|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Tư, ngày 02 tháng 03, 2022 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYACHƯƠNG IV. TƯƠNG ƯNG ÁC MA, PHẨM THỨ HAI (S.i,110) @@@ Bài 2. Kinh Sư Tử (Kinnusīhasuttaṃ) -PHẬT RÕ MA NHƯNG MA KHÔNG RÕ PHẬT
Ma nhìn Phật thuyết pháp dõng dạc giữa hội
chúng đông đảo sanh tâm trịch thượng nghĩ là
“ở xứ mù thằng chột làm vua”.
Tâm ma chỉ biết có hơn thua, cao
thấp. Tâm Phật đã vượt khỏi mọi ái chấp
trong đời. Phật thuyết pháp độ sanh chỉ vì
lòng bi mẫn. Ngài chẳng mong cầu gì ở thế
gian vì thế gian đối với Phật có gì để mong
cầu?. Các Đấng Như Lai là những Bậc Đại Hùng
không phải vì địa vị, quyền lực mà chính là
cảnh giới của vô-biên-trí quán triệt vạn
pháp, không còn chấp thủ.
Ekaṃ samayaṃ bhagavā sāvatthiyaṃ viharati jetavane
anāthapiṇḍikassa ārāme. Tena kho
pana samayena bhagavā mahatiyā parisāya
parivuto dhammaṃ deseti.
Thuở ấy Đức Thế Tôn trú ở Sāvatthi, Kỳ Viên, ngôi già lam
của ông Anāthapiṇḍika.
Lúc bấy giờ, Đức Thế Tôn đang thuyết với hội chúng
đông đảo vây chung quanh.
Atha kho mārassa pāpimato etadahosi – ‘‘ayaṃ kho samaṇo
gotamo mahatiyā parisāya parivuto dhammaṃ deseti. Yaṃnūnāhaṃ
yena samaṇo gotamo tenupasaṅkameyyaṃ vicakkhukammāyā’’ti.
Rồi Ác ma suy nghĩ: "Sa-môn Gotama đang thuyết với hội chúng
đông đảo vây chung quanh. Vậy ta hãy đến Sa-môn Gotama và
làm mờ loạn hội chúng ấy."
Atha kho māro pāpimā yena bhagavā tenupasaṅkami;
upasaṅkamitvā bhagavantaṃ gāthāya ajjhabhāsi –
Rồi Ác ma đi đến Thế Tôn nói với Ngài kệ ngôn:
‘‘Kinnu sīhova nadasi, parisāyaṃ visārado;
Cất tiếng sư tử hống
‘‘Nadanti ve mahāvīrā, parisāsu visāradā;
(Thế Tôn)
Đại hùng cất tiếng vang
Atha kho māro pāpimā ‘‘jānāti maṃ
bhagavā, jānāti maṃ sugato’’ti dukkhī dummano
tatthevantaradhāyīti.
Ác ma biết được: "Thế Tôn đã biết ta, Thiện Thệ đã biết ta" nên buồn và thất vọng
liền biến mất tại chỗ ấy.
Kinnu sīhova nadasi = Tại sao người cất tiếng sư tử hống?
Vicakkhukammāya nghĩa đen “để không còn có mắt” ý nói là cho
mờ loạn tâm tư
Theo Sớ giải “hội chúng” ở đây chỉ cho tám hội chúng là hội
chúng sát đế lỵ, hội chúng bà la môn, hội chúng gia chủ, hội
chúng tứ thiên vương, hội chúng tam thập tam thiên, hội
chúng ma vương, hội chúng phạm thiên (khattiya, brāhmaṇa,,
gahapati, samaṇa, Cātummahārājika, Tāvatiṃsa˚, Māra, Brahma)
Theo sớ giải sức mạnh Như Lai chứng đạt (Tathāgatā balappattā)
là Mười Như Lai lực
(Tathāgatabalañāṇa) (1. Trí biết cái gì có thể và cái gì
không có thể (Ṭhānāṭhānañāṇa). 2. Trí biết tận tường nghiệp
quả
(Kammavipākañāṇa). 3. Trí biết biết rõ con đường dẫn đến tất
cả cảnh giới sanh tử (Sabbatthagāminīpaṭipadāñāṇa). 4. Trí
biết biết rõ tánh chất sai biệt của vạn hữut
(Nānādhātuñāṇa). 5. Trí biết rõ khuynh hướng sai biệt của
chúng sanh (Nānādhimuttikañāṇa). 6. Trí biết căn cơ cao thấp
của chúng sanh (Indriyaparopariyattañāṇa). 7. Trí biết rõ sự
thanh tịnh, ô nhiễm và xuất ly của thiền định
(Jhānādisaṅkilesādiñāṇa). 8. Trí biết rõ tiền kiếp
(Pubbenivāsānussatiñāṇa). 9. Trí biết rõ đầu mối sanh tử
(Cutūpapātañāṇa). 10. Trí đoạn tận lậu hoặc
(Āsavakkhayañāṇa), Tỳ kheo Giác Đẳng chuyển dịch và biên soạn giáo trình
-ooOoo- |