BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Bảy, ngày 27 tháng 06, 2026

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập V–Chương 56. Tương Ưng Diệu Đế- Phẩm Chuyển Pháp Luân. SN 56. 11.
BÀI 694. TỔNG QUAN PHẬT PHÁP-

Kinh Chuyển Pháp Luân (Dhammacakkappavattanasuttaṃ) .
  http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-694.jpg

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png Kinh Chuyển Pháp Luân là tiếng chuông đầu tiên khai mở con đường giác ngộ giữa thế gian đầy khổ lụy. Sau khi thành đạo, Đức Phật không bắt đầu giáo pháp bằng những lý thuyết huyền bí, mà bằng một sự thật rất gần gũi: đời sống bị chi phối bởi khổ đau, và con người cần một con đường để vượt thoát khổ đau ấy. Chính vì vậy, bài pháp đầu tiên này không chỉ là một sự kiện lịch sử, mà còn là bản đồ tu tập cho tất cả những ai muốn tìm đến an lạc chân thật. Điểm sâu sắc của bài kinh là Đức Phật chỉ rõ Trung Đạo. Ngài không chấp nhận lối sống buông thả theo dục lạc, cũng không tán thành khổ hạnh ép xác. Cả hai cực đoan ấy đều không đưa đến trí tuệ và giải thoát. Trung Đạo mà Đức Phật khám phá chính là Bát Chánh Đạo: thấy đúng, nghĩ đúng, nói đúng, làm đúng, sống đúng, tinh tấn đúng, nhớ biết đúng và định tâm đúng. Đây là con đường quân bình nhưng mạnh mẽ, thực tế nhưng sâu xa, đưa con người từ mê lầm đến tỉnh thức. Trọng tâm của bài kinh là Tứ Diệu Đế: Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Đức Phật không dạy ta bi quan về cuộc đời, mà dạy ta nhìn thẳng vào sự thật. Khi thấy rõ khổ, ta không còn trốn chạy. Khi thấy rõ nguyên nhân của khổ là tham ái và chấp thủ, ta biết phải buông bỏ. Khi thấy có sự chấm dứt khổ, ta có niềm tin vào giải thoát. Và khi thấy con đường đưa đến chấm dứt khổ, ta biết phải thực hành chứ không chỉ tin suông.

Đặc biệt, bài kinh nhấn mạnh ba luân và mười hai chuyển, cho thấy Phật pháp không phải chỉ để nghe, học hay giảng nói. Mỗi chân lý đều phải được biết, được thực hành đúng phận sự và được chứng nghiệm trọn vẹn. Biết khổ là một bước, nhưng liễu tri khổ mới là trí tuệ. Biết tham ái là nguyên nhân của khổ là một bước, nhưng đoạn tận tham ái mới là giải thoát.  Khi Tôn giả Koṇḍañña chứng ngộ rằng: “Phàm pháp gì có sinh khởi, pháp ấy đều có hoại diệt,” Bánh xe Chánh pháp thật sự bắt đầu chuyển vận. Từ giây phút ấy, giáo pháp không còn là lời nói của riêng Đức Phật, mà đã trở thành ánh sáng sống động trong tâm người biết thấy pháp. Vì vậy, Kinh Chuyển Pháp Luân không chỉ thuộc về quá khứ; mỗi khi có người thấu hiểu khổ đau, buông bỏ nguyên nhân khổ đau và bước đi trên Bát Chánh Đạo, thì Bánh xe Chánh pháp vẫn đang tiếp tục lăn trong cuộc đời hôm nay.

Kinh Văn

1081. Evaṃ me sutaṃ . ekaṃ samayaṃ bhagavā bārāṇasiyaṃ viharati isipatane migadāye. tatra kho bhagavā pañcavaggiye bhikkhū āmantesi — “dveme, bhikkhave, antā pabbajitena na sevitabbā. katame dve? yo cāyaṃ kāmesu kāmasukhallikānuyogo hīno gammo pothujjaniko anariyo anatthasaṃhito, yo cāyaṃ attakilamathānuyogo dukkho anariyo anatthasaṃhito. ete kho, bhikkhave, ubho ante anupagamma majjhimā paṭipadā tathāgatena abhisambuddhā cakkhukaraṇī ñāṇakaraṇī upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṃvattati”.
“katamā ca sā, bhikkhave, majjhimā paṭipadā tathāgatena abhisambuddhā cakkhukaraṇī ñāṇakaraṇī upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṃvattati? ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo, seyyathidaṃ — sammādiṭṭhi sammāsaṅkappo sammāvācā sammākammanto sammāājīvo sammāvāyāmo sammāsati sammāsamādhi. ayaṃ kho sā, bhikkhave, majjhimā paṭipadā tathāgatena abhisambuddhā cakkhukaraṇī ñāṇakaraṇī upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṃvattati.
“idaṃ kho pana, bhikkhave, dukkhaṃ ariyasaccaṃ — jātipi dukkhā, jarāpi dukkhā, byādhipi dukkho, maraṇampi dukkhaṃ, appiyehi sampayogo dukkho, piyehi vippayogo dukkho, yampicchaṃ na labhati tampi dukkhaṃ — saṃkhittena pañcupādānakkhandhā {pañcupādānakkhandhāpi (pī. ka.)} dukkhā. idaṃ kho pana, bhikkhave, dukkhasamudayaṃ ariyasaccaṃ — yāyaṃ taṇhā ponobbhavikā {ponobhavikā (sī. pī.)} nandirāgasahagatā tatratatrābhinandinī, seyyathidaṃ {seyyathīdaṃ (sī. syā. kaṃ. pī.)} — kāmataṇhā, bhavataṇhā, vibhavataṇhā. idaṃ kho pana, bhikkhave, dukkhanirodhaṃ ariyasaccaṃ — yo tassāyeva taṇhāya asesavirāganirodho cāgo paṭinissaggo mutti anālayo. idaṃ kho pana, bhikkhave, dukkhanirodhagāminī paṭipadā ariyasaccaṃ — ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo, seyyathidaṃ — sammādiṭṭhi ... pe ... sammāsamādhi. “‘idaṃ dukkhaṃ ariyasaccan’ti me, bhikkhave, pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi, ñāṇaṃ udapādi, paññā udapādi, vijjā udapādi, āloko udapādi. ‘taṃ kho panidaṃ dukkhaṃ ariyasaccaṃ pariññeyyan’ti me, bhikkhave, pubbe ... pe ... udapādi. ‘taṃ kho panidaṃ dukkhaṃ ariyasaccaṃ pariññātan’ti me, bhikkhave, pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi, ñāṇaṃ udapādi, paññā udapādi, vijjā udapādi, āloko udapādi.
“‘idaṃ dukkhasamudayaṃ ariyasaccan’ti me, bhikkhave, pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi, ñāṇaṃ udapādi, paññā udapādi, vijjā udapādi, āloko udapādi. ‘taṃ kho panidaṃ dukkhasamudayaṃ ariyasaccaṃ pahātabban’ti me, bhikkhave, pubbe ... pe ... udapādi. ‘taṃ kho panidaṃ dukkhasamudayaṃ ariyasaccaṃ pahīnan’ti me, bhikkhave, pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi, ñāṇaṃ udapādi, paññā udapādi, vijjā udapādi, āloko udapādi. “‘idaṃ dukkhanirodhaṃ ariyasaccan’ti me, bhikkhave, pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi, ñāṇaṃ udapādi, paññā udapādi, vijjā udapādi, āloko udapādi. ‘taṃ kho panidaṃ dukkhanirodhaṃ ariyasaccaṃ sacchikātabban’ti me, bhikkhave, pubbe ... pe ... udapādi. ‘taṃ kho panidaṃ dukkhanirodhaṃ ariyasaccaṃ sacchikatan’ti me, bhikkhave, pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi, ñāṇaṃ udapādi, paññā udapādi, vijjā udapādi, āloko udapādi.
“‘idaṃ dukkhanirodhagāminī paṭipadā ariyasaccan’ti me, bhikkhave, pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi, ñāṇaṃ udapādi, paññā udapādi, vijjā udapādi, āloko udapādi. taṃ kho panidaṃ dukkhanirodhagāminī paṭipadā ariyasaccaṃ bhāvetabban’ti me, bhikkhave, pubbe ... pe ... udapādi. ‘taṃ kho panidaṃ dukkhanirodhagāminī paṭipadā ariyasaccaṃ bhāvitan’ti me, bhikkhave, pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi, ñāṇaṃ udapādi, paññā udapādi, vijjā udapādi, āloko udapādi.
“yāvakīvañca me, bhikkhave, imesu catūsu ariyasaccesu evaṃ tiparivaṭṭaṃ dvādasākāraṃ yathābhūtaṃ ñāṇadassanaṃ na suvisuddhaṃ ahosi, neva tāvāhaṃ, bhikkhave, sadevake loke samārake sabrahmake sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya ‘anuttaraṃ sammāsambodhiṃ abhisambuddho’ti paccaññāsiṃ {abhisambuddho paccaññāsiṃ (sī. syā. kaṃ.)} .
“yato ca kho me, bhikkhave, imesu catūsu ariyasaccesu evaṃ tiparivaṭṭaṃ dvādasākāraṃ yathābhūtaṃ ñāṇadassanaṃ suvisuddhaṃ ahosi, athāhaṃ, bhikkhave, sadevake loke samārake sabrahmake sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya ‘anuttaraṃ sammāsambodhiṃ abhisambuddho’ti paccaññāsiṃ. ñāṇañca pana me dassanaṃ udapādi — ‘akuppā me vimutti {cetovimutti (sī. pī.)}, ayamantimā jāti, natthidāni punabbhavo’”ti. idamavoca bhagavā. attamanā pañcavaggiyā bhikkhū bhagavato bhāsitaṃ abhinandunti. imasmiñca pana veyyākaraṇasmiṃ bhaññamāne āyasmato koṇḍaññassa virajaṃ vītamalaṃ dhammacakkhuṃ udapādi — “yaṃ kiñci samudayadhammaṃ, sabbaṃ taṃ nirodhadhamman”ti.
pavattite ca pana bhagavatā dhammacakke bhummā devā saddamanussāvesuṃ — “etaṃ bhagavatā bārāṇasiyaṃ isipatane migadāye anuttaraṃ dhammacakkaṃ pavattitaṃ appaṭivattiyaṃ samaṇena vā brāhmaṇena vā devena vā mārena vā brahmunā vā kenaci vā lokasmin”ti. bhummānaṃ devānaṃ saddaṃ sutvā cātumahārājikā devā saddamanussāvesuṃ — “etaṃ bhagavatā bārāṇasiyaṃ isipatane migadāye anuttaraṃ dhammacakkaṃ pavattitaṃ, appaṭivattiyaṃ samaṇena vā brāhmaṇena vā devena vā mārena vā brahmunā vā kenaci vā lokasmin”ti. cātumahārājikānaṃ devānaṃ saddaṃ sutvā tāvatiṃsā devā ... pe ... yāmā devā ... pe ... tusitā devā ... pe ... nimmānaratī devā ... pe ... paranimmitavasavattī devā ... pe ... brahmakāyikā devā saddamanussāvesuṃ — “etaṃ bhagavatā bārāṇasiyaṃ isipatane migadāye anuttaraṃ dhammacakkaṃ pavattitaṃ appaṭivattiyaṃ samaṇena vā brāhmaṇena vā devena vā mārena vā brahmunā vā kenaci vā lokasmin”ti.
itiha tena khaṇena (tena layena) {( ) natthi (sī. syā. kaṃ.)} tena muhuttena yāva brahmalokā saddo abbhuggacchi. ayañca dasasahassilokadhātu saṅkampi sampakampi sampavedhi, appamāṇo ca uḷāro obhāso loke pāturahosi atikkamma devānaṃ devānubhāvanti. atha kho bhagavā imaṃ udānaṃ udānesi — “aññāsi vata, bho, koṇḍañño, aññāsi vata, bho, koṇḍañño”ti! iti hidaṃ āyasmato koṇḍaññassa ‘aññāsikoṇḍañño’ tveva nāmaṃ ahosīti. paṭhamaṃ.

Như vầy tôi nghe
Một thời Thế Tôn ngự tại Lộc Uyển, ở I Si Pa Ta Na gần Ba Ra Na Si. Ðức Phật giảng cho năm thầy Tỳ khưu nghe như vầy:
Nầy các Tỳ khưu, có hai cực đoan mà bậc xuất gia phải tránh: một là lợi dưỡng vốn hạ liệt, tục luỵ, phàm phu, không thánh thiện, không lợi lạc; hai là khổ hạnh cũng không thánh thiện, không lợi lạc lại khổ đau.
Từ bỏ hai cực đoan nầy, Như Lai thực hành Trung Ðạo chứng đạt pháp nhãn, tuệ giác, tịnh trí, thắng trí, giác ngộ, niết bàn.
Nầy các Tỳ khưu, Trung Ðạo đó là gì?
Chính là thánh đạo tám chi phần: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Ðây là thánh đạo được Như Lai liễu ngộ vơí pháp nhãn, tuệ giác, tịnh trí, thắng trí, giác ngộ, niết bàn.
Nầy các Tỳ khưu, đây là diệu đế về sự khổ: sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, sầu bi khổ ưu não là khổ, ghét phải gần là khổ, thương phải xa là khổ, muốn không được là khổ. Tóm lại năm thủ uẩn là khổ.
Nầy các Tỳ khưu, đây là diệu đế về nhân sanh khổ: khát ái dẫn đến tái sanh, cùng với hỷ và tham, tầm cầu dục lạc đó đây. Chính là dục ái, hữu ái, phi hữu ái.
Nầy các Tỳ khưu, đây là diệu đế về diệt khổ: yểm ly đọan diệt các dục, chấm dứt hệ luỵ, không còn dư y, hoàn toàn giải thoát mọi thằng thúc.
Nầy các Tỳ khưu, đây là diệu đế về con đường dẫn đến diệt khổ: chính là thánh đạo tám chi phần tức chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định.
"Ðây là sự thật về khổ" là điều mà Như Lai chưa từng được nghe nay khởi lên với sự thấy, biết, hiểu, xác chứng và thấu triệt.
"Khổ đế cần được lãnh hội" là điều mà Như Lai chưa từng được nghe nay khởi lên với sự thấy, biết, hiểu, xác chứng và thấu triệt.
"Khổ đế đã được lãnh hội" là điều mà Như Lai chưa từng được nghe nay khởi lên với sự thấy, biết, hiểu, xác chứng và thấu triệt.
"Ðây là sự thật về nhân sanh khổ" là điều mà Như Lai chưa từng được nghe nay khởi lên với sự thấy, biết, hiểu, xác chứng và thấu triệt.
"Tập đế cần được đoạn diệt" là điều mà Như Lai chưa từng được nghe nay khởi lên với sự thấy, biết, hiểu, xác chứng và thấu triệt.
"Tập đế đã được đoạn diệt" là điều mà Như Lai chưa từng được nghe nay khởi lên với sự thấy, biết, hiểu, xác chứng và thấu triệt.
"Ðây là sự thật về diệt khổ" là điều mà Như Lai chưa từng được nghe nay khởi lên với sự thấy, biết, hiểu, xác chứng và thấu triệt.
"Diệt đế cần được chứng ngộ" là điều mà Như Lai chưa từng được nghe nay khởi lên với sự thấy, biết, hiểu, xác chứng và thấu triệt.
"Diệt đế đã được chứng ngộ" là điều mà Như Lai chưa từng được nghe nay khởi lên với sự thấy, biết, hiểu, xác chứng và thấu triệt.
"Ðây là sự thật về con đường diệt khổ" là điều mà Như Lai chưa từng được nghe nay khởi lên với sự thấy, biết, hiểu, xác chứng và thấu triệt.
"Ðạo đế cần được tu tập" là điều mà Như Lai chưa từng được nghe nay khởi lên với sự thấy, biết, hiểu, xác chứng và thấu triệt.
"Ðạo đế đã được tu tập" là điều mà Như Lai chưa từng được nghe nay khởi lên với sự thấy, biết, hiểu, xác chứng và thấu triệt.
Nầy các Tỳ khưu, cho đến khi nào bốn diệu đế nầy chưa được Như Lai hoàn toàn giác ngộ với ba luân, mười hai chuyển thì Như Lai không tự nhận cùng thiên giới, ma vương giới, phạm thiên giới, hội chúng sa môn, bà la môn, chư thiên và nhân loại rằng ta đã chứng quả vô thượng chánh đẳng chánh giác.
Nầy các Tỳ khưu, chính khi bốn diệu đế nầy được Như Lai hoàn toàn giác ngộ với ba luân, mười hai chuyển nên Như Lai tự nhận cùng thiên giới, ma vương giới, phạm thiên giới, hội chúng sa môn, bà la môn, chư thiên và nhân loại rằng ta đã chứng quả vô thượng chánh đẳng chánh giác.
Và nhận thức nầy khởi lên trong Như Lai: sự giải thoát của ta không lay chuyển. Ðây là kiếp chót, không còn luân hồi nữa.
Ðức Thế Tôn thuyết giảng như vậy, năm thầy Tỳ khưu hoan hỷ tín thọ. Khi pháp thoại nầy được tuyên thuyết, Tôn giả Kon Ðan Nha khởi sanh pháp nhãn thanh tịnh vô cấu hiểu rằng: phàm vật gì do nhân tập khởi tất cả pháp ấy đều bị hoại diệt.
Khi đức Phật chuyển Pháp luân nầy thì chư thiên trên địa cầu reo mừng: Pháp luân vi diệu! Những điều nầy chưa bao giờ được giảng dạy bởi bất cứ ai dù là sa môn, bà la môn, chư thiên, ma vương, phạm thiên nay được Thế Tôn tuyên thuyết tại Lộc Uyển, ở I Si Pa Ta Na gần Ba Ra Na Si.
Ðược nghe vậy chư thiên cõi tứ thiên vương, đạo lợi, dạ ma, đấu suất, hoá lạc, tha hoá tự tại cùng các cõi phạm thiên đồng thanh vui mừng.
Trong phút chốc cả mười ngàn thế giới chấn động. Một hào quang vô lượng vượt xa hào quang của chư thiên chiếu diệu cùng khắp thế giới. Ngay khi ấy đức Phật lên tiếng: Kon Ðan Nha đã liễu ngộ, Kon Ðan Nha đã liễu ngộ. Từ ấy Tôn giả Kon Ðan Nha được gọi là An Nha Kon Ðan Nha. 

Chú Thích
Bài kinh quan trọng nầy cũng được tìm thấy tại các bộ kinh khác trong Tam Tạng: Bộ Đại Phẩm thuộc tạng Luật (Vinaya Piṭaka, quyển I, trang 10-12). Bài kinh này cũng được phân tích chi tiết trong kinh số 141 thuộc Trung Bộ  (Majjhima Nikāya) và bộ Phân Tích thuộc tạng Diệu Pháp (Vibhaṅga, trang 99-105). Đồng thời, nội dung bài kinh được sớ giải sâu sắc trong tập Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga, trang 498-510; bản dịch tiếng Anh của Bhikkhu Ñāṇamoli [Ppn] chương 16, đoạn 32-83) và sách Chú giải Phân Tích (Vibhaṅga-aṭṭhakathā, trang 93-122). Để tìm hiểu lời giải thích chi tiết dựa theo phương pháp luận của các bậc Sớ giải sư, có thể tham khảo tác phẩm The First Discourse of the Buddha (Bài giảng đầu tiên của Đức Phật) của tác giả Rewata Dhamma.

Đây là bài pháp đầu tiên của Đức Phật sau khi thành đạo. Sau bốn mươi lăm năm hoằng hóa, Đức Phật đã thuyết hàng ngàn bài kinh với nhiều pháp môn và phương tiện khác nhau. Tuy nhiên, bài pháp đầu tiên tại Lộc Uyển vẫn giữ một vị trí đặc biệt, vì đây là lời tuyên bố chính thức đầu tiên của bậc Chánh Đẳng Giác về chân lý mà Ngài đã tự mình chứng ngộ dưới cội Bồ-đề. Bài kinh mở đầu cho thời kỳ hoằng truyền Chánh pháp và cũng mở đầu cho sự hình thành Tam Bảo đầy đủ trên thế gian. Vì vậy, Kinh Chuyển Pháp Luân được xem là bản tuyên ngôn nền tảng của toàn bộ Phật giáo.

Đức Phật khẳng định con đường Trung Đạo là Bát Chánh Đạo. Điểm đột phá của bài kinh là Đức Phật bác bỏ hai khuynh hướng cực đoan đang thịnh hành trong xã hội Ấn Độ thời bấy giờ: một bên là đắm chìm trong dục lạc, một bên là hành xác khổ hạnh. Cả hai đều không đưa đến giải thoát. Thay vào đó, Ngài chỉ rõ Trung Đạo (Majjhimā Paṭipadā) chính là Thánh Đạo Tám Ngành (Ariya Aṭṭhaṅgika Magga). Điều này cho thấy Trung đạo không phải là thái độ dung hòa hay thỏa hiệp, mà là một con đường tu tập có cấu trúc rõ ràng, lấy trí tuệ làm kim chỉ nam, lấy giới hạnh làm nền tảng và lấy thiền định làm sức mạnh để đoạn tận phiền não.

Tứ Diệu Đế trở thành cốt lõi của toàn bộ Giáo pháp. Nếu phải tóm lược toàn bộ giáo lý của Đức Phật trong một khuôn khổ ngắn gọn nhất thì đó chính là Tứ Thánh Đế. Mọi bài kinh, mọi pháp môn, mọi phương pháp thiền tập đều không ra ngoài bốn sự thật này: Khổ, Tập, Diệt và Đạo. Đức Phật không xây dựng một hệ thống triết học để tranh luận, mà trình bày một tiến trình chữa lành khổ đau của con người. Vì thế, Tứ Thánh Đế vừa là bản đồ của đời sống, vừa là phương pháp điều trị tận gốc mọi nguyên nhân dẫn đến luân hồi sinh tử.

Phật pháp không chỉ để học, mà phải được thực hành và chứng ngộ qua Ba chuyển, Mười hai hành tướng. Một điểm đặc sắc của bài kinh là Đức Phật nhấn mạnh rằng biết chân lý chưa phải là giác ngộ. Đối với mỗi Thánh đế đều có ba giai đoạn: biết đúng sự thật (Saccañāṇa), biết việc cần phải làm (Kiccañāṇa) và biết việc ấy đã hoàn thành (Katañāṇa). Bốn Thánh đế kết hợp với ba giai đoạn tạo thành Ba chuyển, Mười hai hành tướng, là tiêu chuẩn xác định sự viên mãn của trí tuệ giác ngộ. Điều này khẳng định rằng Phật giáo là con đường của sự trải nghiệm và chuyển hóa nội tâm, chứ không phải chỉ là sự tích lũy kiến thức hay niềm tin giáo điều.

Giác ngộ và giải thoát là cứu cánh tối hậu của đời sống phạm hạnh. Ngay trong bài pháp đầu tiên, Đức Phật đã xác định mục tiêu cuối cùng của con đường tu tập là Niết-bàn. Mọi pháp hành đều hướng đến sự đoạn tận tham ái, chấm dứt khổ đau và giải thoát khỏi vòng sinh tử. Điều này cho thấy Phật giáo không dừng lại ở việc xây dựng một đời sống đạo đức hay mang lại sự an lạc tạm thời, mà nhắm đến sự giải phóng hoàn toàn tâm khỏi mọi trói buộc. Đó là lý do Đức Phật tuyên bố: "Đây là đời sống cuối cùng; nay không còn tái sinh nữa."

Thấu triệt khổ đau và vượt thoát khổ đau là thông điệp dành cho toàn thể nhân thiên. Kinh Chuyển Pháp Luân không dành riêng cho năm vị Tỳ khưu hay cho hàng xuất gia. Ngay khi bánh xe Chánh pháp được chuyển vận, kinh ghi rằng chư Thiên từ cõi Địa cư cho đến cõi Phạm thiên đều đồng thanh tán thán, và mười ngàn thế giới đều chấn động. Điều đó biểu tượng rằng chân lý về khổ đau và con đường vượt thoát khổ đau có giá trị phổ quát đối với tất cả chúng sinh, từ loài người đến chư Thiên. Dù sống trong hoàn cảnh nào, mọi hữu tình đều chịu sự chi phối của vô thường, sinh diệt và chỉ có trí tuệ quán chiếu Tứ Thánh Đế mới giúp họ đạt được an lạc chân thật. Vì vậy, bài pháp đầu tiên của Đức Phật không chỉ mở đầu cho lịch sử truyền bá Phật pháp, mà còn mở ra một con đường giải thoát chung cho toàn thể nhân loại và chư thiên.

Những cụm từ dhammesu cakkhuṃ udapādi, ñāṇaṃ udapādi, paññā udapādi, vijjā udapādi, āloko udapādi thường được dịch là “nhãn sanh, trí sanh, tuệ sanh, minh sanh, quang sanh”. Bản chuyển ngữ nầy dịch theo nghĩa để dễ hiểu: “thấy, biết, hiểu, xác chứng và thấu triệt”

Ba luân (Tiparivaṭṭa) bao gồm:

1.    Tuệ thấy chân tướng (Sacca-ñāṇa): Tuệ giác nhận biết về bản chất từng Chân lý, ví dụ: “Đây là Thánh đế về Khổ”.

2.    Tuệ thấy vai trò (Kicca-ñāṇa): Tuệ giác nhận biết về phận sự, nhiệm vụ cần phải hoàn thành đối với từng Chân lý, ví dụ: “Thánh đế về Khổ này cần phải được hiểu rõ (liễu tri)”.

3.    Tuệ thấy thành quả (Kata-ñāṇa): Tuệ giác nhận biết về kết quả đã hoàn thành đối với từng Chân lý, ví dụ: “Thánh đế về Khổ này đã được hiểu rõ”.

Tam luân cũng là tiêu biểu tối cao của pháp học, pháp hành, và pháp thành.

Mười hai chuyển (Dvādasākāra) được thiết lập bằng cách áp dụng tuần tự ba vòng chuyển tuệ giác này vào bốn Chân lý Thánh đế (4 Chân lý x 3 Trạng thái tuệ = 12 diện).

Sớ Giải

1081. dutiyassa paṭhame bārāṇasiyanti evaṃnāmake nagare. isipatane migadāyeti isīnaṃ patanuppatanavasena evaṃladdhanāme migānaṃ abhayadānavasena dinnattā migadāyasaṅkhāte ārāme. ettha hi uppannuppannā sabbaññuisayo patanti, dhammacakkappavattanatthaṃ nisīdantīti attho.
nandamūlakapabbhārato sattāhaccayena nirodhasamāpattito vuṭṭhitā anotattadahe katamukhadhovanādikiccā ākāsena āgantvā paccekabuddhaisayopettha otaraṇavasena patanti, uposathatthañca anuposathatthañca sannipatanti, gandhamādanaṃ paṭigacchantāpi tatova uppatantīti iminā isīnaṃ patanuppatanavasena taṃ “isipatanan”ti vuccati.
āmantesīti dīpaṅkarapādamūle katābhinīhārato paṭṭhāya pāramiyo pūrento anupubbena pacchimabhave katābhinikkhamano anupubbena bodhimaṇḍaṃ patvā tattha aparājitapallaṅke nisinno mārabalaṃ bhinditvā paṭhamayāme pubbenivāsaṃ anussaritvā majjhimayāme dibbacakkhuṃ visodhetvā pacchimayāmāvasāne dasasahassilokadhātuṃ unnādento sabbaññutaṃ patvā satta sattāhāni bodhimaṇḍe vītināmetvā mahābrahmunā āyācitadhammadesano buddhacakkhunā lokaṃ voloketvā lokānuggahena bārāṇasiṃ gantvā pañcavaggiye saññāpetvā dhammacakkaṃ pavattetukāmo āmantesi.
dveme, bhikkhave, antāti dve ime, bhikkhave, koṭṭhāsā. imassa pana padassa saha samudāhārena samudāhāranigghoso heṭṭhā avīciṃ upari bhavaggaṃ patvā dasasahassilokadhātuṃ pattharitvā aṭṭhāsi. tasmiṃyeva samaye aṭṭhārasakoṭisaṅkhā brahmāno samāgacchiṃsu, pacchimadisāya sūriyo atthameti, pācīnadisāya āsāḷhanakkhattena yutto puṇṇacando uggacchati. tasmiṃ samaye bhagavā imaṃ dhammacakkappavattanasuttaṃ ārabhanto “dveme, bhikkhave, antā”tiādimāha.
tattha pabbajitenāti gihisaṃyojanaṃ chinditvā pabbajjupagatena. na sevitabbāti na vaḷañjetabbā. yo cāyaṃ kāmesu kāmasukhallikānuyogoti yo ca ayaṃ vatthukāmesu kilesakāmasukhassa anuyogo. hīnoti lāmako. gammoti gāmavāsīnaṃ santako. pothujjanikoti andhabālajanena āciṇṇo. anariyoti na ariyo na visuddho na uttamo na vā ariyānaṃ santako. anatthasaṃhitoti na atthasaṃhito, hitasukhāvahakāraṇaṃ anissitoti attho. attakilamathānuyogoti attano kilamathassa anuyogo, attano dukkhakaraṇanti attho. dukkhoti kaṇṭakāpassayaseyyādīhi attamāraṇehi dukkhāvaho. paññācakkhuṃ karotīti cakkhukaraṇī. dutiyapadaṃ tasseva vevacanaṃ.
upasamāyāti kilesūpasamatthāya. abhiññāyāti catunnaṃ saccānaṃ abhijānanatthāya. sambodhāyāti tesaṃyeva sambujjhanatthāya. nibbānāyāti nibbānasacchikiriyāya. sesamettha yaṃ vattabbaṃ siyā, taṃ heṭṭhā tattha tattha vuttameva. saccakathāpi sabbākāreneva visuddhimagge (visuddhi. 2.529) vitthāritā.
tiparivaṭṭanti saccañāṇakiccañāṇakatañāṇasaṅkhātānaṃ tiṇṇaṃ parivaṭṭānaṃ vasena tiparivaṭṭaṃ. ettha hi “idaṃ dukkhaṃ ariyasaccaṃ, idaṃ dukkhasamudayan”ti evaṃ catūsu saccesu yathābhūtaṃ ñāṇaṃ saccañāṇaṃ nāma. tesuyeva “pariññeyyaṃ pahātabban”ti evaṃ kattabbakiccajānanañāṇaṃ kiccañāṇaṃ nāma. “pariññātaṃ pahīnan”ti evaṃ tassa tassa kiccassa katabhāvajānanañāṇaṃ katañāṇaṃ nāma. dvādasākāranti tesaṃyeva ekekasmiṃ sacce tiṇṇaṃ tiṇṇaṃ ākārānaṃ vasena dvādasākāraṃ.
ñāṇadassananti etesaṃ tiparivaṭṭānaṃ dvādasannaṃ ākārānaṃ vasena uppannañāṇasaṅkhātaṃ dassanaṃ. dhammacakkhunti aññattha tayo maggā tīṇi ca phalāni dhammacakkhu nāma honti, idha paṭhamamaggova. dhammacakketi paṭivedhañāṇe ceva desanāñāṇe ca. bodhipallaṅke nisinnassa hi catūsu saccesu uppannaṃ dvādasākāraṃ paṭivedhañāṇampi, isipatane nisinnassa dvādasākārāya saccadesanāya pavattitaṃ desanāñāṇampi dhammacakkaṃ nāma. ubhayampi hetaṃ dasabalassa ure pavattañāṇameva. imāya desanāya pakāsentena bhagavatā dhammacakkaṃ pavattitaṃ nāma. taṃ panetaṃ dhammacakkaṃ yāva aññāsikoṇḍaññatthero aṭṭhārasahi brahmakoṭīhi saddhiṃ sotāpattiphale patiṭṭhāti, tāva naṃ bhagavā pavatteti nāma, patiṭṭhite ca pavattitaṃ nāma. taṃ sandhāya pavattite ca pana bhagavatā dhammacakke bhummā devā saddamanussāvesuntiādi vuttaṃ.
tattha bhummāti bhūmaṭṭhakadevatā. saddamanussāvesunti ekappahāreneva sādhukāraṃ datvā — “etaṃ bhagavatā”tiādīni vadantā anusāvayiṃsu. obhāsoti sabbaññutaññāṇobhāso. so hi tadā devānaṃ devānubhāvaṃ atikkamitvā virocittha. aññāsi vata, bho, koṇḍaññoti imassapi udānassa udāhāranigghoso dasasahassilokadhātuṃ pharitvā aṭṭhāsi.

1081. dutiyassa paṭhame bārāṇasiyanti evaṃnāmake nagare. Trong kinh đầu của phần thứ hai (Dhammacakkappavattana Sutta), “tại Bārāṇasī” nghĩa là tại thành phố mang tên Bārāṇasī (Ba La Nại).

isipatane migadāyeti … “Tại Isipatana, Khu Rừng Nai” — Isipatana được đặt tên như vậy vì là nơi chư Tiên (Isī) thường hạ xuống và bay lên. Khu rừng được gọi là Migadāya (Rừng Nai) vì vua nước Bārāṇasī đã ban ân không săn bắn, cho nai được trú ngụ an toàn.

Tại đây, chư Phật Độc Giác (Paccekabuddha) và chư Tiên (Isī) thường tụ hội. Mọi vị Toàn Giác (Sabbaññu) khi mới chứng ngộ đều hạ xuống (patanti) tại chỗ này để chuyển Pháp Luân. Chư Tiên từ hang Nandamūlaka (gần núi Himalaya) sau bảy ngày xuất định diệt thọ tưởng (nirodhasamāpatti), làm xong các việc (rửa mặt tại hồ Anotatta…), bay qua hư không đến đây tụ họp. Họ cũng tụ họp để giữ Uposatha (ngày trai giới), hoặc khi trở về Gandhamādana. Vì vậy mà nơi này được gọi là Isipatana (nơi chư Tiên hạ xuống và bay lên).

 āmantesīti … “Āmantesi” (Đức Thế Tôn gọi) — Từ khi Đức Bồ Tát phát nguyện dưới chân Phật Dīpaṅkara, Ngài tu đầy đủ Ba-la-mật trong vô số kiếp. Đến kiếp cuối, Ngài xuất gia, dần dần đến Bồ-đề Đạo Tràng (Bodhi-maṇḍa), ngồi trên Bất Động Kim Cang Toà (aparājitapallaṅka), phá tan quân Ma vương.

  • Canh thứ nhất: Túc mạng minh (pubbenivāsānussati-ñāṇa).
  • Đêm thứ hai: Sanh tử minh (dibbacakkhu).
  • Đêm thứ ba: Chứng Toàn Giác (sabbaññuta-ñāṇa), khiến mười ngàn thế giới vang động.

Sau đó Ngài ngồi bảy tuần (satta sattāha) tại Bồ-đề Đạo Tràng. Khi được Đại Phạm Thiên thỉnh cầu thuyết pháp, Ngài dùng Phật Nhãn (buddhacakkhu) quán sát thế gian, thấy năm vị Tỳ-kheo nhóm năm (pañcavaggiya) là đối tượng thích hợp nhất, liền hướng về Bārāṇasī để chuyển Pháp Luân và gọi họ.

 dveme, bhikkhave, antāti … “Này các Tỳ-kheo, hai cực đoan này…” — Hai phần (koṭṭhāsa), hai cực đoan.

Khi Đức Thế Tôn phát ra câu này, âm thanh lan tỏa khắp mười ngàn thế giới, từ Avīci (Địa ngục Vô Gián) đến Bhavagga (Hữu Đỉnh). Lúc ấy có mười tám ức (aṭṭhārasakoṭi) Phạm Thiên tụ hội. Mặt trời lặn ở phương Tây, trăng tròn ngày rằm tháng Āsāḷha (tháng 6 âm lịch) mọc ở phương Đông. Chính trong khoảnh khắc trang nghiêm ấy, Đức Thế Tôn bắt đầu giảng Dhammacakkappavattana Sutta bằng lời “Dveme, bhikkhave, antā…”

 Về hai cực đoan:

  • pabbajitenāti: Người đã xuất gia, đã cắt đứt các ràng buộc thế tục (gihisaṃyojana).
  • na sevitabbāti: Không nên theo đuổi, không nên thực hành.

Kāmasukhallikānuyogo: Sự đeo đuổi khoái lạc trong dục (cả vật dục lẫn tham dục).

  • Hīno: Thấp hèn, đê tiện.
  • Gammo: Thuộc về dân làng, thô thiển.
  • Pothujjaniko: Thói quen của hạng phàm phu mù quáng.
  • Anariyo: Không phải của bậc Thánh, không thanh tịnh, không cao thượng.
  • Anatthasaṃhito: Không đem lại lợi ích, không dẫn đến hạnh phúc chân thật.

Attakilamathānuyogo: Sự hành hạ thân xác (tự hành khổ hạnh).

  • Dukkho: Đau khổ, vì các phương thức như nằm trên giường gai, nhịn ăn, tự hành xác… đều chỉ đem lại khổ đau mà không có lợi ích chân thật.

 paññācakkhuṃ karotīti cakkhukaraṇī… Trung Đạo tạo ra Tuệ nhãn (paññācakkhu) — tức là con mắt trí tuệ. Câu sau là đồng nghĩa.

  • Upasamāya: Để diệt trừ phiền não.
  • Abhiññāya: Để thắng trí bốn Thánh Đế.
  • Sambodhāya: Để giác ngộ trọn vẹn bốn Thánh Đế.
  • Nibbānāya: Để chứng đắc Niết-bàn.

Phần còn lại đã được giải thích ở các chỗ trước. Toàn bộ phần thuyết về Tứ Diệu Đế cũng được trình bày rất chi tiết trong Visuddhimagga (Đạo Thanh Tịnh, quyển 2, đoạn 529).

 tiparivaṭṭaṃ dvādasākāraṃ… Ba luân – Mười hai chuyển.

  • Tiparivaṭṭa (ba luân):

1.    Sacca-ñāṇa: Tri kiến sự thật (ví dụ: “Đây là Khổ Thánh Đế”).

2.    Kicca-ñāṇa: Tri kiến về những gì cần làm (Khổ cần liễu tri, Tập cần đoạn, Diệt cần chứng, Đạo cần tu).

3.    Kata-ñāṇa: Tri kiến đã hoàn thành (Khổ đã liễu tri, Tập đã đoạn, v.v.).

  • Dvādasākāra (mười hai hành tướng): Mỗi Đế có ba hành tướng → 4 × 3 = 12.

Ñāṇadassana: Thấy biết phát sinh từ ba vòng và mười hai hành tướng ấy.

Dhammacakkhu (Pháp Nhãn): Ở nơi khác, ba bậc Đạo và ba bậc Quả đều gọi là Pháp Nhãn. Ở đây, chỉ bậc Đạo đầu tiên (Sơ Đạo).

 Dhammacakka (Pháp Luân) bao gồm hai phần:

  • Paṭivedha-ñāṇa: Tri kiến chứng ngộ (khi ngồi Bồ-đề Đạo Tràng).
  • Desanā-ñāṇa: Tri kiến thuyết pháp (khi giảng tại Isipatana).

Cả hai đều là trí tuệ từ mười lực (dasabala) của Đức Phật. Khi Đức Thế Tôn thuyết kinh này, Ngài đã chuyển Pháp Luân.

Pháp Luân được xem là đã chuyển từ lúc bắt đầu thuyết cho đến khi Tôn giả Aññā Koṇḍañña cùng mười tám ức Phạm Thiên chứng đắc Sơ Quả Tu-đà-hoàn (sotāpattiphala). Khi họ chứng quả, Pháp Luân được gọi là đã hoàn toàn chuyển động. Chính vì vậy mà có đoạn: “Khi Đức Thế Tôn đã chuyển Pháp Luân, chư Thiên ở cõi đất đồng thanh xướng lên…”

 bhummāti bhūmaṭṭhakadevatā… “Bhummā” là chư Thiên trú trên mặt đất (bhūmaṭṭhadevatā).

Họ đồng thanh hoan hô, xướng lên lời tán thán.

Obhāso: Quang minh Toàn Giác chiếu khắp, vượt trội hơn cả oai lực chư Thiên.

Lời cảm hứng cuối cùng “Aññāsi vata, bho, Koṇḍañño” (Koṇḍañña đã hiểu rồi!) cũng vang vọng khắp mười ngàn thế giới.

Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

------------------

Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

Tương Ưng Sự Thật (a)

-ooOoo-

II. Phẩm Chuyển Pháp Luân

11. I. Như Lai Thuyết (1) (S.v,420)

1) Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở Bàrànasi, tại Isipatana, chỗ Vườn Nai.

2) Tại đấy, Thế Tôn bảo chúng năm Tỷ-kheo:

-- Có hai cực đoan này, này các Tỷ-kheo, một người xuất gia không nên thực hành theo. Thế nào là hai?

3) Một là đắm say trong các dục (kàmesu), hạ liệt, đê tiện, phàm phu, không xứng bậc Thánh, không liên hệ đến mục đích. Hai là tự hành khổ mình, khổ đau, không xứng bậc Thánh, không liên hệ đến mục đích. Tránh xa hai cực đoan này, này các Tỷ-kheo, là con đường Trung đạo, do Như Lai chánh giác, tác thành mắt, tác thành trí, đưa đến an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.

4) Và thế nào là con đường Trung đạo, này các Tỷ-kheo, do Như Lai chánh giác, tác thành mắt, tác thành trí, đưa đến an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn? Chính là con đường Thánh đạo Tám ngành, tức là: chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Ðây là con đường trung đạo, này các Tỷ-kheo, do Như Lai chánh giác, tác thành mắt, tác thành trí, đưa đến an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.

5) Ðây là Thánh đế về Khổ, này các Tỷ-kheo. Sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, sầu, bi, khổ, ưu, não là khổ, oán gặp nhau là khổ, ái biệt ly là khổ, cầu không được là khổ. Tóm lại, năm thủ uẩn là khổ.

6) Ðây là Thánh đế về Khổ tập, này các Tỷ-kheo, chính là ái này đưa đến tái sanh, câu hữu với hỷ và tham, tìm cầu hỷ lạc chỗ này chỗ kia. Tức là dục ái, hữu ái, phi hữu ái.

7) Ðây là Thánh đế về Khổ diệt, này các Tỷ-kheo, chính là ly tham, đoạn diệt, không có dư tàn khát ái ấy, sự quăng bỏ, từ bỏ, giải thoát, không có chấp trước.

8) Ðây là Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt, này các Tỷ-kheo, chính là con đường Thánh đạo Tám ngành, tức là chánh tri kiến... chánh định.

9) Ðây là Thánh đế về Khổ, này các Tỷ-kheo, đối với các pháp từ trước Ta chưa từng được nghe, nhãn sanh, trí sanh, tuệ sanh, minh sanh, quang sanh. Ðây là Thánh đế về Khổ cần phải liễu tri, này các Tỷ-kheo, đối với các pháp, từ trước Ta chưa từng nghe, nhãn sanh, trí sanh, tuệ sanh, minh sanh, quang sanh. Ðây là Thánh đế về Khổ đã được liễu tri, này các Tỷ-kheo, đối với các pháp từ trước Ta chưa từng được nghe, nhãn sanh, trí sanh, tuệ sanh, minh sanh, quang sanh.

10) Ðây là Thánh đế về Khổ tập, này các Tỷ-kheo, đối với các pháp... quang sanh. Ðây là Thánh đế về Khổ tập cần phải đoạn tận, này các Tỷ-kheo, đối với các pháp... quang sanh. Ðây là Thánh đế về Khổ tập đã được đoạn tận, này các Tỷ-kheo, đối với các pháp... quang sanh.

11) Ðây là Thánh đế về Khổ diệt, này các Tỷ-kheo, đối với các pháp... quang sanh. Ðây là Thánh đế về Khổ diệt cần phải chứng ngộ, này các Tỷ-kheo, đối với các pháp... quang sanh. Ðây là Thánh đế về Khổ diệt đã được chứng ngộ, này các Tỷ-kheo, đối với các pháp... quang sanh.

12) Ðây là Thánh đế về Con Ðường đưa đến khổ diệt, này các Tỷ-kheo, đối với các pháp... quang sanh. Ðây là Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt cần phải tu tập, này các Tỷ-kheo, đối với các pháp... quang sanh. Ðây là Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt đã được tu tập, này các Tỷ-kheo, đối với các pháp từ trước Ta chưa từng được nghe, nhãn sanh, trí sanh, tuệ sanh, minh sanh, quang sanh.

13) Cho đến khi nào, này các Tỷ-kheo, trong bốn Thánh đế này, với ba chuyển và mười hai hành tướng như vậy, tri kiến như thật không khéo thanh tịnh ở nơi Ta; thời này các Tỷ-kheo, cho đến khi ấy, trong thế giới này với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, Ta không chứng tri đã chánh giác vô thượng Chánh Ðẳng Giác.

14) Và cho đến khi nào, này các Tỷ-kheo, trong bốn Thánh đến này, với ba chuyển và mười hai hành tướng như vậy, tri kiến như thật đã được khéo thanh tịnh ở nơi Ta; cho đến khi ấy, này các Tỷ-kheo, trong thế giới này với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, Ta mới chứng tri đã chánh giác vô thượng Chánh Ðẳng Giác. Tri kiến khởi lên nơi Ta: "Bất động là tâm giải thoát của Ta. Ðây là đời sống cuối cùng, nay không còn tái sanh nữa".

15) Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Chúng năm Tỷ-kheo hoan hỷ, tín thọ lời Phật dạy. Trong khi lời dạy này được tuyên bố, Tôn giả Kondanna khởi lên pháp nhãn thanh tịnh, không cấu uế như sau: "Phàm vật gì được tập khởi, tất cả pháp ấy cũng bị đoạn diệt".

16) Và khi Pháp luân này được Thế Tôn chuyển vận như vậy, chư Thiên cõi đất này lớn tiếng nói lên: "Nay vô thượng Pháp luân này được Thế Tôn ở Ba-la-nại, chỗ chư Tiên đọa xứ, tại Vườn Nai, chuyển vận một Pháp luân chưa từng được ai chuyển vận, Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên, hay bất cứ một ai ở đời".

17) Sau khi được nghe tiếng chư Thiên ở cõi đất, Tứ đại Thiên vương thiên lên tiếng nói lên: "Nay vô thượng Pháp luân này được Thế Tôn ở Ba-la-nại, chỗ chư Tiên đọa xứ, tại Vườn Nai, chuyển vận một Pháp luân chưa từng được ai chuyển vận, Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên hay bất cứ một ai ở đời".

18) Sau khi được nghe tiếng của chư Thiên ở Tứ đại Thiên vương thiên, thời chư Thiên ở cõi trời Ba mươi ba... chư Thiên Yàmà... chư Thiên Tusità... chư Hóa lạc thiên... chư Tha hóa tự tại thiên... chư Thiên ở Phạm thiên giới lớn tiếng nói lên: "Nay vô thượng Pháp luân này được Thế Tôn ở Ba-la-nại, chỗ chư Tiên đọa xứ, tại Vườn Nai, chuyển vận... bất cứ một ai ở đời".

19) Như vậy, trong sát-na ấy, trong khoảnh khắc ấy, trong giây phút ấy, tiếng ấy lên đến Phạm thiên giới. Và mười ngàn thế giới chuyển động, rung động, chuyển động mạnh. Và một hào quang vô lượng, quảng đại phát chiếu ra ở đời, vượt quá uy lực chư Thiên.

20) Rồi Thế Tôn thốt lên lời cảm hứng sau đây: "Chắc chắn đã giác hiểu là Kondanna (Kiều-trần-như)! Chắc chắn đã giác hiểu là Kondanna!"

Như vậy Tôn giả Kondanna được tên là Annàta Kondanna (A-nhã Kiều-trần-như).