|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Bảy, ngày 19 tháng 03, 2022 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYACHƯƠNG IV. TƯƠNG ƯNG ÁC MA, PHẨM THỨ HAI (S.i,116) @@@ Bài 9. Kinh Cai Trị (Rajjasuttaṃ) -THỈNH PHẬT LÀM VUA
Đức Phật tự hỏi
về khả tính của sự
cai trị thiên hạ mà không dùng tới tư pháp. Ác ma Phật rơi
vào bẫy của mình bằng lời khuyến thỉnh Ngài dùng thần lực và
trí lực để làm đại đế. Đức Phật dạy rõ khi nguồn cội của đau
khổ chính là khát ái. Sự ham muốn vốn không bao giờ thoả mãn
dù có cả núi vàng hoặc nhân đôi núi vàng cũng không chấm dứt
được khát ái. Nói cách khác, càng có nhiều thì khao khát
càng tăng, và vì vậy, đau khổ càng nhiều. Thấy khao khát là
nhân sanh khổ, bậc trí không tìm giải pháp bằng cách thoả
mãn sự khao khát. Cũng là câu chuyện Ma không bao giờ thấu
hiểu cảnh giới cao rộng của Phật.
Ekaṃ samayaṃ bhagavā kosalesu viharati himavantapadese
[himavantapasse (sī.)] araññakuṭikāyaṃ.
Thuở ấy Đức Thế
Tôn trú ở Kosala, dưới chân rặng Hi Mã Lạp Sơn, tại một am
thất trong rừng.
Atha kho bhagavato rahogatassa paṭisallīnassa evaṃ cetaso
parivitakko udapādi – ‘‘sakkā nu kho rajjaṃ kāretuṃ ahanaṃ
aghātayaṃ ajinaṃ ajāpayaṃ asocaṃ asocāpayaṃ dhammenā’’ti?
Bấy giờ Đức Thế Tôn trong lúc độc cư, ý nghĩ sao đây khởi
lên trong tâm: Có thể chăng để trị vì đất nước mộ cách đúng
pháp mà không giết chóc hay khiến người giết chóc; không
chinh phạt hay khiến người chinh phạt; không sầu muộn hay
khiến người sầu muộn?”
Atha kho māro pāpimā bhagavato cetasā
cetoparivitakkamaññāya yena bhagavā tenupasaṅkami;
upasaṅkamitvā bhagavantaṃ etadavoca –
Rồi Ấc ma khi
đọc được ý nghĩ của Đức Thế Tôn liền đi đến Ngài nói rằng:
kāretu, bhante, bhagavā rajjaṃ, kāretu, sugato, rajjaṃ
ahanaṃ aghātayaṃ ajinaṃ ajāpayaṃ asocaṃ asocāpayaṃ
dhammenā’’ti.
Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy cai trị! Thiện Thệ hãy cai trị một
cách đúng pháp
không giết hại, không khiến người giết hại; không chinh phạt, không khiến người chinh phạt; không sầu muộn, không khiến người sầu muộn.
‘‘Kiṃ pana me tvaṃ, pāpima, passasi yaṃ maṃ tvaṃ evaṃ
vadesi – ‘kāretu, bhante, bhagavā rajjaṃ, kāretu sugato,
rajjaṃ ahanaṃ aghātayaṃ ajinaṃ ajāpayaṃ asocaṃ asocāpayaṃ
dhammenā’’’ti?
-- Này Ác ma,
ngươi thấy gì mà nói rằng “Bạch
Thế Tôn, Thế Tôn hãy cai trị! Thiện Thệ hãy cai trị một cách
đúng pháp
không giết hại, không khiến người giết hại; không chinh phạt, không khiến người chinh phạt; không sầu muộn, không khiến người sầu muộn”?.
‘‘Bhagavatā kho, bhante, cattāro iddhipādā bhāvitā
bahulīkatā yānīkatā vatthukatā anuṭṭhitā paricitā
susamāraddhā. Ākaṅkhamāno ca, bhante, bhagavā himavantaṃ
pabbatarājaṃ suvaṇṇaṃ tveva adhimucceyya suvaṇṇañca
panassā’’ti
Bạch Thế Tôn,
bốn thần túc đã được Thế Tôn tu tập, làm cho sung mãn, làm
thành phương tiện vận chuyển, làm thành căn cứ địa, ổn cố,
thuần thục, viên mãn. Bạch Thế Tôn, nếu Ngài muốn có thể
khiến Hi Mã Lạp Sơn, vua của các núi, thành vàng ròng; với
chú nguyện núi sẽ biến thành vàng ròng.
‘‘Pabbatassa suvaṇṇassa, jātarūpassa kevalo;
(Thế Tôn)
Dù núi vàng, toàn vàng
Atha kho māro pāpimā ‘‘jānāti maṃ
bhagavā, jānāti maṃ sugato’’ti dukkhī dummano
tatthevantaradhāyīti.
Ác ma biết được: "Thế Tôn đã biết ta, Thiện Thệ đã biết
ta" nên buồn và thất vọng
liền biến mất tại chỗ ấy.
Pabbatassa suvaṇṇassa jātarūpassa kevalo = dù núi làm bằng vàng, toàn là vàng
Theo Sớ giải Trường Bộ thì một vị đã tu tập viên mãn thần
túc có thể kéo dài đời sống cả đại kiếp hoặc trọn thời gian
còn lại của đại kiếp. Ác ma nói lên điều nầy không phải vì
sự kính trọng đối với năng lực của Phật mà muốn Ngài chạy
theo quyền lực, do vậy, rơi vào cương toả của Ma. Bài
kinh nầy, và cả Tam Tạng, không có câu trả lời về khả tính
của sự an dân trị quốc mà không dùng tới trọng hình để ổn
định nền pháp trị. Mặc dù kinh điển có nói về sự ra đời của
các “chuyển luân thánh vương” trị vì thiên hạ bằng chánh
pháp nhưng do năng lực của phúc nghiệp thù thắng hơn là do
sự hiệu dụng của một chính sách tự nhiên an dân mà không
dùng tới tư pháp. Chữ
yatonidānam - cội nguồn của đau khổ - ở đây chỉ cho năm dục
trưởng dưỡng.
Theo Sớ giải thì chữ upadhi - sở y hay sanh y ở đây chỉ cho
kāmagunạ -upadhi (dục sanh y); còn chữ saṅgo – dính mắc,
cột trói - chỉ cho mũi tên (salla)
Dịch giả: Hoà Thượng Thích Minh Châu
-ooOoo- |