|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Ba, ngày 23 tháng 06, 2026
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
BÀI 691. MỘT SỐ KINH KHỞI ĐẦU TƯƠNG ƯNG DIỆU ĐẾ- Kinh Thiền Định (Samādhisuttaṃ), Kinh Viễn Ly (Paṭisallānasuttaṃ), Kinh Thiện Nam Tử I (Paṭhamakulaputtasuttaṃ), Kinh Thiện Nam Tử II (Dutiyakulaputtasuttaṃ), Kinh Sa-môn và Bà-la-môn I (Paṭhamasamaṇabrāhmaṇasuttaṃ), Kinh Sa-môn và Bà-la-môn II (Dutiyasamaṇabrāhmaṇasuttaṃ).
Sáu bài kinh đầu của phẩm này tuy được trình bày dưới nhiều góc độ khác
nhau như định (samādhi), viễn ly (viveka), xuất gia (pabbajjā),
giác ngộ (sambodhi), nhưng tất cả đều quy tụ về một trọng tâm
duy nhất là Tứ Thánh Đế (Cattāri Ariyasaccāni). Đức Phật cho
thấy rằng định không phải là cứu cánh tự thân, mà là phương tiện
làm cho tâm trở nên trong sáng và vững chắc để thấy biết các
pháp đúng như thật (yathābhūtaṃ). Viễn ly cũng không phải chỉ là
sự xa lánh đám đông về mặt hình thức, mà là điều kiện thuận lợi
giúp phát triển định và tuệ, từ đó thể nhập chân lý. Các bài
kinh về thiện nam tử xuất gia nhấn mạnh rằng mục đích chân chính
của đời sống phạm hạnh không phải là danh vọng, tri thức hay
thần thông, mà là sự chứng ngộ Tứ Thánh Đế. Hai bài kinh về
sa-môn và bà-la-môn lại xác quyết rằng tất cả những ai thực sự
giác ngộ, kể cả các Đức Phật Chánh Đẳng Giác trong ba thời, đều
giác ngộ cùng một chân lý ấy chứ không có một con đường giải
thoát nào khác. Vì vậy, toàn bộ sáu bài kinh có thể xem như một
lời tuyên bố ngắn gọn nhưng sâu sắc rằng: mọi pháp hành chân
chánh đều bắt đầu từ thiền định và viễn ly, nhưng đích đến cuối
cùng luôn là sự thấu triệt Tứ Thánh Đế để chấm dứt vòng luân hồi
sinh tử.
Kinh Văn
Kinh Thiền Định
(Samādhisuttaṃ)
1071. sāvatthinidānaṃ. “samādhiṃ,
bhikkhave, bhāvetha. samāhito, bhikkhave, bhikkhu yathābhūtaṃ
pajānāti. kiñca yathābhūtaṃ pajānāti? ‘idaṃ dukkhan’ti
yathābhūtaṃ pajānāti, ‘ayaṃ dukkhasamudayo’ti yathābhūtaṃ
pajānāti, ‘ayaṃ dukkhanirodho’ti yathābhūtaṃ pajānāti, ‘ayaṃ
dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti yathābhūtaṃ pajānāti. samādhiṃ,
bhikkhave, bhāvetha. samāhito, bhikkhave, bhikkhu yathābhūtaṃ
pajānāti”.
Tại Sāvatthī.
“Này các Tỳ khưu, hãy tu tập định. Một vị Tỳ khưu có định sẽ hiểu các pháp
đúng như thật. Và vị ấy hiểu đúng như thật điều gì?
Vị ấy hiểu đúng như thật rằng: ‘Đây là khổ.’
Vị ấy hiểu đúng như thật rằng: ‘Đây là nguyên nhân của khổ.’
Vị ấy hiểu đúng như thật rằng: ‘Đây là sự diệt tận của khổ.’
Vị ấy hiểu đúng như thật rằng: ‘Đây là con đường đưa đến sự diệt tận của
khổ.’
Này các Tỳ khưu, hãy tu tập định. Một vị Tỳ khưu có định sẽ hiểu các pháp
đúng như thật.
Do vậy, này các Tỳ khưu, cần phải tinh cần để hiểu rằng: ‘Đây là khổ.’²
Cần phải tinh cần để hiểu rằng: ‘Đây là nguyên nhân của khổ.’
Cần phải tinh cần để hiểu rằng: ‘Đây là sự diệt tận của khổ.’
Cần phải tinh cần để hiểu rằng: ‘Đây là con đường đưa đến sự diệt tận của
khổ.’”
Kinh Viễn Ly
(Paṭisallānasuttaṃ)
1072. “paṭisallāne, bhikkhave,
yogamāpajjatha. paṭisallīno, bhikkhave, bhikkhu yathābhūtaṃ
pajānāti. kiñca yathābhūtaṃ pajānāti? ‘idaṃ dukkhan’ti
yathābhūtaṃ pajānāti, ‘ayaṃ dukkhasamudayo’ti yathābhūtaṃ
pajānāti, ‘ayaṃ dukkhanirodho’ti yathābhūtaṃ pajānāti, ‘ayaṃ
dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti yathābhūtaṃ pajānāti.
paṭisallāne, bhikkhave, yogamāpajjatha. paṭisallīno, bhikkhave,
bhikkhu yathābhūtaṃ pajānāti.
“Này các Tỳ khưu, hãy nỗ lực trong sự viễn ly. Một vị Tỳ khưu sống viễn ly
sẽ hiểu các pháp đúng như thật.
Và vị ấy hiểu đúng như thật điều gì?
Vị ấy hiểu đúng như thật rằng: ‘Đây là khổ.’ …
‘Đây là nguyên nhân của khổ.’ …
‘Đây là sự diệt tận của khổ.’ …
‘Đây là con đường đưa đến sự diệt tận của khổ.’ [415]
Này các Tỳ khưu, hãy nỗ lực trong sự viễn ly. Một vị Tỳ khưu sống viễn ly
sẽ hiểu các pháp đúng như thật.
Do vậy, này các Tỳ khưu, cần phải tinh cần để hiểu rằng: ‘Đây là khổ.’ …
Cần phải tinh cần để hiểu rằng: ‘Đây là con đường đưa đến sự diệt tận của
khổ.’”
Kinh Thiện Nam Tử I
(Paṭhamakulaputtasuttaṃ)
1073. “ye hi keci, bhikkhave,
atītamaddhānaṃ kulaputtā sammā agārasmā anagāriyaṃ pabbajiṃsu,
sabbe te catunnaṃ ariyasaccānaṃ yathābhūtaṃ abhisamayāya. ye hi
keci, bhikkhave, anāgatamaddhānaṃ kulaputtā sammā agārasmā
anagāriyaṃ pabbajissanti, sabbe te catunnaṃ ariyasaccānaṃ
yathābhūtaṃ abhisamayāya. ye hi keci, bhikkhave, etarahi
kulaputtā sammā agārasmā anagāriyaṃ pabbajanti, sabbe te
catunnaṃ ariyasaccānaṃ yathābhūtaṃ abhisamayāya.
“Này các Tỳ khưu, bất cứ thiện nam tử nào trong quá khứ đã xuất gia chân
chánh từ đời sống gia đình sang đời sống không gia đình, tất cả
đều làm như vậy để thể nhập Tứ Thánh Đế đúng như thật.
Bất cứ thiện nam tử nào trong tương lai sẽ xuất gia chân chánh từ đời sống
gia đình sang đời sống không gia đình, tất cả đều sẽ làm như vậy
để thể nhập Tứ Thánh Đế đúng như thật.
Bất cứ thiện nam tử nào trong hiện tại đã xuất gia chân chánh từ đời sống
gia đình sang đời sống không gia đình, tất cả đều đã làm như vậy
để thể nhập Tứ Thánh Đế đúng như thật.
Bốn Thánh Đế ấy là gì?
Thánh đế về khổ.
Thánh đế về nguyên nhân của khổ.
Thánh đế về sự diệt tận của khổ.
Thánh đế về con đường đưa đến sự diệt tận của khổ.
Bất cứ thiện nam tử nào đã xuất gia chân chánh... sẽ xuất gia chân
chánh... đã xuất gia chân chánh từ đời sống gia đình sang đời
sống không gia đình, tất cả đều làm như vậy để thể nhập bốn
Thánh Đế này đúng như thật.
Do vậy, này các Tỳ khưu, cần phải tinh cần để hiểu rằng: ‘Đây là khổ.’ …
Cần phải tinh cần để hiểu rằng: ‘Đây là con đường đưa đến sự diệt tận của
khổ.’”
Kinh Thiện Nam Tử II
(Dutiyakulaputtasuttaṃ)
1074. “ye hi keci, bhikkhave,
atītamaddhānaṃ kulaputtā sammā agārasmā anagāriyaṃ pabbajitā
yathābhūtaṃ abhisamesuṃ, sabbe te cattāri ariyasaccāni
yathābhūtaṃ abhisamesuṃ. ye hi keci, bhikkhave, anāgatamaddhānaṃ
kulaputtā sammā agārasmā anagāriyaṃ pabbajitā yathābhūtaṃ
abhisamessanti, sabbe te cattāri ariyasaccāni yathābhūtaṃ
abhisamessanti. ye hi keci, bhikkhave, etarahi kulaputtā sammā
agārasmā anagāriyaṃ pabbajitā yathābhūtaṃ abhisamenti, sabbe te
cattāri ariyasaccāni yathābhūtaṃ abhisamenti.
“Này các Tỳ khưu, bất cứ thiện nam tử nào trong quá khứ đã xuất gia chân
chánh từ đời sống gia đình sang đời sống không gia đình và đã
thể nhập các pháp đúng như thật, tất cả đều đã thể nhập Tứ Thánh
Đế đúng như thật.
Bất cứ thiện nam tử nào trong tương lai sẽ xuất gia chân chánh từ đời sống
gia đình sang đời sống không gia đình và sẽ thể nhập các pháp
đúng như thật, tất cả đều sẽ thể nhập Tứ Thánh Đế đúng như thật.
Bất cứ thiện nam tử nào trong hiện tại đã xuất gia chân chánh từ đời sống
gia đình sang đời sống không gia đình và đang thể nhập các pháp
đúng như thật, tất cả đều thể nhập Tứ Thánh Đế đúng như thật.
Bốn Thánh Đế ấy là gì?
Thánh đế về khổ.
Thánh đế về nguyên nhân của khổ.
Thánh đế về sự diệt tận của khổ.
Thánh đế về con đường đưa đến sự diệt tận của khổ.
Bất cứ thiện nam tử nào đã thể nhập... sẽ thể nhập... đang thể nhập các
pháp đúng như thật, tất cả đều thể nhập bốn Thánh Đế này đúng
như thật.
Do vậy, này các Tỳ khưu, cần phải tinh cần để hiểu rằng: ‘Đây là khổ.’ …
Cần phải tinh cần để hiểu rằng: ‘Đây là con đường đưa đến sự diệt tận của
khổ.’”
Kinh Sa-môn và
Bà-la-môn I (Paṭhamasamaṇabrāhmaṇasuttaṃ)
1075. “ye hi keci, bhikkhave,
atītamaddhānaṃ samaṇā vā brāhmaṇā vā yathābhūtaṃ
abhisambojjhiṃsu, sabbe te cattāri ariyasaccāni yathābhūtaṃ
abhisambojjhiṃsu. ye hi keci, bhikkhave, anāgatamaddhānaṃ samaṇā
vā brāhmaṇā vā yathābhūtaṃ abhisambojjhissanti, sabbe te cattāri
ariyasaccāni yathābhūtaṃ abhisambojjhissanti. ye hi keci,
bhikkhave, etarahi samaṇā vā brāhmaṇā vā yathābhūtaṃ
abhisambojjhanti, sabbe te cattāri ariyasaccāni yathābhūtaṃ
abhisambojjhanti.
“Này các Tỳ khưu, bất cứ sa-môn hay bà-la-môn nào trong quá khứ đã giác
ngộ hoàn toàn các pháp đúng như thật, tất cả đều đã giác ngộ
hoàn toàn Tứ Thánh Đế đúng như thật.
Bất cứ sa-môn hay bà-la-môn nào trong tương lai sẽ giác ngộ hoàn toàn các
pháp đúng như thật, tất cả đều sẽ giác ngộ hoàn toàn Tứ Thánh Đế
đúng như thật.
Bất cứ sa-môn hay bà-la-môn nào trong hiện tại đã giác ngộ hoàn toàn các
pháp đúng như thật, tất cả đều đã giác ngộ hoàn toàn Tứ Thánh Đế
đúng như thật.
Bốn Thánh Đế ấy là gì?
Thánh đế về khổ.
Thánh đế về nguyên nhân của khổ.
Thánh đế về sự diệt tận của khổ.
Thánh đế về con đường đưa đến sự diệt tận của khổ.
Bất cứ sa-môn hay bà-la-môn nào đã giác ngộ hoàn toàn... sẽ giác ngộ hoàn
toàn... đã giác ngộ hoàn toàn các pháp đúng như thật, tất cả đều
đã giác ngộ hoàn toàn bốn Thánh Đế này đúng như thật. [417]
Do vậy, này các Tỳ khưu, cần phải tinh cần để hiểu rằng: ‘Đây là khổ.’ …
Cần phải tinh cần để hiểu rằng: ‘Đây là con đường đưa đến sự diệt tận của
khổ.’”
Kinh Sa-môn và
Bà-la-môn II (Dutiyasamaṇabrāhmaṇasuttaṃ)
1076. “ye hi keci, bhikkhave,
atītamaddhānaṃ samaṇā vā brāhmaṇā vā yathābhūtaṃ abhisambuddhaṃ
pakāsesuṃ, sabbe te cattāri ariyasaccāni yathābhūtaṃ
abhisambuddhaṃ pakāsesuṃ. ye hi keci, bhikkhave,
anāgatamaddhānaṃ samaṇā vā brāhmaṇā vā yathābhūtaṃ
abhisambuddhaṃ pakāsessanti, sabbe te cattāri ariyasaccāni
yathābhūtaṃ abhisambuddhaṃ pakāsessanti. ye hi keci, bhikkhave,
etarahi samaṇā vā brāhmaṇā vā yathābhūtaṃ abhisambuddhaṃ
pakāsenti, sabbe te cattāri ariyasaccāni yathābhūtaṃ
abhisambuddhaṃ pakāsenti.
“Này các Tỳ khưu, bất cứ sa-môn hay bà-la-môn nào trong quá khứ đã tự
tuyên bố mình là người giác ngộ hoàn toàn các pháp đúng như
thật, tất cả đều tự tuyên bố mình là người giác ngộ hoàn toàn Tứ
Thánh Đế đúng như thật.
Bất cứ sa-môn hay bà-la-môn nào trong tương lai sẽ tự tuyên bố mình là
người giác ngộ hoàn toàn các pháp đúng như thật, tất cả đều sẽ
tự tuyên bố mình là người giác ngộ hoàn toàn Tứ Thánh Đế đúng
như thật.
Bất cứ sa-môn hay bà-la-môn nào trong hiện tại tự tuyên bố mình là người
giác ngộ hoàn toàn các pháp đúng như thật, tất cả đều tự tuyên
bố mình là người giác ngộ hoàn toàn Tứ Thánh Đế đúng như thật.
Bốn Thánh Đế ấy là gì?
Thánh đế về khổ.
Thánh đế về nguyên nhân của khổ.
Thánh đế về sự diệt tận của khổ.
Thánh đế về con đường đưa đến sự diệt tận của khổ.
Bất cứ sa-môn hay bà-la-môn nào đã tự tuyên bố... sẽ tự tuyên bố... đang
tự tuyên bố mình là người giác ngộ hoàn toàn các pháp đúng như
thật, tất cả đều tự tuyên bố mình là người giác ngộ hoàn toàn
bốn Thánh Đế này đúng như thật.
Do vậy, này các Tỳ khưu, cần phải tinh cần để hiểu rằng: ‘Đây là khổ.’ …
Cần phải tinh cần để hiểu rằng: ‘Đây là con đường đưa đến sự diệt tận của
khổ.
Chú Thích
Thuật ngữ Yoga nghĩa là
tinh cần, nỗ lực. Trong ngữ cảnh này, "”một sự nỗ lực cần phải
được thực hiện” tương
đương với lời kêu gọi thực hành Tinh tấn (Vāyāma) để liễu tri và
chứng ngộ pháp.
Thuật ngữ
Samādhi
thường được dịch là định - ở đây dịch là “thiền định” hàm nghĩa sự chuyên
chú tu tập nội tâm. Là trạng thái tâm gom tụ, định tĩnh, không
bị phân tán bởi các triền cái (dục ái, sân hận, hôn trầm, trạo
hối, hoài nghi).
Định ở đây là “định học tăng thượng” trong tam học. bao gồm chánh tinh tấn,
chánh niệm, và chánh định. Bài kinh này đưa ra một công thức tu
tập nền tảng: Có Định thì mới có Tuệ (như thật tri kiến). Tâm có
định tĩnh như mặt nước phẳng lặng thì mới phản chiếu trung thực
vạn vật.
Nội dung Tứ Thánh Đế: hành giả có định học sẽ thấy rõ:
Thuật ngữ viễn ly (Paṭisallāna Sutta) bao gồm cả hai khía cạnh:
Độc cư là môi trường vật lý và tâm lý lý tưởng để nuôi dưỡng và phát triển
Định (Kinh số 1).
Thiện nam tử (Kulaputta) (con nhà gia giáo, người thuộc gia đình
dòng tộc tốt). Trong văn cảnh kinh Phật, từ này chỉ những người
có thiện căn, thiện chí, từ bỏ đời sống gia đình tầm thường để
hướng đến lý tưởng cao đẹp.
Abhisamaya (Liễu tri / Thấu đạt / Đột phá) là khoảnh khắc hành giả phá vỡ màn sương mù của vô minh để trực nhận bản
chất của Tứ Thánh Đế, tương đương với việc đắc quả Dự lưu
(Sotāpanna - Thánh quả đầu tiên).
Sự khác biệt giữa Kinh số 3 và Kinh số 4:
Sa-môn và Bà-la-môn (Samaṇabrāhmaṇa) cần được phân biệt:
Đức Phật dùng cụm từ này để chỉ chung cho tất cả những nhà tìm kiếm tâm
linh, những bậc đạo sư đương thời.
Abhisambujjhiṃsu (viên giác). Chỉ sự thành tựu đạo quả tối thượng (Chánh
đẳng chánh giác hoặc A-la-hán).
Paccacaññāsuṃ (Tự Tuyên bố) nghĩa là tự mình khẳng định, tuyên bố
trước đại chúng rằng mình đã đạt được sự giác ngộ tối hậu.
Thông điệp cốt lõi của Kinh 5 & 6: Đức Phật khẳng định tính độc tôn và phổ quát của Tứ Thánh Đế. Bất luận là
vị giáo chủ hay bậc thánh nhân nào trong quá khứ, hiện tại hay
vị lai, nếu họ thực sự giác ngộ tối hậu (Kinh 5) hoặc có năng
lực tuyên bố sự giác ngộ chân chánh (Kinh 6), thì nội dung giác
ngộ của họ bắt buộc và duy nhất phải là Tứ Thánh Đế. Không có sự
giác ngộ nào nằm ngoài bốn sự thật này.
Sớ Giải
1071. saccasaṃyuttassa paṭhame
samādhiṃ, bhikkhaveti te kira bhikkhū cittekaggatāya
parihāyanti, atha nesaṃ satthā — “evamete cittekaggataṃ
labhitvā, kammaṭṭhānaṃ vaḍḍhetvā, visesaṃ pāpuṇissantī”ti imaṃ
desanaṃ ārabhi. tasmātiha, bhikkhave, “idaṃ dukkhan”ti yogo
karaṇīyoti ettha yathābhūtādivasena kāraṇacchedo veditabbo.
idañhi vuttaṃ hoti — bhikkhave, yasmā samāhito bhikkhu cattāri
saccāni yathābhūtaṃ pajānāti, tasmā tumhehi ca samāhitehi
catunnaṃ saccānaṃ yathābhūtaṃ pajānanatthāya “idaṃ dukkhan”ti
yogo karaṇīyo. tathā yasmā cattāri saccāni tathāgatasseva
pātubhāvā pākaṭāni honti, yasmā ca tathāgatena suvibhattāni,
yasmā ca tesu aparimāṇā vaṇṇā aparimāṇāni padabyañjanāni, yasmā
ca tesaṃ appaṭividdhattā vaṭṭaṃ vaḍḍhati, tesaṃ paṭividdhakālato
paṭṭhāya na vaḍḍhati, tasmā “evaṃ no vaṭṭaṃ na vaḍḍhissatī”ti
tumhehi “idaṃ dukkhan”ti yogo karaṇīyo.
1071. Trong bài kinh đầu tiên của Tương Ưng
Sự Thật, về câu "samādhiṃ, bhikkhave" (Này các Tỳ khưu,[hãy phát triển thiền định): Nghe duyên sự rằng, các vị
Tỳ khưu ấy đang bị thối thất (suy giảm) về sự nhất tâm. Khi ấy,
bậc Đạo Sư dạy "Bằng cách này, khi các vị ấy chứng đạt được
sự nhất tâm, phát triển thiền án (kammaṭṭhāna), các vị ấy sẽ chứng đạt được đặc
chứng (thánh quả)", nên Ngài đã khởi xướng bài pháp thoại
này.
Về câu "tasmātiha, bhikkhave, ‘idaṃ dukkhan’ti
yogo karaṇīyo" (Do vậy, này các Tỳ khưu, một sự nỗ lực
cần phải được thực hiện để hiểu rõ: ‘Đây là khổ’): ở đây, sự
phân tích về nguyên nhân (kāraṇaccheda) cần phải được
hiểu rõ thông qua thẩm quyền của từ "đích thực, như thật" (yathābhūta),
v.v...
Ý nghĩa được diễn giải ở đây là như sau: — Này các Tỳ khưu, bởi vì một Tỳ
khưu có thiền định sẽ liễu tri (hiểu rõ) bốn sự thật đúng với
chân tướng; do vậy, bởi các Thầy là những người có định, để liễu
tri bốn sự thật một cách như thật, một sự nỗ lực cần phải được
thực hiện để hiểu rõ: "Đây là khổ".
Cũng vậy, bởi vì Bốn Thánh Đế chỉ trở nên hiển lộ (rõ ràng) nhờ vào sự
xuất hiện của bậc Như Lai; và bởi vì chúng đã được bậc Như Lai
phân tích một cách khéo léo; và bởi vì trong các sự thật ấy có
vô lượng lời ngợi ca, vô lượng chương cú và văn phụ thuộc; và
bởi vì do không đâm thủng (không thấu đạt) được các sự thật ấy
mà vòng luân hồi (vaṭṭa) tiếp tục tăng trưởng, và kể từ
thời điểm đâm thủng được chúng thì vòng luân hồi không còn tăng
trưởng nữa; do vậy, với tâm niệm: "Bằng cách này, vòng luân
hồi của chúng ta sẽ không tăng trưởng nữa", các ông cần phải
thực hiện một sự nỗ lực để hiểu rõ: "Đây là khổ".
1072. dutiyaṃ kāyavivekavikalānaṃ
kāyavivekapaṭilābhatthāya vuttaṃ.
1072. Bài kinh thứ hai (dutiyaṃ) được thuyết
giảng dành cho những vị đang thiếu thốn sự viễn ly về thân
(kāyavivekavikalānaṃ), nhằm mục đích giúp họ chứng đạt được sự
viễn ly về thân (kāyavivekapaṭilābhatthāya).
1073 - 1075. tatiye abhisamayāyāti
abhisamayatthāya. samaṇabrāhmaṇāti cettha sāsanāvacarā
adhippetā. tathā catutthapañcamesu, tena tena abhilāpena
bujjhanakānaṃ pana ajjhāsayenetāni vuttāni.
1073-1075. Trong bài kinh thứ ba, từ "abhisamayāya" có nghĩa là vì mục
đích liễu tri (thấu đạt / đột phá chân lý). Và từ
"samaṇabrāhmaṇā" (các Sa-môn và Bà-la-môn) ở đây là ám chỉ cho
những bậc đang thực hành trong giáo pháp (sāsanāvacarā). Điều
này cũng tương tự đối với các bài kinh thứ tư và thứ năm. Tuy
nhiên, các bài kinh này được thuyết giảng là tùy theo khuynh
hướng tâm lý (ajjhāsaye) của những người có khả năng giác ngộ
thông qua những cách diễn đạt (tuyên thuyết) khác nhau ấy.
1076. chaṭṭhe abhisambuddhaṃ
pakāsesunti abhisambuddho ahanti evaṃ attānaṃ abhisambuddhaṃ
pakāsayiṃsu. imasmiñhi sutte sabbaññubuddhā ca samaṇagahaṇena
gahitā.
1076. Trong bài kinh thứ sáu, cụm từ "abhisambuddhaṃ pakāsesuṃ" (tự chứng tỏ/tuyên bố mình đã giác ngộ
trọn vẹn) có nghĩa là họ tự tuyên bố về chính mình rằng: "Tôi
là bậc đã giác ngộ trọn vẹn". Và thật vậy, trong bài kinh
này, các bậc Chánh Đẳng Chánh Giác (sabbaññubuddhā - bậc Toàn
Giác) cũng được bao hàm (thu nhiếp) vào trong danh xưng "Sa-môn"
(samaṇagahaṇena).
------------------
Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu
Tương Ưng Sự Thật (a)
-ooOoo-
I. Phẩm Ðịnh
1.I. Ðịnh (S.v,414)
1) Ở Sàvatthi...
2) -- Này các Tỷ-kheo, hãy tu tập định. Này các Tỷ-kheo,
Tỷ-kheo có định, như thật rõ biết (pajànati). Và như thật rõ
biết gì?
3) Như thật rõ biết: "Ðây là Khổ". Như thật rõ biết: "Ðây là
Khổ tập". Như thật rõ biết: "Ðây là Khổ diệt". Như thật rõ biết:
"Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt".
4) Này các Tỷ-kheo, hãy tu tập định. Này các Tỷ-kheo,
Tỷ-kheo có định, như thật rõ biết. Do vậy, này các Tỷ-kheo, một
cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Khổ". Một cố gắng cần
phải làm để rõ biết: "Ðây là Khổ tập". Một cố gắng cần phải làm
để rõ biết: "Ðây là Khổ diệt". Một cố gắng cần phải làm để rõ
biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt".
2. II. Thiền Tịnh (Patisallàna) (S.v,414)
1) ...
2) -- Này các Tỷ-kheo, hãy chú tâm tu tập Thiền tịnh.
Tỷ-kheo tu tập Thiền tịnh, này các Tỷ-kheo, như thật rõ biết.
Như thật rõ biết gì?
3) (Như đoạn số 3, kinh trên) ...
4) Này các Tỷ-kheo, hãy chú tâm tu tập Thiền tịnh. Tỷ-kheo
tu tập Thiền tịnh, này các Tỷ-kheo, như thật rõ biết. Do vậy,
này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: Ðây là Con
Ðường đưa đến Khổ diệt".
3. III. Thiện Nam Tử (1) (S.v,415)
1) ...
2) -- Những thiện nam tử nào trong thời quá khứ, này các
Tỷ-kheo, đã chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia
đình; tất cả những vị ấy đã làm như vậy để như thật chứng ngộ
bốn Thánh đế.
3) Những thiện nam tử nào trong thời vị lai, này các
Tỷ-kheo, sẽ chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia
đình; tất cả những vị ấy sẽ làm như vậy để như thật chứng ngộ
bốn Thánh đế.
4) Những thiện nam tử nào trong thời hiện tại, này các
Tỷ-kheo, chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia
đình; tất cả những vị ấy làm như vậy để như thật chứng ngộ bốn
Thánh đế. Thế nào là bốn?
5) Thánh đế về Khổ, Thánh đế về Khổ tập, Thánh đế về Khổ
diệt, Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt.
6) Những thiện nam tử nào trong thời quá khứ, này các
Tỷ-kheo, đã chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia
đình... sẽ chơn chánh xuất gia... tất cả những vị ấy làm như vậy
để như thật chứng ngộ bốn Thánh đế này. Do vậy, này các Tỷ-kheo,
một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Khổ"... Một sự cố
gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ
diệt".
4. IV. Thiện Nam Tử (2) (S.v,415)
1) ...
2) -- Những thiện nam tử nào trong thời quá khứ, này các
Tỷ-kheo, đã chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia
đình; tất cả những vị ấy đã như thật chứng ngộ bốn Thánh đế.
3) ... trong thời vị lai... sẽ như thật chứng ngộ bốn Thánh
đế.
4) ... trong thời hiện tại... như thật chứng ngộ bốn Thánh
đế. Thế nào là bốn?
5) Thánh đế về Khổ... Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ
diệt.
6) Những thiện nam tử nào trong thời quá khứ, này các
Tỷ-kheo, đã chơn chánh xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia
đình, đã như thật chứng ngộ... sẽ như thật chứng ngộ... như thật
chứng ngộ. Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để
rõ biết: "Ðây là Khổ"... Một cố gắng cần phải làm để rõ biết:
"Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt".
5. V. Sa-Môn,
Bà-La-Môn (1) (S.v,416)
1) ...
2) -- Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong thời quá khứ, này
các Tỷ-kheo, đã như thật chánh đẳng giác, tất cả những vị ấy như
thật chánh đẳng giác bốn Thánh đế.
3) ... trong thời vị lai... sẽ như thật chánh đẳng giác bốn
Thánh đế.
4) ... trong thời hiện tại... như thật chánh đẳng giác bốn
Thánh đế. Thế nào là bốn? Thánh đế về Khổ, Thánh đế về Khổ tập,
Thánh đế về Khổ diệt, Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt.
5) Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong thời quá khứ, này
các Tỷ-kheo, đã như thật chánh đẳng giác... sẽ như thật chánh
đẳng giác... như thật chánh đẳng giác; tất cả những vị ấy như
thật chánh đẳng giác bốn Thánh đế này. Do vậy, này các Tỷ-kheo,
một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Khổ"... để rõ biết:
"Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt".
6. VI. Sa-Môn,
Bà-La-Môn (2) (S.v,417)
1) ...
2) -- Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong thời quá khứ, này
các Tỷ-kheo, đã tuyên bố như thật chánh đẳng giác; tất cả những
vị ấy đã tuyên bố như thật chánh đẳng giác bốn Thánh đế.
3) ... trong thời vị lai... sẽ tuyên bố như thật chánh đẳng
giác...; tất cả những vị ấy sẽ tuyên bố như thật chánh đẳng giác
bốn Thánh đế.
4) ... trong thời hiện tại... tuyên bố như thật chánh đẳng
giác...; tất cả những vị ấy tuyên bố như thật chánh đẳng giác
bốn Thánh đế. Thế nào là bốn? Thánh đế về Khổ, Thánh đế về Khổ
tập, Thánh đế về Khổ diệt, Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ
diệt.
5) Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong thời quá khứ, này
các Tỷ-kheo, đã tuyên bố như thật chánh đẳng giác... sẽ tuyên
bố... tuyên bố như thật chánh đẳng giác, tất cả những vị ấy đã
tuyên bố... sẽ tuyên bố... tuyên bố như thật chánh đẳng giác bốn
Thánh đế. Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để
rõ biết: "Ðây là Khổ"... Một cố gắng cần phải làm để rõ biết:
"Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt".
|