|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Sáu, 18 tháng 03, 2022 MÔN HỌC PĀLI PHÁP CÚ I. PHẨM SONG ĐỐI (YAMAKAVAGGA)
I.
Kệ số 1 _ Phẩm Song Đối Chánh văn:
Manopubbhaṅgamā dhammā
(dhp 1)
Các pháp, ý dẫn đầu,
(pc 1)
Thích văn:
manopubbhaṅgamā [chủ cách
số nhiều của phức hợp ngữ manopubbaṅgama (mana +
pubbaṅgama). Dùng như tính từ cho danh từ dhammā] có ý đi
trước, có ý dẫn đầu.
manoseṭṭhā [chủ cách
số nhiều của phức hợp ngữ manoseṭṭha (mana + seṭṭha). Dùng như tính từ cho danh từ dhammā] có ý là
trưởng, có ý là chủ xướng.
manomayā [chủ cách
số nhiều của chuyển hoá ngữ manomaya
(mana + maya). Dùng như tính từ, cho
danh từ dhammā]
ý tạo ra, làm bằng ý.
dhammā [chủ
cách số nhiều của danh từ nam tính
dhamma] các pháp, những sự kiện nhân
quả.
manasā [sở dụng cách
số ít của danh từ đặc biệt mana]
do ý, bởi ý, với ý.
ce [hình thức giản lược
của giới từ sace] nếu, nếu như.
paduṭṭhena [sở dụng cách
số ít của paduṭṭha (qkpt của động từ
padussati). Dùng như tính từ đi với
manasā] tồi bại, hư hỏng, tội lỗi.
bhāsati [động từ
hiện tại ngôi 3 số ít bhāsati (
Và [liên từ, bất biến từ] hay,
hay là, hoặc, hoặc là.
karoti [động từ hiện
tại ngôi ba số ít karoti
(
tato [trạng từ, bất
biến từ] từ đó, từ đấy, vì vậy.
naṃ
[đối cách số ít của đại từ ta] nó, người ấy.
dukkhamanveti [hợp âm
dukkhaṃ anveti]
dukkhaṃ
[chủ cách số ít của danh từ trung tính dukkha] sự khổ
đau, nỗi khổ.
anveti [động từ hiện
tại ngôi 3 số ít anveti (anu +
cakkaṃ’va
(hợp âm cakkaṃ
iva)
cakkaṃ
[chủ cách số ít của danh từ trung tính cakka] vòng
tròn, bánh xe. Nên hiểu trong trường hợp
nầy danh từ cakka nghĩa là chiếc xe do
bò hay ngựa kéo.
iva [bất biến từ] ví
như, tỷ như, như thể.
vahato [sở thuộc cách
số ít của vahanta, hiện tại phân
từ của động từ vahati (
padaṃ
[đối cách số ít của danh từ nam tính pada] chân
cẳng, chi thể của động vật để di chuyển,
bước đi, chạy.
Chuyển văn:
Dhammā
manopubbhaṅgamā manoseṭṭhā manomayā.
Paduṭṭhena ce manasā bhāsati vā karoti
vā, tato dukkhaṃ naṃ anveti cakkaṃ iva
vahato padaṃ anveti.
Các
pháp có ý dẫn đầu, có ý là chủ xướng,
được tạo bằng ý. Nếu nói hay hành động
bằng ý tội lỗi thì tất đau khổ sẽ theo
kẻ ấy như xe chạy theo chân của con vật
kéo.
Lý
giải:
Các pháp có ý dẫn đầu, có ý là
chủ, được tạo bằng ý. Các pháp (dhammā)
ở đấy theo chú giải chỉ cho ba uẩn tâm sở: thọ uẩn, tưởng
uẩn, hành uẩn. Nhưng nói chính xác, là
Tư tâm sở (cetanācetasika)
hay nghiệp (kamma). Tư tâm sở đồng sanh thọ uẩn,
tưởng uẩn và hành uẩn bất thiện, gọi là
nghiệp bất thiện. Ba danh uẩn nầy phải
tương ưng với thức uẩn tức là tâm bất
thiện, mới hoạt động tạo nghiệp bất
thiện được. Thức, tâm và ý đồng nghĩa.
Trong bốn uẩn đồng sanh đó thì thức uẩn
(ý) gọi là dẫn đầu, là chủ xướng, ví như
băng cướp có đầu đảng vậy.
Nói hay làm với ý tội lỗi. Ý tội
lỗi (manasā paduṭṭhena)
là với tâm bất thiện hay bốn danh uẩn bất thiện, nghĩa là
bốn danh uẩn đồng sanh với căn bất thiện
(akusalamūla)
căn tham, căn sân và căn si. Thật ra, tâm bất thiện tạo ba
nghiệp là thân ác nghiệp, khẩu ác
nghiệp, ý ác nghiệp nhưng vì giới hạn cú
pháp thi kệ nên chỉ đề cập khẩu hành và
thân hành (bhāsati
vā karoti vā).
Hình ảnh thí dụ về chiếc xe được
con bò hay con ngựa kéo chạy để minh hoạ
quả khổ đuổi theo kẻ tạo ác nghiệp suốt
kiếp luân hồi, cũng như chiếc xa mãi lăn
theo chân của con vật kéo nó, dù con bò
hay con ngựa chạy đi cả ngày, chiếc xe
vẫn không rời chân con bò hay con ngựa
ấy. Hiện báo nghiệp có thể thành vô hiệu
nghiệp; Sanh báo nghiệp có thể thành vô
hiệu nghiệp; Nhưng hậu báo nghiệp ác sẽ
trổ quả theo mãi cho đến khi người ấy
kết thúc luân hồi mới thành vô hiệu
nghiệp.
Duyên
sự:
Đức Phật thuyết bài kệ pháp cú số
1 nầy khi Ngài trú tại chùa Jetavana ở
thành Sāvatthi,
do câu chuyện của Trưởng lão Cakkhupāla
đắc A la hán nhưng bị mù mắt.
Ở Sāvatthi
có ông trưởng giả Mahāpāla
được nghe đức Phật thuyết pháp đã nhàm
chán sự đời, bỏ gia sản và xuất gia theo
đức Phật.
Sau khi xuất gia, Trưởng lão chọn
đi con đường pháp hành, thọ trì hạnh đầu
đã ngăn oai nghi nằm, ẩn cư tại một vùng
biên địa, tinh tấn tu tập thiền quán.
Trải qua ba tháng an cư mùa mưa,
hạ đầu tiên, trưởng lão chuyên cần hành
đạo như vậy, vì không nằm ngủ nên sanh
bệnh đau mắt. Có vị lương y trong làng
bào chế thuốc nhỏ mắt cho trưởng lão,
nhưng trưởng lão chỉ ngồi nhỏ thuốc nên
không hiệu quả. Trưởng lão thường dạy
tâm rằng: chớ có vì con mắt thịt nầy mà
gián đoạn sa môn pháp, hãy làm cho phát
sanh tuệ nhãn. Hết thời an cư mùa mưa
đó, trưởng lão đã chứng tuệ nhãn, đắc
quả A la hán, nhưng đồng thời bị mù đôi
mắt. Cũng do nhân ấy mà các vị đồng phạm
hạnh gọi Trưởng lão với biệt danh
Cakkhupāla
(Hộ Nhãn) nghĩa
là bậc hộ trì tuệ nhãn.
Làm lễ tự tứ (pavāranā) xong, các vị tỳ kheo
tính đưa Trưởng lão cùng về Jetavana để
yết kiến đức Bổn sư nhưng trưởng lão
không muốn làm phiền chư tăng nên xin để
về sau. Đức Đế Thích dùng thần lực đưa
trưởng lão về Sāvatthi đảnh lễ đức Phật.
Đức Phật đã xác chứng quả vị
chứng đắc của Trưởng lão Cakkhupāla.
Chư tỳ kheo nghe vậy bèn bạch hỏi đức
Phật, Trưởng lão Cakkhupāla
đã tạo nghiệp gì nay bị mù dù đắc A la hán?
Đức Phật kể lại, thời quá khứ vị
ấy là một thầy thuốc tài giỏi. Một lần
có người thiếu phụ nghèo bị đau mắt đến
nhờ thầy chữa trị và hứa sẽ làm nô lệ
nhà thầy để trả công cho thầy. Thế nhưng
khi mắt đã khỏi thì thiếu phụ ấy nói
tráo trở để khỏi làm nô lệ trả công cho
thầy. Vị thầy thuốc tức giận sanh ác ý
làm hại nàng, bèn bào chế lọ thuốc độc
gạt người thiếu phụ nhỏ vào mắt khiến
nàng ấy bị mù mắt. Do ác nghiệp như vậy
nên quả xấu theo mãi, đến kiếp hiện tại
dù chứng thánh quả A la hán vẫn phải bị
mù loà.
Nhắc tiền nghiệp của Trưởng lão
Cakkhupāla xong,
đức Phật thuyết bài kệ pháp cú trên. @@@@@@@@@@@@@@@@@@ Hướng dẫn cách cài đặt và gõ chữ Pali
Quý vị vào link bên dưới để
xem hướng dẫn cách cài đặt và cách thức gõ.
Gõ Pāli và Sanskrit trên Windows 10
https://tienvnguyen.net/a704/phong-chu-pali-unicode-unicode-pali-fonts
Gõ Tiếng Việt trên Windows 10
http://unikey.vn/vietnam/
-ooOoo- /span> |