BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Ba, ngày 08 tháng 03, 2022

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA

CHƯƠNG IV. TƯƠNG ƯNG ÁC MA, PHẨM THỨ HAI (S.i,111)

@@@

  Bài 4. Kinh Thích Hợp (Patirūpasuttaṃ) -MA ‘DẠY ĐỜI’ PHẬT

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png  

Có những chuyện thường xảy ra như không phải lúc nào cũng vậy. Thuyết pháp độ sanh luôn luôn có cả hai phản ứng từ thính chúng: có người ưa thích cũng có người không hoan hỷ. Nếu vị pháp sư không khéo sẽ rơi vào trạng thái dính mắc và bực mình với tâm lý thính chúng. Ma đã dùng sự tình nầy để “dạy” Phật khi Ngài đang thuyết pháp. Đức Thế Tôn dĩ nhiên biết rõ mình đang làm gì. Ngài thuyết pháp độ sanh chỉ đơn giản vì lòng thương xót chúng sanh muốn đem lại lợi lạc cho đời. Phật không có gì mong cầu ở thế gian nầy kể cả sự vinh danh, ca ngợi.

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Kinh-Van-1.png

Ekaṃ samayaṃ bhagavā kosalesu viharati ekasālāyaṃ brāhmaṇagāme. Tena kho panasamayena bhagavā mahatiyā gihiparisāya parivuto dhammaṃ deseti.

Thuở ấy Đức Thế Tôn trú ở Kosala, tại một làng Bà-la-môn tên là Ekasālā. Lúc bấy giờ, Đức Thế Tôn đang thuyết với hội chúng cư sĩ đông đảo vây chung quanh.

Atha kho mārassa pāpimato etadahosi – ‘‘ayaṃ kho samaṇo gotamo mahatiyā parisāya parivuto dhammaṃ deseti. Yaṃnūnāhaṃ yena samaṇo gotamo tenupasaṅkameyyaṃ vicakkhukammāyā’’ti.

Rồi Ác ma suy nghĩ: "Sa-môn Gotama đang thuyết với hội chúng đông đảo vây chung quanh. Vậy ta hãy đến Sa-môn Gotama và làm mờ loạn hội chúng ấy."

Atha kho māro pāpimā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṃ gāthāya ajjhabhāsi –

Rồi Ác ma đi đến Thế Tôn nói với Ngài kệ ngôn:

‘‘Netaṃ tava patirūpaṃ, yadaññamanusāsasi;
Anurodhavirodhesu, mā sajjittho tadācara’’nti.

Không thích hợp cho Ngài
Để hướng dẫn kẻ khác
Giữa kẻ ghét, người ưa
Chớ để bị mắc kẹt

‘‘Hitānukampī sambuddho, yadaññamanusāsati;
Anurodhavirodhehi, vippamutto tathāgato’’ti.

(Thế Tôn)

Từ bi Phật thuyết pháp
Để giáo hoá chúng sanh
Giữa kẻ thương, người ghét
Như Lai vốn tự tại

Atha kho māro pāpimā ‘‘jānāti maṃ bhagavā, jānāti maṃ sugato’’ti dukkhī dummano tatthevantaradhāyīti.

Ác ma biết được: "Thế Tôn đã biết ta, Thiện Thệ đã biết ta" nên buồn thất vọng liền biến mất tại chỗ ấy.

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Thich-van.png

‘‘Netaṃ tava patirūpaṃ = Thật không thích hợp cho Ngài
Yadaññamanusāsasi = để huấn thị những người khác
Anurodhavirodhesu = giữa người ưa thích và không ưa
mā sajjittho tadācara’’nti = Chớ để bị kẹt vào giữa
‘‘Hitānukampī sambuddho = Bậc Đại giác vì lợi ích và thương xót (từ bi)
Yadaññamanusāsati = giáo hoá chúng sanh
Anurodhavirodhehi = giữa những người kính ngưỡng và người không ưa
vippamutto tathāgato’’ti = Như Lai giải thoát không vướng vấp

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Thich-nghia.png

Theo Sớ giải chữ Anurodhavirodhesu chỉ cho sự dính mắc và ghét bỏ (rāga-patig̣ha). Ý nói là khi một vị thuyết pháp sẽ có những người rất hoan hỷ cảm kích nên sẽ khí người nói pháp sanh tâm dính mắc. Trái lại chắc chắn khi một vị thuyết pháp cũng sẽ có người không ưa thích nên sanh tâm ghét bỏ. Như vậy vị pháp sư sẽ rơi vào sự thương ghét. Tất nhiên Đức Phật thuyết pháp với tâm từ bi. Ngài đã vượt khỏi cả hai thương, ghét.


Tỳ kheo Giác Đẳng chuyển dịch và biên soạn giáo trình

-ooOoo-