|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Chủ Nhật, ngày 13, tháng 03, 2022 MÔN HỌC THẮNG PHÁP ABHIDHAMMACHƯƠNG VIII. TOÁT YẾU DUYÊN TRỢ (Paccayasaṅgaha) Bài 67. PHẦN II. ĐỊNH LÝ Y TƯƠNG SINH (Paṭiccasamuppādanayo)
TỔNG
QUAN
Trong Thắng pháp tạng, bộ Phân tích (Vibhaṅga) trình
bày phần phân tích duyên khởi (paccayākāravibhaṅgo)
như sau:
Tattha avijjāpaccayā saṅkhārā, saṅkhārāpaccayā viññāṇaṃ,
viññāṇapaccayā nāmarūpaṃ, nāmarūpapaccayā saḷāyatanaṃ,
saḷāyatanapaccayā phasso, phassapaccayā vedanā,
vedanāpaccayā taṇhā, taṇhāpaccayā upādānaṃ, upādānapaccayā
bhavo, bhavapaccayā jāti, jātipaccayā jarāmaraṇaṃ soka –
parideva – dukkha – domanass’ upāyāsā sambhavanti.
Evametassa kevalassa dukkhakkhandhassasamudayo hotī’ti.
Ở đấy, do duyên vô minh có hành, do duyên hành có thức, do
duyên thức có danh sắc, do duyên danh sắc có lục nhập, do
duyên lục nhập có xúc, do duyên xúc có thọ, do duyên thọ có
ái, do duyên ái có thủ, do duyên thủ có hữu, do duyên hữu có
sanh, do duyên sanh có già chết – sầu – bi – khổ – ưu – não
[hoặc, vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh
sắc, danh sắc duyên lục nhập, lục nhập duyên xúc, xúc duyên
thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu, hữu duyên
sanh, sanh duyên lão tử – sầu – bi – khổ – ưu – não]. Như
vậy là tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.
Paccayākāra,
điều kiện trợ sanh – Chính là Paṭiccasamuppāda, Y
tương sinh hay liên quan tương sinh. Có nghĩa là do nương
vào nhau mà sanh khởi, pháp này làm duyên cho pháp kia, pháp
kia có mặt do liên quan pháp này. Và, duyên sinh năng trợ
sanh sở theo công thức duyên hệ (paṭṭhānanayena),
mặc dù chỉ trình bày nguyên nhân và hậu quả mà không đề cập
nhân trợ quả bằng cách nào, chỉ lý giải thôi.
PHẦN II.
ĐỊNH LÝ Y TƯƠNG SINH (Paṭiccasamuppādanayo)
1.
Avijjāpaccayā saṅkhārā sambhavanti
–
Do duyên vô minh có hành (hay vô minh duyên hành)
Lý giải:
Vô minh (avijjā)
là không hiểu pháp đáng hiểu, không biết điều đáng biết, là
sự ngu si mê muội. Vô minh chính là si, tâm sở si
(mohacetasika) tương ưng với tâm bất thiện
(akusalacitta). Vô minh hay si là không nhận thức được
đặc tính bản thể của pháp hữu vi vô thường, khổ, vô ngã,
không biết khổ, nhân sanh khổ, sự diệt khổ và đạo lộ đến
diệt khổ...
Hành (saṅkhāra) do vô minh trợ, là nghiệp hành
(kammasaṅkhāra),
hành vi xấu hay tốt.
Vì si mê không biết nhân quả, chúng sanh tạo ra những nghiệp
bất thiện, thực hiện thân ác nghiệp, khẩu ác nghiệp, ý ác
nghiệp. Đây gọi là vô minh trợ cho phi phúc hành
(apuññābhisaṅkhāra) phi phúc hành là tư bất thiện
(akusalacatanā).
Vì mê muội, không biết luân hồi là khổ nên chúng sanh mong
ước được sanh cõi vui: trời, người, hoặc thích có danh lợi,
rồi làm phước bố thí, trì giới, tu chứng thiền sắc giới. Đây
gọi là vô minh trợ phúc hành (puññābhisaṅkhāra). Phúc
hành là tư thiện dục giới (kāmāvacarakusalacetanā) và
tư thiện sắc giới (rūpāvacarakusalacetanā).
Vì mê muội, khao khát cõi phạm thiên vô sắc nên có người tu
chứng thiền vô sắc giới. Đây gọi là vô minh trợ bất động
hành (Āneñjābhisaṅkhāra).
Bất động hành là tư thiện vô sắc giới
(arūpāvacarakusalacetanā).
Xét về cách vô minh duyên hành theo duyên hệ
(paṭṭhānapaccaya):
-
Vô minh duyên phi phúc hành. Si tâm sở đồng sanh với tư tâm
sở trong cùng sát na tâm bất thiện, thì Si trợ Tư bằng nhân
duyên, Hỗ tương duyên, Tương ưng duyên, Câu sanh duyên, Câu
sanh y duyên, Câu sanh hiện hữu duyên, Câu sanh bất ly
duyên.
Vô minh là Si trong sát na đổng lực bất thiện kế trước và
hành là tư trong sát na đổng lực bất thiện kế sau, thì Si
trợ Tư bằng Vô gián duyên, Liên tiếp duyên, Vô gián cận y
duyên, Vô hữu duyên, Ly khứ duyên, và Trùng dụng duyên.
Vô minh là si trong tâm bất thiện sanh lúc trước làm đối
tượng cho hành là tư hợp tâm bất thiện sau đó sanh khởi thì
si trợ tư bằng Cảnh duyên và Trưởng duyên.
Vô minh tiềm miên (Avijjānusaya) được xem là duyên
chính cho nghiệp hành (Kammasaṅkhāra). Do đó vô minh
là si, trợ cho phi phúc hành là tư bất thiện, bằng thường
cận y duyên.
Nói tổng quát thì vô minh trợ phi phúc hành bằng 16
duyên.
-
Vô minh duyên phúc hành. Vô minh là si pháp bất thiện không
thể đồng sanh tương ưng với tư thiện (kusalacetanā),
nhưng có hai trường hợp vô minh duyên phúc hành:
Vô minh tiềm miên khiến chúng sanh chìm trong bóng tối mà
tạo nghiệp hành, trong đó có phúc hành là tư thiện dục giới
và tư thiệ sắc giới. Trường hợp này vô minh trợ phúc hành
bằng thường cận y duyên.
Vô minh là si trong tâm bất thiện sanh lúc trước có thể làm
cảnh cho tư thiện dục giới sanh khởi, trường hợp này vô minh
duyên phúc hành dục giới bằng cảnh duyên.
Tóm lại, vô minh duyên phúc hành chỉ bằng hai duyên là cảnh
duyên và thường cận y duyên.
-
Vô minh duyên bất động hành. Vô minh tiềm miên trợ tư thiện
vô sắc giới chỉ bằng một cách thường cận y duyên.
2.
Saṅkhārapaccayā viññāṇaṃ sambhavati
– Do duyên hành có thức (hay hành duyên thức)
Lý giải:
Nhắc lại, hành (saṅkhāra)
là nghiệp (kamma); tức là tâm sở tư (cetanā)
phối hợp trong tâm bất thiện và tâm hiệp thế. Tư (cetanā)
là nghiệp, như Phật ngôn dạy: Cetanā’haṃ bhikkhave kammaṃ
vadāmi nghĩa là “Này các Tỳ kheo, ta nói Tư là nghiệp”.
Thức (viññāṇa) do duyên hành, thức ấy là quả
thức (vipākaviññāṇa) hay thức
uẩn quả hiệp thế (lokiyavipākaviññāṇa) gồm 32 thứ
tâm.
Thật ra, nghiệp quá khứ (hành) tạo ra danh uẩn quả
(thức uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn và hành uẩn) cùng tạo ra sắc
nghiệp (kammasamuṭṭhānarūpa hay kammajarūpa hay
kaṭattārūpa).
Như trong bộ paṭṭhāna đã nói: Kusalākusalaṃ kammaṃ
vipākānaṃ khandhānaṃ kaṭattā ca rūpānaṃ kammapaccayena
paccayo, nghĩa là nghiệp thiện và bất thiện trợ tạo các
danh uẩn quả và các sắc nghiệp bằng cách nghiệp duyên.
Tuy vậy, trong y tương sinh chỉ nói là Hành duyên
thức (nghiệp trợ tạo thức uẩn quả). Vì sao không nói hành
duyên danh uẩn quả và sắc nghiệp trong khi ở thời điểm tái
tục danh uẩn quả và sắc nghiệp cũng đã có mặt?
Vấn đề này, được Ngài Nandamālābhivaṃsa Sayadaw giải
thích:
Vấn đề thứ nhất, mặc dù bốn danh uẩn luôn đồng sanh
và tương ưng với nhau nhưng chỉ nói hành duyên thức, bởi vì
nêu phần chính yếu tức là tâm quả (vipākacitta). Tâm
có chức năng dẫn đầu tâm sở (pubbaṅgamarasaṃcittaṃ);
Tâm
sở chỉ là thuộc tánh của tâm, phụ họa với tâm, các tâm sở có
thể phối hợp với tâm bất thiện và tâm thiện, không riêng tâm
quả. Nên khi nói nghiệp (hành) tạo quả thì chỉ cần nói hành
duyên thức uẩn là đủ.
Vấn đề thứ hai, mặc dù nghiệp có thể tạo sắc nhưng
sắc nghiệp không gọi là quả (vipāka), không đồng tánh
chất danh pháp (nāma) với nghiệp. Nên khi nói nghiệp
(hành) tạo quả (thức) thì chỉ nói hành duyên thức (danh) mà
không nói duyên sắc.
Nói về hành duyên thức có 4 trường hợp:
-
Phi phúc hành (apuññābhisaṅkhāra) duyên thức quả bất
thiện
(akusalavipākaviññāṇa),
tức là 12 tư bất thiện (akusalacetanā) trợ sanh 7 tâm
quả bất thiện (akusalavipākacitta). Trong 7 tâm quả
ấy, có một tâm quan sát (santīraṇacitta) làm thức tái
sanh cõi bất hạnh (ngoại trừ tâm quan sát quả bất thiện do
tâm si phóng dật tạo ra). Thời bình nhật thì sanh khởi đủ 7
thức quả bất thiện.
-
Phúc hành dục giới (kāmāvacarapuññābhisaṅkhāra)
duyên thức quả thiện dục giới
(kāmāvacarakusalavipākaviññāṇa), tức 8 tư thiện
(kusalacetanā) dục giới trợ sanh 16 tâm quả là 8 quả
thiện vô nhân (kusalavipākāhetukacitta)
và 8 đại quả (mahāvipākacitta). Trong đó có 9 tâm quả
là thức tái sanh cõi vui dục giới, đó là 1 tâm quan sát quả
thiện thọ xả và 8 tâm đại quả. Trong thời bình nhật sanh
khởi đủ 16 thức
quả thiện.
-
Phúc hành sắc giới (rūpāvacarapuññābhisaṅkhāra) duyên
thức quả sắc giới (rūpāvacaravipākaviññāṇa), tức 5 tư
thiện (kusalacetanā) sắc giới trợ sanh 5 tâm quả sắc
giới (rūpāvacaravipākacitta). Tâm quả bậc thiền nào
sẽ là thức tục sinh hữu phần – tử cho cõi sắc bậc thiền ấy.
-
Bất động hành (āneñjābhisaṅkhāra) duyên thức quả vô
sắc giới (arūpāvacaravipākaviññāṇa), tức 4 tư thiện
(kusalacetanā) vô sắc giới trợ sanh 4 tâm quả vô sắc
giới (arūpāvacaravipākacitta). Bốn tâm quả vô sắc làm
thức tục sinh – hữu phần – tử cho cõi vô sắc, tâm nào cõi
nấy.
Xét theo duyên
hệ (paṭṭhānapaccaya) thì hành duyên thức (nghiệp hành
trợ cho quả thức) bằng hai duyên là dị thời nghiệp duyên và
thường cận y duyên.
Nói thêm, sự
tục sinh cõi vô tưởng (asaññasatta). Cõi vô tưởng hay
nhất uẩn hữu (ekavokārabhava) là cõi mà chúng sanh ở
đó chỉ có sắc uẩn, không có danh uẩn, nên ở thời điểm tục
sinh chỉ có hiện khởi bọn sắc nghiệp mạng quyền do nghiệp
hành sắc giới ngũ thiền tạo ra. Gọi là
Hành
duyên sắc.
3.
Viññāṇapaccayā
nāmarūpaṃ sambhavati
– Do duyên thức có danh sắc (hay thức duyên danh sắc)
Lý giải:
Thức (viññāṇa) đây là thức uẩn quả
(vipākaviññāṇakkhandha).
Nghiệp hành trợ sanh 32 quả thức, trong đó có 19 tâm quả làm
việc tái tục, khởi đầu một kiếp sống mới, gọi là kiết sanh
thức (paṭisandhiviññāṇa).
Danh sắc có do thức làm duyên. Danh (nāma) đây là thọ
uẩn, tưởng uẩn và hành uẩn, tức 35 tâm sở đồng sanh với thức
uẩn quả trong trong một sát na. Sắc (rūpa) đây là 18
sắc nghiệp, gồm sắc nghiệp tứ đại và sắc nghiệp y sinh.
Thức uẩn quả cõi ngũ uẩn mới trợ danh sắc; thức uẩn quả cõi
tứ uẩn, chỉ duyên danh thôi.
Thức uẩn quả dục giới có 23 thứ tâm quả, trợ danh là 33 tâm
sở (trừ giới phần và vô lượng phần); trợ sắc là 18 sắc
nghiệp tái tục và bình nhật.
Thức uẩn quả sắc giới có 5 thứ tâm quả, trợ danh là 35 tâm
sở (trừ giới phần); trợ sắc là 13 sắc nghiệp tái tục và bình
nhật (trừ tỷ, thiệt, thân, 2 sắc giới tính).
Thức uẩn quả vô sắc giới có 4 thứ tâm quả chỉ trợ danh là 30
tâm sở phối hợp (trừ tầm, tứ, hỷ, giới phần và vô lượng
phần); không có trợ sắc.
Xét theo duyên hệ (paṭṭhānapaccaya):
Thức duyên danh – thức uẩn trợ các tâm sở đồng sanh bằng
chín duyên là câu sanh duyên, câu sanh y duyên, câu sanh
hiện hữu duyên, câu sanh bất ly duyên, câu sanh quyền duyên,
danh vật thực duyên, hỗ tương duyên, tương ưng duyên và quả
duyên.
Thức duyên sắc – Thức uẩn quả tái tục trợ sắc nghiệp ý vật
tái tục bằng chín duyên là câu sanh duyên, câu sanh y duyên,
câu sanh bất tương ưng duyên, câu sanh hiện hữu duyên, câu
sanh bất ly duyên, câu sanh quyền duyên, hổ tương duyên,
danh vật thực duyên và quả duyên.
Thức duyên sắc – thức uẩn quả tái tục trợ sắc nghiệp tái
tục, ngoài sắc ý vật, bằng tám duyên là bớt ra hổ tương
duyên. Bởi vào thời điểm tái tục chỉ có tâm tái tục và sắc ý
vật mới trợ lẫn nhau, hổ tương duyên; Đối với các sắc nghiệp
khác thì tâm tái tục trợ duyên một chiều nên không có hổ
tương duyên.
Thức duyên sắc – Thức uẩn quả bình nhật trợ sắc nghiệp bình
nhật bằng bốn duyên là hậu sanh duyên, hậu sanh bất tương
ưng duyên, hậu sanh hiện hữu duyên và hậu sanh bất ly duyên.
(còn tiếp)
Biên soạn giáo trình: Tỳ kheo Tuệ Siêu @@@@@I. Giới thiệu về tính năng mới của Room Level DELUXE - Hi-Fi Audio & Multichannel (Up to 3 Speakers at once)
-
Hi-Fi là
từ viết tắt của “high fidelity”, có nghĩa là độ chân
thực cao. Khi nói “âm thanh Hi-Fi” tức
là âm thanh có độ chân thực cao, sống động, không bị méo âm
hoặc bị lẫn tạp âm và gần như không có gì khác so với âm
thanh gốc.
-
Multichannel (cho phép người dùng có thể kết nối nhiều kênh âm thanh
cùng lúc ‘Room Level DELUXE cho phép sử dụng 3 kênh âm
thanh cùng lúc’
Minh hoạ về Multichannel
II.Quy tắc chung khi sử dụng Multichannel:
-
TT Giác Đẳng
với vai trò điều hợp sẽ bật micro để điều hợp thảo luận và TT Tuệ Siêu – TT
Tuệ Quyền – TT Pháp Tân – TT Pháp Đăng – Sư Nguyên Thông sẽ
đảm trách vai trò là người trả lời và chư vị khi được thỉnh
mời thì trực tiếp bật micro để người điều hợp biết là mình
có thể tham gia mà không cần phải gửi text trên Room. Khi
câu thảo luận được nêu ra hoàn tất thì chư vị có thể bắt đầu
trả lời luôn mà không cần phải chờ đợi như trước.
(Những ngày qua TT Tuệ Siêu đã sử dụng rất quen thuộc
tính năng nầy).
-
Các MC có
thể cầm micro liên tục khi dẫn chương trình cho đến khi đọc
nội dung bài học mà không cần phải tắt micro.
-
Ví dụ: TT
Tuệ Siêu là vị dẫn nhập cho chương trình mỗi ngày và với
Multichannel thì khi nghe lời thỉnh mời TT Tuệ Siêu sẽ chủ
động bật micro mà không cần chờ MC
‘hỏi Ngài có nghe âm thanh rõ không
or phải cho biết tín hiệu’.
-
Các MC là
“admin @ (A)” hoan hỷ lưu ý vì có thể cầm 3 micro cùng lúc
nên phải để ý những người tham gia nếu thấy có tín hiệu cầm
micro thì dùng chức năng (hạn chế
or bỏ qua thành viên). |