BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Năm, ngày 25 tháng 06, 2026

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập V–Chương 56. Tương Ưng Diệu Đế- Phẩm Thiền Định.SN 56. 08, 09, 10.
BÀI 693. MỘT SỐ KINH VỀ SỐNG VỚI TỨ ĐẾ-

Kinh Suy Gẫm (Cintasuttaṃ), Kinh Tranh Luận (Viggāhikakathāsuttaṃ), Kinh Tạp Đàm Vô Ích (Tiracchānakathāsuttaṃ).
  http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-693.jpg

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png Ba bài kinh trong bài nầy tình cờ liên hệ đến cánh cửa của đời sống tu tập: tư duy, lời nói và nội dung của lời nói. Đức Phật không chỉ dạy người đệ tử phải tránh điều ác, mà còn chỉ rõ rằng con đường đưa đến giác ngộ bắt đầu từ việc biết đặt tâm mình vào đúng đối tượng. Tâm suy nghĩ điều gì thì lời nói sẽ hướng về điều ấy; lời nói hướng về điều gì thì đời sống sẽ đi theo hướng ấy. Vì vậy, Ngài không khuyến khích người tu phí thời gian vào những suy đoán siêu hình như thế giới hữu hạn hay vô hạn, Như Lai còn hay không còn sau khi nhập diệt, bởi những câu hỏi ấy tuy có thể kích thích trí tò mò nhưng không làm giảm bớt một mảy may tham, sân, si. Thay vào đó, Đức Phật đưa tâm trở về với một đề tài duy nhất có giá trị giải thoát: Khổ, nguyên nhân của Khổ, sự diệt Khổ và con đường đưa đến diệt Khổ. Đây chính là sự chuyển hướng từ tri thức thuần túy sang trí tuệ thực chứng. Tiếp theo, bài kinh về tranh luận nhắc nhở một căn bệnh rất phổ biến của con người: thích hơn thua trong quan điểm. Một người có thể nói về Phật pháp rất nhiều nhưng mục đích chỉ để chứng minh mình đúng, người khác sai. Khi ấy, Giáo pháp đã trở thành công cụ nuôi dưỡng ngã mạn thay vì đoạn trừ ngã chấp. Đức Phật không phủ nhận việc trao đổi hay biện luận về Chánh pháp, nhưng Ngài phủ nhận mọi cuộc tranh luận xuất phát từ tâm hiếu thắng. Chân lý không lớn lên nhờ chiến thắng trong tranh cãi, mà lớn lên nhờ sự lắng nghe, quán chiếu và thực hành. Người càng gần Chánh pháp thì càng khiêm cung; người càng chấp vào cái "ta hiểu" thì càng xa mục đích giải thoát. Đến bài kinh thứ ba, Đức Phật mở rộng phạm vi sang những câu chuyện đời thường. Điều đáng chú ý là theo Chú giải (Aṭṭhakathā), Đức Phật không hề cấm tuyệt đối việc nói về vua chúa, chiến tranh, người thân, làng xóm hay thức ăn. Điều Ngài ngăn cấm là nói với tâm tham đắm, ca ngợi, hưởng thụ và dính mắc. Cũng chính những đề tài ấy, nếu được dùng để quán vô thường, nghiệp báo, công đức hay sự hoại diệt của mọi pháp, thì lại trở thành đề mục tu tập. Điều này cho thấy Phật giáo không đánh giá lời nói chỉ bằng đề tài bên ngoài, mà bằng động cơ và kết quả của lời nói. Một câu chuyện về chiến tranh có thể làm tăng lòng hận thù, nhưng cũng có thể khơi dậy sự quán niệm về vô thường. Một câu chuyện về sự giàu sang có thể nuôi lớn tham dục, nhưng cũng có thể nhắc nhở về phước báu và trách nhiệm bố thí. Chính tâm người nói quyết định giá trị của lời nói. Ba bài kinh vì thế mang một thông điệp vô cùng sâu sắc và cũng rất thiết thực cho thời đại ngày nay. Trong một thế giới mà con người bị cuốn vào vô số thông tin, mạng xã hội, tranh cãi và những câu chuyện bất tận, Đức Phật nhắc chúng ta hãy luôn tự hỏi: Điều mình đang suy nghĩ có đưa đến ly tham không? Điều mình đang nói có giúp giảm bớt khổ đau không? Điều mình đang bàn luận có dẫn tâm đến trí tuệ và giải thoát không? Nếu câu trả lời là không, thì dù câu chuyện ấy có hấp dẫn, thời sự hay uyên bác đến đâu, nó vẫn chỉ là tiracchānakathā – lời nói đi ngang con đường giải thoát. Ngược lại, bất cứ suy nghĩ hay lời nói nào giúp tâm hướng về Tứ Thánh Đế, nuôi lớn chánh niệm, trí tuệ và lòng từ bi, thì chính lúc ấy, đời sống hằng ngày cũng trở thành con đường thực hành Phật pháp. Đây là giá trị vượt thời gian của ba bài kinh: giữ cho tâm luôn đi đúng hướng, giữ cho lời luôn có ý nghĩa, và giữ cho cuộc đời luôn tiến về Niết-bàn.

Kinh Văn

Kinh Suy Gẫm  (Cintasuttaṃ)

1078. “mā, bhikkhave, pāpakaṃ akusalaṃ cittaṃ cinteyyātha {cintetha (sī. syā. kaṃ.)} — ‘sassato loko’ti vā ‘asassato loko’ti vā, ‘antavā loko’ti vā ‘anantavā loko’ti vā, ‘taṃ jīvaṃ taṃ sarīran’ti vā ‘aññaṃ jīvaṃ aññaṃ sarīran’ti vā, ‘hoti tathāgato paraṃ maraṇā’ti vā ‘na hoti tathāgato paraṃ maraṇā’ti vā, ‘hoti ca na ca hoti tathāgato paraṃ maraṇā’ti vā, ‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṃ maraṇā’ti vā. taṃ kissa hetu? nesā, bhikkhave, cintā atthasaṃhitā nādibrahmacariyakā na nibbidāya na virāgāya na nirodhāya na upasamāya na abhiññāya na sambodhāya na nibbānāya saṃvattati.
“cintentā ca kho tumhe, bhikkhave, ‘idaṃ dukkhan’ti cinteyyātha, ‘ayaṃ dukkhasamudayo’ti cinteyyātha, ‘ayaṃ dukkhanirodho’ti cinteyyātha, ‘ayaṃ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti cinteyyātha. taṃ kissa hetu? esā, bhikkhave, cintā atthasaṃhitā, esā ādibrahmacariyakā, esā nibbidāya virāgāya nirodhāya upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṃvattati.
“tasmātiha, bhikkhave, ‘idaṃ dukkhan’ti yogo karaṇīyo ... pe ... ‘ayaṃ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti yogo karaṇīyo”ti. aṭṭhamaṃ.

Đức Thế Tôn dạy:

“Này các Tỳ khưu, chớ suy gẫm theo cách tà vạy, bất thiện rằng:

‘Thế giới là thường hằng’ hay ‘Thế giới không thường hằng’;

‘Thế giới là hữu biên’ hay ‘Thế giới là vô biên’;

‘Linh hồn và thân xác là một’ hay ‘Linh hồn là một, thân xác là một thứ khác’;

‘Như Lai còn tồn tại sau khi chết’, hay ‘Như Lai không còn tồn tại sau khi chết’, hay ‘Như Lai vừa tồn tại vừa không tồn tại sau khi chết’, hay ‘Như Lai không tồn tại cũng không phải không tồn tại sau khi chết.’

Vì sao vậy?

Này các Tỳ khưu, những suy gẫm ấy không đem lại lợi ích, không liên hệ đến những nền tảng của Phạm hạnh, không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ và Niết-bàn.

Khi suy gẫm, này các Tỳ khưu, các Thầy nên suy gẫm:

‘Đây là Khổ.’

‘Đây là nguyên nhân của Khổ.’

‘Đây là sự diệt tận của Khổ.’

‘Đây là con đường đưa đến sự diệt tận của Khổ.’

Vì sao vậy?

Bởi vì, này các Tỳ khưu, những suy gẫm ấy đem lại lợi ích, liên hệ trực tiếp đến cốt lõi của đời sống Phạm hạnh, và dẫn đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ và Niết-bàn.

Do vậy, này các Tỳ khưu, hãy nỗ lực để thấu hiểu:

‘Đây là Khổ.’

… Hãy nỗ lực để thấu hiểu:

‘Đây là Con đường đưa đến sự diệt tận của Khổ.’”

Kinh Tranh Luận  (Viggāhikakathāsuttaṃ)

1079. “mā, bhikkhave, viggāhikakathaṃ katheyyātha {kathetha (sī. syā. kaṃ.)} ‘na tvaṃ imaṃ dhammavinayaṃ ājānāsi, ahaṃ imaṃ dhammavinayaṃ ājānāmi. kiṃ tvaṃ imaṃ dhammavinayaṃ ājānissasi! micchāpaṭipanno tvamasi, ahamasmi sammāpaṭipanno. sahitaṃ me, asahitaṃ te. purevacanīyaṃ pacchā avaca, pacchāvacanīyaṃ pure avaca. adhiciṇṇaṃ {aciṇṇaṃ (syā. kaṃ. pī.)} te viparāvattaṃ. āropito te vādo, cara vādappamokkhāya. niggahitosi, nibbeṭhehi vā sace pahosī’ti. taṃ kissa hetu? nesā, bhikkhave, kathā atthasaṃhitā nādibrahmacariyakā na nibbidāya na virāgāya na nirodhāya na upasamāya na abhiññāya na sambodhāya na nibbānāya saṃvattati.
“kathentā ca kho tumhe, bhikkhave, ‘idaṃ dukkhan’ti katheyyātha, ‘ayaṃ dukkhasamudayo’ti katheyyātha, ‘ayaṃ dukkhanirodho’ti katheyyātha, ‘ayaṃ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti katheyyātha ... pe ... yogo karaṇīyo”ti. navamaṃ.

Đức Thế Tôn dạy:

“Này các Tỳ khưu, chớ tham gia vào những cuộc tranh luận hơn thua, như nói rằng:

‘Thầy không hiểu Giáo pháp và Luật này; chỉ có tôi mới hiểu Giáo pháp và Luật này.

Thầy hiểu gì chứ?

Thầy thực hành sai, tôi thực hành đúng.

Điều đáng lẽ phải nói trước thì Thầy lại nói sau; điều đáng lẽ phải nói sau thì Thầy lại nói trước.

Lập luận của tôi nhất quán, còn Thầy thì mâu thuẫn.

Điều Thầy suy nghĩ bấy lâu nay đã bị bác bỏ.

Chủ thuyết của Thầy đã bị đánh đổ.

Hãy đi cứu lấy lập luận của mình nếu còn có thể; hoặc hãy tự gỡ rối nếu làm được.’

Vì sao vậy?

Bởi vì, này các Tỳ khưu, lối nói ấy không đem lại lợi ích, không liên hệ đến nền tảng của Phạm hạnh, không dẫn đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ và Niết-bàn.

Khi nói chuyện, này các Tỳ khưu, các Thầy nên nói về:

‘Đây là Khổ.’

‘Đây là nguyên nhân của Khổ.’

‘Đây là sự diệt tận của Khổ.’

‘Đây là con đường đưa đến sự diệt tận của Khổ.’

Vì sao vậy?

Bởi vì, này các Tỳ khưu, cuộc đàm luận như vậy đem lại lợi ích, phù hợp với cốt lõi của đời sống Phạm hạnh, và dẫn đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ và Niết-bàn.

Do vậy, này các Tỳ khưu, hãy nỗ lực để thấu hiểu:

‘Đây là Khổ.’

… Hãy nỗ lực để thấu hiểu:

‘Đây là Con đường đưa đến sự diệt tận của Khổ.’”

Kinh Tạp Đàm Vô Ích (Tiracchānakathāsuttaṃ)

1080. “mā, bhikkhave, anekavihitaṃ tiracchānakathaṃ katheyyātha, seyyathidaṃ — rājakathaṃ corakathaṃ mahāmattakathaṃ senākathaṃ, bhayakathaṃ yuddhakathaṃ, annakathaṃ pānakathaṃ vatthakathaṃ sayanakathaṃ mālākathaṃ gandhakathaṃ, ñātikathaṃ yānakathaṃ gāmakathaṃ nigamakathaṃ nagarakathaṃ janapadakathaṃ itthikathaṃ {itthikathaṃ purisakathaṃ (syā. kaṃ. pī. ka.)} sūrakathaṃ visikhākathaṃ kumbhaṭṭhānakathaṃ, pubbapetakathaṃ nānattakathaṃ, lokakkhāyikaṃ samuddakkhāyikaṃ itibhavābhavakathaṃ iti vā. taṃ kissa hetu? nesā, bhikkhave, kathā atthasaṃhitā nādibrahmacariyakā na nibbidāya na virāgāya na nirodhāya na upasamāya na abhiññāya na sambodhāya na nibbānāya saṃvattati.
“kathentā ca kho tumhe, bhikkhave, ‘idaṃ dukkhan’ti katheyyātha, ‘ayaṃ dukkhasamudayo’ti katheyyātha, ‘ayaṃ dukkhanirodho’ti katheyyātha, ‘ayaṃ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti katheyyātha. taṃ kissa hetu? esā, bhikkhave, kathā atthasaṃhitā, esā ādibrahmacariyakā, esā nibbidāya virāgāya nirodhāya upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṃvattati.
“tasmātiha, bhikkhave, ‘idaṃ dukkhan’ti yogo karaṇīyo ... pe ... ‘ayaṃ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti yogo karaṇīyo”ti. dasamaṃ.

Đức Thế Tôn dạy:

“Này các Tỳ khưu, chớ đắm mình trong đủ loại chuyện tạp đàm vô ích, như:

chuyện các vua chúa, trộm cướp và quan lại;

chuyện quân đội, hiểm họa và chiến tranh;

chuyện ăn uống, y phục và chỗ nằm;

chuyện vòng hoa và hương liệu;

chuyện thân quyến;

chuyện xe cộ;

chuyện làng mạc, thị trấn, thành phố và quốc gia;

chuyện phụ nữ và các bậc anh hùng;

chuyện đầu đường cuối chợ;

chuyện bên giếng nước;

chuyện người đã khuất từ thuở xa xưa;

những câu chuyện tán gẫu lan man;

những suy đoán về thế giới và biển cả;

hay những bàn luận về việc sẽ trở thành cái này hay cái khác.

Vì sao vậy?

Bởi vì, này các Tỳ khưu, những cuộc nói chuyện ấy không đem lại lợi ích, không liên hệ đến nền tảng của Phạm hạnh, không dẫn đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ và Niết-bàn.

Khi nói chuyện, này các Tỳ khưu, các Thầy nên nói về:

‘Đây là Khổ.’

‘Đây là nguyên nhân của Khổ.’

‘Đây là sự diệt tận của Khổ.’

‘Đây là con đường đưa đến sự diệt tận của Khổ.’

Vì sao vậy?

Bởi vì, này các Tỳ khưu, cuộc đàm luận như vậy đem lại lợi ích, liên hệ trực tiếp đến cốt lõi của đời sống Phạm hạnh, và dẫn đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ và Niết-bàn.

Do vậy, này các Tỳ khưu, hãy nỗ lực để thấu hiểu:

‘Đây là Khổ.’

… Hãy nỗ lực để thấu hiểu:

‘Đây là Con đường đưa đến sự diệt tận của Khổ.’”

Chú Thích
1. Kinh số 8: Sự Suy Nghĩ (Reflection) – Bẫy Tri Thức Và Những Câu Hỏi Vô Bổ

Đức Phật liệt kê một loạt các câu hỏi siêu hình: Thế giới có vô tận không? Linh hồn và thể xác là một hay hai? Sau khi chết bậc Giác Ngộ đi đâu?

Con người hiện đại dành rất nhiều thời gian cho những cuộc tranh luận mang tính triết học trừu tượng, hoặc bị ám ảnh bởi những câu hỏi không có lời đáp. Chúng ta lướt các diễn đàn, đọc về các giả thuyết vũ trụ mô phỏng, tranh cãi về sự tồn tại của thế giới sau cái chết. Đức Phật gọi đây là "suy nghĩ ác bất thiện vì nó không giải quyết được nỗi đau thực tại. Giống như một người bị trúng mũi tên độc, thay vì rút tên ra cứu mạng, người đó lại ngồi hỏi: Ai bắn mũi tên? Cung làm bằng gỗ gì? Mũi tên bay từ hướng nào? Trước khi có câu trả lời, người đó đã chết. Thay vì suy nghĩ viển vông, hãy đối diện với thực tại: Nỗi đau này là gì? Nó đến từ đâu? Làm sao để chấm dứt nó? Đó chính là việc quay về quan sát và chuyển hóa đau khổ ngay trong hiện tại.

2. Kinh số 9: Tranh Luận (Disputatious Talk) – Cái Bẫy Của Bản Ngã

Đoạn kinh mô tả chính xác những gì đang diễn ra trên mạng xã hội ngày nay: "Bạn không hiểu, tôi mới hiểu", "Bạn thực hành sai rồi", "Luận điểm của bạn đã bị bẻ gãy, hãy đi mà cứu lấy nó!"  Những cuộc "bàn luận" trên Internet hay ngoài đời thực thường nhanh chóng biến thành những cuộc chiến của bản ngã. Chúng ta không tranh luận để tìm ra sự thật; chúng ta tranh luận để chứng minh mình đúng và người khác sai.  Kiểu trò chuyện này tích tụ năng lượng tiêu cực, làm tâm trí xáo động, tạo ra sự chia rẽ và thù hận. Nó hoàn toàn đi ngược lại với sự bình an (peace) và tĩnh lặng.Nếu lời nói không hướng đến sự thấu hiểu, không giúp giảm bớt gánh nặng tâm lý cho mình và người nghe, thì tốt nhất là giữ sự im lặng thánh thiện. Khi nói, hãy nói về giải pháp vượt qua nghịch cảnh và chuyển hóa tâm thức.

3. Kinh số 10: Trò Chuyện Phù Phiếm – Sự Tiêu Hao Năng Lượng

Đức Phật liệt kê: Chuyện vua chúa, trộm cướp, chính trị, chiến tranh, chuyện ăn mặc, xe cộ, chuyện đàn bà, anh hùng, chuyện phiếm ngoài phố, chuyện quá khứ...

Đây chính là "news feed" của chúng ta ngày nay. Chúng ta tiêu thụ hàng giờ đồng hồ cho những tin tức giật gân, chuyện phiếm của người nổi tiếng, drama chính trị, hay những cuộc tán gẫu vô thưởng vô phạt bên ly cà phê.Đức Phật gọi đây là "lời nói không đem lại lợi ích" (tiracchana-katha - dịch nghĩa đen là 'lời nói của súc sinh' hay lời nói ngang bướng, không hướng thượng). Nó làm tâm trí chúng ta bị phân tán, đầy rác rưởi thông tin, và luôn ở trạng thái phóng dật (bồn chồn, không định tĩnh). Giảm bớt sự tò mò hướng ngoại. Tập trung vào thực tại để hiểu về cấu trúc của khổ đau và con đường tự do.

Cốt lõi của Tứ Diệu Đế trong đời sống hàng ngày: Đức Phật lặp đi lặp lại một công thức duy nhất để thay thế cho ba thói quen trên: Nhận diện Khổ, Tìm nguyên nhân của Khổ, Thấy sự Chấm dứt Khổ, và Thực hành con đường thoát Khổ.

Một ví dụ về cách thực hành: Khi  buồn chán, thay vì lên mạng đọc tin tức (Kinh 10), hay lên diễn đàn tranh cãi (Kinh 9), hay ngồi suy sụp nghĩ về số phận (Kinh 8) thì hãy ngồi xuống, nhìn thẳng vào cảm giác buồn chán đó: Nó từ đâu đến? Nó đang vận hành như thế nào trong cơ thể? Làm sao để tâm trí buông xả nó? Đó chính là "Sự nỗ lực cần phải thực hiện"

Sớ Giải

Không có bản sớ giải cho hai bài kinh đầu.

1080. “mā, bhikkhave, anekavihitaṃ tiracchānakathaṃ katheyyātha, seyyathidaṃ — rājakathaṃ corakathaṃ mahāmattakathaṃ senākathaṃ, bhayakathaṃ yuddhakathaṃ, annakathaṃ pānakathaṃ vatthakathaṃ sayanakathaṃ mālākathaṃ gandhakathaṃ, ñātikathaṃ yānakathaṃ gāmakathaṃ nigamakathaṃ nagarakathaṃ janapadakathaṃ itthikathaṃ {itthikathaṃ purisakathaṃ (syā. kaṃ. pī. ka.)} sūrakathaṃ visikhākathaṃ kumbhaṭṭhānakathaṃ, pubbapetakathaṃ nānattakathaṃ, lokakkhāyikaṃ samuddakkhāyikaṃ itibhavābhavakathaṃ iti vā. taṃ kissa hetu? nesā, bhikkhave, kathā atthasaṃhitā nādibrahmacariyakā na nibbidāya na virāgāya na nirodhāya na upasamāya na abhiññāya na sambodhāya na nibbānāya saṃvattati.
“kathentā ca kho tumhe, bhikkhave, ‘idaṃ dukkhan’ti katheyyātha, ‘ayaṃ dukkhasamudayo’ti katheyyātha, ‘ayaṃ dukkhanirodho’ti katheyyātha, ‘ayaṃ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti katheyyātha. taṃ kissa hetu? esā, bhikkhave, kathā atthasaṃhitā, esā ādibrahmacariyakā, esā nibbidāya virāgāya nirodhāya upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṃvattati.
“tasmātiha, bhikkhave, ‘idaṃ dukkhan’ti yogo karaṇīyo ... pe ... ‘ayaṃ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti yogo karaṇīyo”ti. dasamaṃ.

 1080. Trong kinh thứ mười, “anekavihitan” nghĩa là đủ loại, nhiều thứ. “Tiracchānakathan” nghĩa là loại lời nói ngang hàng với bàng sinh (tiracchāna), vì không dẫn đến cõi trời (sagga), không dẫn đến đạo giải thoát (mokkhāmagga), nên gọi là tiracchānakathā (lời nói thấp kém, vô ích).

Trong “rājakathā” (nói về vua chúa) v.v…: Lấy vua chúa làm đề tài, nói theo kiểu “Đại chúng tựu vương (Mahāsammata), Mandhātā, Dhammāsoka có uy lực lớn như vậy”… thì gọi là rājakathā. Cách giải thích tương tự cho corakathā (nói về trộm cướp) v.v…

Trong những đề tài ấy, nếu nói theo kiểu “Vị vua kia đẹp trai, đáng nhìn”… thì đó là gehasitakathā (lời nói hướng về nhà cửa, thế tục, dục lạc) → thuộc tiracchānakathā. Nhưng nếu nói “Vị vua có uy lực lớn như vậy mà cũng đi vào chỗ diệt vong” thì thuộc về kammaṭṭhāna (đối tượng thiền quán).

Với trộm cướp, nói “Mūladeva có uy lực lớn như vậy, Meghamāla có uy lực lớn như vậy”, vì nghiệp của họ mà nói “Ôi, những kẻ anh hùng”… thì đó là gehasitakathā → tiracchānakathā. Còn nếu nói “Chúng cũng đi vào chỗ diệt vong” thì thuộc kammaṭṭhāna.

Trong chiến tranh, như cuộc chiến Bharata, nói “Người này bị người kia giết, bị đâm như vậy”… chỉ vì sự khoái lạc dục vọng (kāmassāda) thì là tiracchānakathā. Nhưng nếu nói “Họ cũng đi vào chỗ diệt vong” thì thuộc kammaṭṭhāna ở mọi trường hợp.

Hơn nữa, với thức ăn (anna) v.v…, nói “Chúng ta đã ăn, uống, dùng những thứ  sắc đẹp, mùi thơm, vị ngon, xúc lạc”… chỉ vì dục lạc thì không được phép. Nhưng nếu nói có ý nghĩa (sātthakaṃ), như “Ngày xưa chúng ta đã dâng cúng thức ăn, uống, y phục, chỗ nằm, vòng hoa, hương thơm, dầu thơm cho các bậc giữ giới; chúng ta đã cúng dường ở tháp”… thì được phép.

 Với ñātikathā (nói về bà con) v.v…, nói “Bà con của chúng ta anh hùng, giỏi giang” hay “Ngày xưa chúng ta đi lại bằng những xe cộ đẹp đẽ như vậy”… chỉ vì sự hưởng thụ thì không được. Nhưng nếu nói có ý nghĩa, như “Bà con của chúng ta cũng đã diệt vong” hoặc “Ngày xưa chúng ta đã dâng giày dép như vậy cho Tăng đoàn”… thì được phép nói.

Với gāmakathā (nói về làng mạc) v.v…, nói theo kiểu làng thịnh vượng hay nghèo khó, hay “Dân làng kia anh hùng, giỏi giang”… chỉ vì hưởng thụ thì không được; nhưng nếu nói “Họ có lòng tin, hoan hỷ” hoặc “Họ đã diệt vong”… thì được phép. Cách này cũng áp dụng cho nigamanagara (thị trấn, thành phố), janapada (quốc gia).

 Itthikathā (nói về phụ nữ): Không được nói vì hình dáng, sắc vóc… chỉ để hưởng thụ dục lạc; chỉ được nói “Họ có lòng tin, hoan hỷ, đã diệt vong”.

Sūrakathā (nói về anh hùng): Không được nói “Võ sĩ Nandimitta là người anh hùng” chỉ để hưởng thụ; chỉ được nói “Ông ấy có lòng tin, hoan hỷ, đã diệt vong”. (Có bản đọc là surākathā – nói về rượu).

Loại surākathā này, nói “Rượu như vậy uống vào sinh vui thích” chỉ vì dục lạc thì không được; nhưng nói theo khía cạnh tai hại như “Nó dẫn đến điên loạn”… thì được phép.

Visikhākathā (nói chuyện đường phố): Không được nói “Con đường kia đẹp đẽ hay xấu xí”, “Dân cư trên đường kia anh hùng, giỏi giang”… chỉ vì hưởng thụ; chỉ được nói “Họ có lòng tin, hoan hỷ, đã diệt vong”.

Kumbhaṭṭhānakathā: Chỉ chuyện chỗ lấy nước (udakatitthakathā) hoặc chuyện người hầu gái mang nước. Không được nói “Cô ấy xinh đẹp, khéo múa, khéo hát” vì dục lạc; chỉ được nói theo kiểu “Có lòng tin, hoan hỷ” v.v…

 Pubbapetakathā: Nói về người thân đã qua đời. Cách quyết định giống như ñātikathā hiện tại.

Nānattakathā: Các loại lời nói vô ích, khác biệt, không liên quan đến câu chuyện trước sau.

Lokakkhāyikā: Các kiểu nói thế gian (lokāyata-vitaṇḍā), như “Thế giới này do ai tạo? Do người kia tạo. Con quạ trắng vì xương trắng, con cò đỏ vì máu đỏ”…

Samuddakkhāyikā: Nói về biển cả vô ích, như “Tại sao biển gọi là sāgara? Vì Sāgaradeva đào nên gọi sāgara; vì đã báo bằng dấu tay ‘đào rồi’ nên gọi samudda”…

Iti bhavo iti abhavo: Nói đủ thứ nguyên nhân vô ích, gọi là itibhavābhavakathā. Trong đó, “bhavo” là thường kiến (sassata), “abhavo” là đoạn kiến (uccheda); hoặc “bhavo” là tăng trưởng, “abhavo” là suy giảm; hoặc “bhavo” là dục lạc, “abhavo” là khổ hạnh ép xác.

Cộng với sáu loại itibhavābhavakathā này, tổng cộng có 32 loại tiracchānakathā. Phần còn lại ở khắp nơi đều rõ nghĩa.

Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

------------------

Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

Tương Ưng Sự Thật (a)

-ooOoo-

I. Phẩm Ðịnh

8. VIII. Suy Tư (Cintà) (S.v,418)

1) ...

2) -- Này các Tỷ-kheo, chớ có suy tư ác, bất thiện tầm: "Thế giới là thường hằng", hay "Thế giới là vô thường", hay "Thế giới là hữu biên", hay "Thế giới là vô biên", hay "Sinh mạng này, thân thể này là một", hay "Sinh mạng này, thân thể này là khác", hay "Như Lai có tồn tại sau khi chết", hay "Như Lai không tồn tại sau khi chết", hay "Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết", hay "Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết". Vì sao?

3) ... (Như đoạn số 3, kinh trên) ...

4) Và có suy tư, này các Tỷ-kheo, các Ông hãy suy tư: "Ðây là Khổ"... hãy suy tư: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt". Vì sao?

5) ... Các suy tư ấy... (Như đoạn số 5, kinh trên) ...

9. IX. Tranh Luận (Viggàhikà) (S.v,419)

1) ...

2) -- Này các Tỷ-kheo, chớ có nói lời tranh luận nhau: "Ông không biết Pháp và Luật này. Tôi biết Pháp và Luật này. Sao Ông có thể biết Pháp và Luật này? Ông theo tà hạnh. Tôi theo chánh hạnh. Ðiều đáng nói trước, Ông lại nói sau. Ðiều đáng nói sau, Ông lại nói trước. Lời nói tôi tương ưng. Lời nói Ông không tương ưng. Ðiều Ông quan niệm, trình bày đã bị đảo lộn. Quan điểm của Ông đã bị thách đố. Hãy đi giải tỏa quan điểm của Ông. Hãy tự thoát khỏi bế tắc nếu Ông có thể làm được". Vì sao?

3) Những câu chuyện ấy, này các Tỷ-kheo, không liên hệ đến mục đích, không phải căn bản cho Phạm hạnh, không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.

4) Và này các Tỷ-kheo, nếu có nói, thời hãy nói: "Ðây là Khổ"... hãy nói: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt". Vì sao?

5) Các lời nói ấy, này các Tỷ-kheo, liên hệ đến mục đích, làm căn bản cho Phạm hạnh... một cố gắng cần phải làm...

10. X. Lời Nói (S.v,419)

1) ...

2) -- Này các Tỷ-kheo, chớ có nói những câu chuyện của loài súc sanh, như câu chuyện về vua chúa, câu chuyện về ăn trộm, câu chuyện về đại thần, câu chuyện về binh lính, câu chuyện về hãi hùng, câu chuyện về chiến tranh, câu chuyện về đồ ăn, câu chuyện về đồ uống, câu chuyện về vải mặc, câu chuyện về giường nằm, câu chuyện về vòng hoa, câu chuyện về hương liệu, câu chuyện về bà con, câu chuyện về xe cộ, câu chuyện về làng xóm, câu chuyện về thị tứ, câu chuyện về thành phố, câu chuyện về quốc độ, câu chuyện về đàn bà, câu chuyện về đàn ông, câu chuyện về vị anh hùng, câu chuyện bên lề đường, câu chuyện tại chỗ lấy nước, câu chuyện người đã chết, các câu chuyện tạp thoại, các câu chuyện biến trạng của thế giới, câu chuyện về biến trạng của đại dương, câu chuyện về sự hiện hữu và sự không hiện hữu. Vì sao?

3) Những câu chuyện này, này các Tỷ-kheo, không đưa đến mục đích, không phải căn bản cho Phạm hạnh, không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.

4) Có nói chuyện, này các Tỷ-kheo, các Ông hãy nói chuyện: "Ðây là Khổ"... hãy nói chuyện: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt"... Vì sao?

5) Các câu chuyện này, này các Tỷ-kheo, liên hệ đến mục đích, là căn bản cho Phạm hạnh, đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Khổ"... Một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt".