải tinh cần để hiểu rằng: ‘Đây là nguyên nhân của khổ.’

Cần phải tinh cần để hiểu rằng: ‘Đây là sự diệt tận của khổ.’

Cần phải tinh cần để hiểu rằng: ‘Đây là con đường đưa đến sự diệt tận của khổ.’”

Kinh Viễn Ly (Paṭisallānasuttaṃ)

1072. “paṭisallāne, bhikkhave, yogamāpajjatha. paṭisallīno, bhikkhave, bhikkhu yathābhūtaṃ pajānāti. kiñca yathābhūtaṃ pajānāti? ‘idaṃ dukkhan’ti yathābhūtaṃ pajānāti, ‘ayaṃ dukkhasamudayo’ti yathābhūtaṃ pajānāti, ‘ayaṃ dukkhanirodho’ti yathābhūtaṃ pajānāti, ‘ayaṃ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti yathābhūtaṃ pajānāti. paṭisallāne, bhikkhave, yogamāpajjatha. paṭisallīno, bhikkhave, bhikkhu yathābhūtaṃ pajānāti.
“tasmātiha, bhikkhave, ‘idaṃ dukkhan’ti yogo karaṇīyo, ‘ayaṃ dukkhasamudayo’ti yogo karaṇīyo, ‘ayaṃ dukkhanirodho’ti yogo karaṇīyo, ‘ayaṃ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti yogo karaṇīyo”ti. dutiyaṃ.

“Này các Tỳ khưu, hãy nỗ lực trong sự viễn ly. Một vị Tỳ khưu sống viễn ly sẽ hiểu các pháp đúng như thật.

Và vị ấy hiểu đúng như thật điều gì?

Vị ấy hiểu đúng như thật rằng: ‘Đây là khổ.’ …

‘Đây là nguyên nhân của khổ.’ …

‘Đây là sự diệt tận của khổ.’ …

‘Đây là con đường đưa đến sự diệt tận của khổ.’ [415]

Này các Tỳ khưu, hãy nỗ lực trong sự viễn ly. Một vị Tỳ khưu sống viễn ly sẽ hiểu các pháp đúng như thật.

Do vậy, này các Tỳ khưu, cần phải tinh cần để hiểu rằng: ‘Đây là khổ.’ …

Cần phải tinh cần để hiểu rằng: ‘Đây là con đường đưa đến sự diệt tận của khổ.’”

Kinh Thiện Nam Tử I (Paṭhamakulaputtasuttaṃ)

1073. “ye hi keci, bhikkhave, atītamaddhānaṃ kulaputtā sammā agārasmā anagāriyaṃ pabbajiṃsu, sabbe te catunnaṃ ariyasaccānaṃ yathābhūtaṃ abhisamayāya. ye hi keci, bhikkhave, anāgatamaddhānaṃ kulaputtā sammā agārasmā anagāriyaṃ pabbajissanti, sabbe te catunnaṃ ariyasaccānaṃ yathābhūtaṃ abhisamayāya. ye hi keci, bhikkhave, etarahi kulaputtā sammā agārasmā anagāriyaṃ pabbajanti, sabbe te catunnaṃ ariyasaccānaṃ yathābhūtaṃ abhisamayāya.
“katamesaṃ catunnaṃ? dukkhassa ariyasaccassa dukkhasamudayassa ariyasaccassa dukkhanirodhassa ariyasaccassa dukkhanirodhagāminiyā paṭipadāya ariyasaccassa. ye hi keci, bhikkhave, atītamaddhānaṃ kulaputtā sammā agārasmā anagāriyaṃ pabbajiṃsu ... pe ... pabbajissanti ... pe ... pabbajanti, sabbe te imesaṃyeva catunnaṃ ariyasaccānaṃ yathābhūtaṃ abhisamayāya.
“tasmātiha, bhikkhave, ‘idaṃ dukkhan’ti yogo karaṇīyo, ‘ayaṃ dukkhasamudayo’ti yogo karaṇīyo, ‘ayaṃ dukkhanirodho’ti yogo karaṇīyo, ‘ayaṃ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti yogo karaṇīyo”ti. tatiyaṃ.

“Này các Tỳ khưu, bất cứ thiện nam tử nào trong quá khứ đã xuất gia chân chánh từ đời sống gia đình sang đời sống không gia đình, tất cả đều làm như vậy để thể nhập Tứ Thánh Đế đúng như thật.

Bất cứ thiện nam tử nào trong tương lai sẽ xuất gia chân chánh từ đời sống gia đình sang đời sống không gia đình, tất cả đều sẽ làm như vậy để thể nhập Tứ Thánh Đế đúng như thật.

Bất cứ thiện nam tử nào trong hiện tại đã xuất gia chân chánh từ đời sống gia đình sang đời sống không gia đình, tất cả đều đã làm như vậy để thể nhập Tứ Thánh Đế đúng như thật.

Bốn Thánh Đế ấy là gì?

Thánh đế về khổ.

Thánh đế về nguyên nhân của khổ.

Thánh đế về sự diệt tận của khổ.

Thánh đế về con đường đưa đến sự diệt tận của khổ.

Bất cứ thiện nam tử nào đã xuất gia chân chánh... sẽ xuất gia chân chánh... đã xuất gia chân chánh từ đời sống gia đình sang đời sống không gia đình, tất cả đều làm như vậy để thể nhập bốn Thánh Đế này đúng như thật.

Do vậy, này các Tỳ khưu, cần phải tinh cần để hiểu rằng: ‘Đây là khổ.’ …

Cần phải tinh cần để hiểu rằng: ‘Đây là con đường đưa đến sự diệt tận của khổ.’”

Kinh Thiện Nam Tử II (Dutiyakulaputtasuttaṃ)

1074. “ye hi keci, bhikkhave, atītamaddhānaṃ kulaputtā sammā agārasmā anagāriyaṃ pabbajitā yathābhūtaṃ abhisamesuṃ, sabbe te cattāri ariyasaccāni yathābhūtaṃ abhisamesuṃ. ye hi keci, bhikkhave, anāgatamaddhānaṃ kulaputtā sammā agārasmā anagāriyaṃ pabbajitā yathābhūtaṃ abhisamessanti, sabbe te cattāri ariyasaccāni yathābhūtaṃ abhisamessanti. ye hi keci, bhikkhave, etarahi kulaputtā sammā agārasmā anagāriyaṃ pabbajitā yathābhūtaṃ abhisamenti, sabbe te cattāri ariyasaccāni yathābhūtaṃ abhisamenti.
“katamāni cattāri? dukkhaṃ ariyasaccaṃ, dukkhasamudayaṃ ariyasaccaṃ, dukkhanirodhaṃ ariyasaccaṃ, dukkhanirodhagāminī paṭipadā ariyasaccaṃ. ye hi keci, bhikkhave, atītamaddhānaṃ kulaputtā sammā agārasmā anagāriyaṃ pabbajitā yathābhūtaṃ abhisamesuṃ ... pe ... abhisamessanti ... pe ... abhisamenti, sabbe te imāni cattāri ariyasaccāni yathābhūtaṃ abhisamenti.
“tasmātiha, bhikkhave, ‘idaṃ dukkhan’ti yogo karaṇīyo ... pe ... ‘ayaṃ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti yogo karaṇīyo”ti. catutthaṃ.

“Này các Tỳ khưu, bất cứ thiện nam tử nào trong quá khứ đã xuất gia chân chánh từ đời sống gia đình sang đời sống không gia đình và đã thể nhập các pháp đúng như thật, tất cả đều đã thể nhập Tứ Thánh Đế đúng như thật.

Bất cứ thiện nam tử nào trong tương lai sẽ xuất gia chân chánh từ đời sống gia đình sang đời sống không gia đình và sẽ thể nhập các pháp đúng như thật, tất cả đều sẽ thể nhập Tứ Thánh Đế đúng như thật.

Bất cứ thiện nam tử nào trong hiện tại đã xuất gia chân chánh từ đời sống gia đình sang đời sống không gia đình và đang thể nhập các pháp đúng như thật, tất cả đều thể nhập Tứ Thánh Đế đúng như thật.

Bốn Thánh Đế ấy là gì?

Thánh đế về khổ.

Thánh đế về nguyên nhân của khổ.

Thánh đế về sự diệt tận của khổ.

Thánh đế về con đường đưa đến sự diệt tận của khổ.

Bất cứ thiện nam tử nào đã thể nhập... sẽ thể nhập... đang thể nhập các pháp đúng như thật, tất cả đều thể nhập bốn Thánh Đế này đúng như thật.

Do vậy, này các Tỳ khưu, cần phải tinh cần để hiểu rằng: ‘Đây là khổ.’ …

Cần phải tinh cần để hiểu rằng: ‘Đây là con đường đưa đến sự diệt tận của khổ.’”

Kinh Sa-môn và Bà-la-môn I (Paṭhamasamaṇabrāhmaṇasuttaṃ)

1075. “ye hi keci, bhikkhave, atītamaddhānaṃ samaṇā vā brāhmaṇā vā yathābhūtaṃ abhisambojjhiṃsu, sabbe te cattāri ariyasaccāni yathābhūtaṃ abhisambojjhiṃsu. ye hi keci, bhikkhave, anāgatamaddhānaṃ samaṇā vā brāhmaṇā vā yathābhūtaṃ abhisambojjhissanti, sabbe te cattāri ariyasaccāni yathābhūtaṃ abhisambojjhissanti. ye hi keci, bhikkhave, etarahi samaṇā vā brāhmaṇā vā yathābhūtaṃ abhisambojjhanti, sabbe te cattāri ariyasaccāni yathābhūtaṃ abhisambojjhanti.
“katamāni cattāri? dukkhaṃ ariyasaccaṃ ... pe ... dukkhanirodhagāminī paṭipadā ariyasaccaṃ. ye hi keci, bhikkhave, atītamaddhānaṃ samaṇā vā brāhmaṇā vā yathābhūtaṃ abhisambojjhiṃsu ... pe ... abhisambojjhissanti ... pe ... abhisambojjhanti, sabbe te imāni cattāri ariyasaccāni yathābhūtaṃ abhisambojjhanti.
“tasmātiha, bhikkhave, ‘idaṃ dukkhan’ti yogo karaṇīyo ... pe ... ‘ayaṃ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti yogo karaṇīyo”ti. pañcamaṃ.

“Này các Tỳ khưu, bất cứ sa-môn hay bà-la-môn nào trong quá khứ đã giác ngộ hoàn toàn các pháp đúng như thật, tất cả đều đã giác ngộ hoàn toàn Tứ Thánh Đế đúng như thật.

Bất cứ sa-môn hay bà-la-môn nào trong tương lai sẽ giác ngộ hoàn toàn các pháp đúng như thật, tất cả đều sẽ giác ngộ hoàn toàn Tứ Thánh Đế đúng như thật.

Bất cứ sa-môn hay bà-la-môn nào trong hiện tại đã giác ngộ hoàn toàn các pháp đúng như thật, tất cả đều đã giác ngộ hoàn toàn Tứ Thánh Đế đúng như thật.

Bốn Thánh Đế ấy là gì?

Thánh đế về khổ.

Thánh đế về nguyên nhân của khổ.

Thánh đế về sự diệt tận của khổ.

Thánh đế về con đường đưa đến sự diệt tận của khổ.

Bất cứ sa-môn hay bà-la-môn nào đã giác ngộ hoàn toàn... sẽ giác ngộ hoàn toàn... đã giác ngộ hoàn toàn các pháp đúng như thật, tất cả đều đã giác ngộ hoàn toàn bốn Thánh Đế này đúng như thật. [417]

Do vậy, này các Tỳ khưu, cần phải tinh cần để hiểu rằng: ‘Đây là khổ.’ …

Cần phải tinh cần để hiểu rằng: ‘Đây là con đường đưa đến sự diệt tận của khổ.’”

Kinh Sa-môn và Bà-la-môn II (Dutiyasamaṇabrāhmaṇasuttaṃ)

1076. “ye hi keci, bhikkhave, atītamaddhānaṃ samaṇā vā brāhmaṇā vā yathābhūtaṃ abhisambuddhaṃ pakāsesuṃ, sabbe te cattāri ariyasaccāni yathābhūtaṃ abhisambuddhaṃ pakāsesuṃ. ye hi keci, bhikkhave, anāgatamaddhānaṃ samaṇā vā brāhmaṇā vā yathābhūtaṃ abhisambuddhaṃ pakāsessanti, sabbe te cattāri ariyasaccāni yathābhūtaṃ abhisambuddhaṃ pakāsessanti. ye hi keci, bhikkhave, etarahi samaṇā vā brāhmaṇā vā yathābhūtaṃ abhisambuddhaṃ pakāsenti, sabbe te cattāri ariyasaccāni yathābhūtaṃ abhisambuddhaṃ pakāsenti.
“katamāni cattāri? dukkhaṃ ariyasaccaṃ ... pe ... dukkhanirodhagāminī paṭipadā ariyasaccaṃ. ye hi keci, bhikkhave, atītamaddhānaṃ samaṇā vā brāhmaṇā vā yathābhūtaṃ abhisambuddhaṃ pakāsesuṃ ... pe ... pakāsessanti ... pe ... pakāsenti, sabbe te imāni cattāri ariyasaccāni yathābhūtaṃ abhisambuddhaṃ pakāsenti.
“tasmātiha, bhikkhave, ‘idaṃ dukkhan’ti yogo karaṇīyo ... pe ... ‘ayaṃ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti yogo karaṇīyo”ti. chaṭṭhaṃ.

“Này các Tỳ khưu, bất cứ sa-môn hay bà-la-môn nào trong quá khứ đã tự tuyên bố mình là người giác ngộ hoàn toàn các pháp đúng như thật, tất cả đều tự tuyên bố mình là người giác ngộ hoàn toàn Tứ Thánh Đế đúng như thật.

Bất cứ sa-môn hay bà-la-môn nào trong tương lai sẽ tự tuyên bố mình là người giác ngộ hoàn toàn các pháp đúng như thật, tất cả đều sẽ tự tuyên bố mình là người giác ngộ hoàn toàn Tứ Thánh Đế đúng như thật.

Bất cứ sa-môn hay bà-la-môn nào trong hiện tại tự tuyên bố mình là người giác ngộ hoàn toàn các pháp đúng như thật, tất cả đều tự tuyên bố mình là người giác ngộ hoàn toàn Tứ Thánh Đế đúng như thật.

Bốn Thánh Đế ấy là gì?

Thánh đế về khổ.

Thánh đế về nguyên nhân của khổ.

Thánh đế về sự diệt tận của khổ.

Thánh đế về con đường đưa đến sự diệt tận của khổ.

Bất cứ sa-môn hay bà-la-môn nào đã tự tuyên bố... sẽ tự tuyên bố... đang tự tuyên bố mình là người giác ngộ hoàn toàn các pháp đúng như thật, tất cả đều tự tuyên bố mình là người giác ngộ hoàn toàn bốn Thánh Đế này đúng như thật.

Do vậy, này các Tỳ khưu, cần phải tinh cần để hiểu rằng: ‘Đây là khổ.’ …

Cần phải tinh cần để hiểu rằng: ‘Đây là con đường đưa đến sự diệt tận của khổ.Top of FormBottom of Form

Chú Thích
Thuật ngữ Yathābhūtaṃ pajānāti nghĩa là biết xác thực (thực tướng thế nào thì nhận biết như vậy).
Đây không phải là cái hiểu bằng lý thuyết hay suy luận, mà là sự trực nhận, thấu suốt bản chất thực tại của vạn vật (vô thường, khổ, vô ngã) thông qua tuệ giác.

Thuật ngữ Yoga nghĩa là tinh cần, nỗ lực. Trong ngữ cảnh này, "”một sự nỗ lực cần phải được thực hiện”  tương đương với lời kêu gọi thực hành Tinh tấn (Vāyāma) để liễu tri và chứng ngộ pháp.

Thuật ngữ Samādhi thường được dịch là định - ở đây dịch là “thiền định” hàm nghĩa sự chuyên chú tu tập nội tâm. Là trạng thái tâm gom tụ, định tĩnh, không bị phân tán bởi các triền cái (dục ái, sân hận, hôn trầm, trạo hối, hoài nghi).

Định ở đây là “định học tăng thượng” trong tam học. bao gồm chánh tinh tấn, chánh niệm, và chánh định. Bài kinh này đưa ra một công thức tu tập nền tảng: Có Định thì mới có Tuệ (như thật tri kiến). Tâm có định tĩnh như mặt nước phẳng lặng thì mới phản chiếu trung thực vạn vật.

Nội dung Tứ Thánh Đế: hành giả có định học sẽ thấy rõ:

    • Khổ đế : Bản chất bất toàn, bất như ý của cuộc sống.
    • Tập đế : Nguyên nhân của khổ là khát ái (Tanḥā).
    • Diệt đế: Hạnh phúc đích thực là sự chấm dứt khổ
    • Đạo đế: Bát Chánh Đạo là phương cách đích thực để diệt khổ.

Thuật ngữ viễn ly (Paṭisallāna Sutta) bao gồm cả hai khía cạnh:

    • Thân viễn ly (Kāya-viveka): Sống tách biệt, tìm nơi thanh vắng (rừng sâu, gốc cây, hang đá) để tránh duyên trần cấu.
    • Tâm viễn ly (Citta-viveka): Tâm ly dục, ly ác bất thiện pháp, giữ sự độc lập khỏi các phiền não cấu uế ngay cả khi ở giữa đám đông.

Độc cư là môi trường vật lý và tâm lý lý tưởng để nuôi dưỡng và phát triển Định (Kinh số 1).

Thiện nam tử (Kulaputta) (con nhà gia giáo, người thuộc gia đình dòng tộc tốt). Trong văn cảnh kinh Phật, từ này chỉ những người có thiện căn, thiện chí, từ bỏ đời sống gia đình tầm thường để hướng đến lý tưởng cao đẹp.

Abhisamaya (Liễu tri / Thấu đạt / Đột phá) là khoảnh khắc hành giả phá vỡ màn sương mù của vô minh để trực nhận bản chất của Tứ Thánh Đế, tương đương với việc đắc quả Dự lưu (Sotāpanna - Thánh quả đầu tiên).

Sự khác biệt giữa Kinh số 3 và Kinh số 4:

    • Kinh số 3 nhấn mạnh mục đích của việc xuất gia chân chánh (quá khứ, hiện tại, tương lai) đều duy nhất là để thấu đạt Tứ Thánh Đế.
    • Kinh số 4 nhấn mạnh kết quả thực tế: bất cứ ai thấu đạt bản chất của vạn vật "như thật" thì thực chất cái mà họ thấu đạt chính là Tứ Thánh Đế, không có một chân lý nào khác ngoài Tứ Thánh Đế.

Sa-môn và Bà-la-môn (Samaṇabrāhmaṇa) cần được phân biệt:

    • Sa-môn (Samaṇa): Những người xuất gia dòng sa-môn, từ bỏ hình thái rập khuôn lâu đời, sống đời khổ hạnh hoặc khất thực tự do (bao gồm cả Phật giáo, Kỳ-na giáo...).
    • Bà-la-môn (Brāhmaṇa): Tầng lớp tu sĩ chính thống theo giáo điển Veda, gìn giữ nghi lễ trong  xã hội phân chia giai cấp.

Đức Phật dùng cụm từ này để chỉ chung cho tất cả những nhà tìm kiếm tâm linh, những bậc đạo sư đương thời.

Abhisambujjhiṃsu (viên giác). Chỉ sự thành tựu đạo quả tối thượng (Chánh đẳng chánh giác hoặc A-la-hán).

Paccacaññāsuṃ (Tự Tuyên bố) nghĩa là tự mình khẳng định, tuyên bố trước đại chúng rằng mình đã đạt được sự giác ngộ tối hậu.

Thông điệp cốt lõi của Kinh 5 & 6: Đức Phật khẳng định tính độc tôn và phổ quát của Tứ Thánh Đế. Bất luận là vị giáo chủ hay bậc thánh nhân nào trong quá khứ, hiện tại hay vị lai, nếu họ thực sự giác ngộ tối hậu (Kinh 5) hoặc có năng lực tuyên bố sự giác ngộ chân chánh (Kinh 6), thì nội dung giác ngộ của họ bắt buộc và duy nhất phải là Tứ Thánh Đế. Không có sự giác ngộ nào nằm ngoài bốn sự thật này.

Sớ Giải

1071. saccasaṃyuttassa paṭhame samādhiṃ, bhikkhaveti te kira bhikkhū cittekaggatāya parihāyanti, atha nesaṃ satthā — “evamete cittekaggataṃ labhitvā, kammaṭṭhānaṃ vaḍḍhetvā, visesaṃ pāpuṇissantī”ti imaṃ desanaṃ ārabhi. tasmātiha, bhikkhave, “idaṃ dukkhan”ti yogo karaṇīyoti ettha yathābhūtādivasena kāraṇacchedo veditabbo. idañhi vuttaṃ hoti — bhikkhave, yasmā samāhito bhikkhu cattāri saccāni yathābhūtaṃ pajānāti, tasmā tumhehi ca samāhitehi catunnaṃ saccānaṃ yathābhūtaṃ pajānanatthāya “idaṃ dukkhan”ti yogo karaṇīyo. tathā yasmā cattāri saccāni tathāgatasseva pātubhāvā pākaṭāni honti, yasmā ca tathāgatena suvibhattāni, yasmā ca tesu aparimāṇā vaṇṇā aparimāṇāni padabyañjanāni, yasmā ca tesaṃ appaṭividdhattā vaṭṭaṃ vaḍḍhati, tesaṃ paṭividdhakālato paṭṭhāya na vaḍḍhati, tasmā “evaṃ no vaṭṭaṃ na vaḍḍhissatī”ti tumhehi “idaṃ dukkhan”ti yogo karaṇīyo.

1071. Trong bài kinh đầu tiên của Tương Ưng Sự Thật, về câu "samādhi, bhikkhave" (Này các Tỳ khưu,[hãy phát triển thiền định): Nghe duyên sự rằng, các vị Tỳ khưu ấy đang bị thối thất (suy giảm) về sự nhất tâm. Khi ấy, bậc Đạo Sư dạy "Bằng cách này, khi các vị ấy chứng đạt được sự nhất tâm, phát triển thiền án (kammaṭṭhāna), các vị ấy sẽ chứng đạt được đặc chứng (thánh quả)", nên Ngài đã khởi xướng bài pháp thoại này.

Về câu "tasmātiha, bhikkhave, ‘idaṃ dukkhan’ti yogo karaṇīyo" (Do vậy, này các Tỳ khưu, một sự nỗ lực cần phải được thực hiện để hiểu rõ: ‘Đây là khổ’): ở đây, sự phân tích về nguyên nhân (kāraṇaccheda) cần phải được hiểu rõ thông qua thẩm quyền của từ "đích thực, như thật" (yathābhūta), v.v...

Ý nghĩa được diễn giải ở đây là như sau: — Này các Tỳ khưu, bởi vì một Tỳ khưu có thiền định sẽ liễu tri (hiểu rõ) bốn sự thật đúng với chân tướng; do vậy, bởi các Thầy là những người có định, để liễu tri bốn sự thật một cách như thật, một sự nỗ lực cần phải được thực hiện để hiểu rõ: "Đây là khổ".

Cũng vậy, bởi vì Bốn Thánh Đế chỉ trở nên hiển lộ (rõ ràng) nhờ vào sự xuất hiện của bậc Như Lai; và bởi vì chúng đã được bậc Như Lai phân tích một cách khéo léo; và bởi vì trong các sự thật ấy có vô lượng lời ngợi ca, vô lượng chương cú và văn phụ thuộc; và bởi vì do không đâm thủng (không thấu đạt) được các sự thật ấy mà vòng luân hồi (vaṭṭa) tiếp tục tăng trưởng, và kể từ thời điểm đâm thủng được chúng thì vòng luân hồi không còn tăng trưởng nữa; do vậy, với tâm niệm: "Bằng cách này, vòng luân hồi của chúng ta sẽ không tăng trưởng nữa", các ông cần phải thực hiện một sự nỗ lực để hiểu rõ: "Đây là khổ".

1072. dutiyaṃ kāyavivekavikalānaṃ kāyavivekapaṭilābhatthāya vuttaṃ.

1072. Bài kinh thứ hai (dutiyaṃ) được thuyết giảng dành cho những vị đang thiếu thốn sự viễn ly về thân (kāyavivekavikalānaṃ), nhằm mục đích giúp họ chứng đạt được sự viễn ly về thân (kāyavivekapaṭilābhatthāya).

1073 - 1075. tatiye abhisamayāyāti abhisamayatthāya. samaṇabrāhmaṇāti cettha sāsanāvacarā adhippetā. tathā catutthapañcamesu, tena tena abhilāpena bujjhanakānaṃ pana ajjhāsayenetāni vuttāni.

1073-1075. Trong bài kinh thứ ba, từ "abhisamayāya" có nghĩa là vì mục đích liễu tri (thấu đạt / đột phá chân lý). Và từ "samaṇabrāhmaṇā" (các Sa-môn và Bà-la-môn) ở đây là ám chỉ cho những bậc đang thực hành trong giáo pháp (sāsanāvacarā). Điều này cũng tương tự đối với các bài kinh thứ tư và thứ năm. Tuy nhiên, các bài kinh này được thuyết giảng là tùy theo khuynh hướng tâm lý (ajjhāsaye) của những người có khả năng giác ngộ thông qua những cách diễn đạt (tuyên thuyết) khác nhau ấy.

1076. chaṭṭhe abhisambuddhaṃ pakāsesunti abhisambuddho ahanti evaṃ attānaṃ abhisambuddhaṃ pakāsayiṃsu. imasmiñhi sutte sabbaññubuddhā ca samaṇagahaṇena gahitā.

1076. Trong bài kinh thứ sáu, cụm từ "abhisambuddha pakāsesu" (tự chứng tỏ/tuyên bố mình đã giác ngộ trọn vẹn) có nghĩa là họ tự tuyên bố về chính mình rằng: "Tôi là bậc đã giác ngộ trọn vẹn". Và thật vậy, trong bài kinh này, các bậc Chánh Đẳng Chánh Giác (sabbaññubuddhā - bậc Toàn Giác) cũng được bao hàm (thu nhiếp) vào trong danh xưng "Sa-môn" (samaṇagahaṇena).

Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

------------------

Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

Tương Ưng Sự Thật (a)

-ooOoo-

I. Phẩm Ðịnh

1.I. Ðịnh (S.v,414)

1) Ở Sàvatthi...

2) -- Này các Tỷ-kheo, hãy tu tập định. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có định, như thật rõ biết (pajànati). Và như thật rõ biết gì?

3) Như thật rõ biết: "Ðây là Khổ". Như thật rõ biết: "Ðây là Khổ tập". Như thật rõ biết: "Ðây là Khổ diệt". Như thật rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt".

4) Này các Tỷ-kheo, hãy tu tập định. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có định, như thật rõ biết. Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Khổ". Một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Khổ tập". Một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Khổ diệt". Một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt".

2. II. Thiền Tịnh (Patisallàna) (S.v,414)

1) ...

2) -- Này các Tỷ-kheo, hãy chú tâm tu tập Thiền tịnh. Tỷ-kheo tu tập Thiền tịnh, này các Tỷ-kheo, như thật rõ biết. Như thật rõ biết gì?

3) (Như đoạn số 3, kinh trên) ...

4) Này các Tỷ-kheo, hãy chú tâm tu tập Thiền tịnh. Tỷ-kheo tu tập Thiền tịnh, này các Tỷ-kheo, như thật rõ biết. Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt".

3. III. Thiện Nam Tử (1) (S.v,415)

1) ...

2) -- Những thiện nam tử nào trong thời quá khứ, này các Tỷ-kheo, đã chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình; tất cả những vị ấy đã làm như vậy để như thật chứng ngộ bốn Thánh đế.

3) Những thiện nam tử nào trong thời vị lai, này các Tỷ-kheo, sẽ chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình; tất cả những vị ấy sẽ làm như vậy để như thật chứng ngộ bốn Thánh đế.

4) Những thiện nam tử nào trong thời hiện tại, này các Tỷ-kheo, chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình; tất cả những vị ấy làm như vậy để như thật chứng ngộ bốn Thánh đế. Thế nào là bốn?

5) Thánh đế về Khổ, Thánh đế về Khổ tập, Thánh đế về Khổ diệt, Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt.

6) Những thiện nam tử nào trong thời quá khứ, này các Tỷ-kheo, đã chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình... sẽ chơn chánh xuất gia... tất cả những vị ấy làm như vậy để như thật chứng ngộ bốn Thánh đế này. Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Khổ"... Một sự cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt".

4. IV. Thiện Nam Tử (2) (S.v,415)

1) ...

2) -- Những thiện nam tử nào trong thời quá khứ, này các Tỷ-kheo, đã chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình; tất cả những vị ấy đã như thật chứng ngộ bốn Thánh đế.

3) ... trong thời vị lai... sẽ như thật chứng ngộ bốn Thánh đế.

4) ... trong thời hiện tại... như thật chứng ngộ bốn Thánh đế. Thế nào là bốn?

5) Thánh đế về Khổ... Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt.

6) Những thiện nam tử nào trong thời quá khứ, này các Tỷ-kheo, đã chơn chánh xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình, đã như thật chứng ngộ... sẽ như thật chứng ngộ... như thật chứng ngộ. Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Khổ"... Một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt".

5. V. Sa-Môn, Bà-La-Môn (1) (S.v,416)

1) ...

2) -- Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong thời quá khứ, này các Tỷ-kheo, đã như thật chánh đẳng giác, tất cả những vị ấy như thật chánh đẳng giác bốn Thánh đế.

3) ... trong thời vị lai... sẽ như thật chánh đẳng giác bốn Thánh đế.

4) ... trong thời hiện tại... như thật chánh đẳng giác bốn Thánh đế. Thế nào là bốn? Thánh đế về Khổ, Thánh đế về Khổ tập, Thánh đế về Khổ diệt, Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt.

5) Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong thời quá khứ, này các Tỷ-kheo, đã như thật chánh đẳng giác... sẽ như thật chánh đẳng giác... như thật chánh đẳng giác; tất cả những vị ấy như thật chánh đẳng giác bốn Thánh đế này. Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Khổ"... để rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt".

6. VI. Sa-Môn, Bà-La-Môn (2) (S.v,417)

1) ...

2) -- Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong thời quá khứ, này các Tỷ-kheo, đã tuyên bố như thật chánh đẳng giác; tất cả những vị ấy đã tuyên bố như thật chánh đẳng giác bốn Thánh đế.

3) ... trong thời vị lai... sẽ tuyên bố như thật chánh đẳng giác...; tất cả những vị ấy sẽ tuyên bố như thật chánh đẳng giác bốn Thánh đế.

4) ... trong thời hiện tại... tuyên bố như thật chánh đẳng giác...; tất cả những vị ấy tuyên bố như thật chánh đẳng giác bốn Thánh đế. Thế nào là bốn? Thánh đế về Khổ, Thánh đế về Khổ tập, Thánh đế về Khổ diệt, Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt.

5) Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong thời quá khứ, này các Tỷ-kheo, đã tuyên bố như thật chánh đẳng giác... sẽ tuyên bố... tuyên bố như thật chánh đẳng giác, tất cả những vị ấy đã tuyên bố... sẽ tuyên bố... tuyên bố như thật chánh đẳng giác bốn Thánh đế. Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Khổ"... Một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt".