|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Hai, 21 tháng 03, 2022
MÔN HỌC PHẬT PHÁP CƠ BẢN
PHẦN I-ĐỨC PHẬT
Bài 24. Hoàn Tất Đại Nguyện Hoằng Hoá
Đức Phật là
vị chánh đẳng chánh giác. Giống như tất cả đấng toàn giác
trong quá khứ, vị lai, Ngài có một đời sống viên mãn. Ra đời
là một hoàng tử cao sang; xuất gia trong thời trẻ tuổi sức
sống tràn đầy; viên tịch ở tuổi niên cao lạp trưởng. Ngài
kết thúc cuộc đời hoằng pháp độ sinh năm 80 tuổi trong phong
thái của một bậc vô thượng giải thoảt.
Lựa Chọn Thời Điểm và Địa Điểm Viên Tịch
Tại Vesāli
kinh đô của giòng tậc Licchavi Đức Thế Tôn đã công bố thời
điểm viên tịch trong ba tháng nữa.
Từ ngày đón Ngài “từ
bỏ thọ hành” để cuộc sống kết thúc theo tự nhiên . Cùng với
sự công bố nầy, Đấng Thiện Thệ cũng khẳng định “ngôi nhà
giáo pháp, dhamma vinaya – pháp và luật – đã được giảng dạy
đầy đủ; có những tỳ kheo, tỳ kheo ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ đã
có khả năng lãnh hội, thực hành, truyền bá”.
Đức Phật
cũng quyết định địa điểm viên tịch là Kusinara, kinh đô của
xứ Malla, một vương quốc nhỏ dưới chân rặng Hi Mã Lạp Sơn.
Tôn giả Ananda bạch hỏi Đức Phật tại sao không viên tịch ở
những kinh đô phồn thịnh của các quốc độ lớn nơi có những
đàn tín vua chúa và đông đảo để tử xuất gia cũng như cư sĩ?
Đức Phật dạy nhiều lý do nhưng Ngài đã đề cập rõ một điểm là
sự thạnh suy, hưng phế chỉ là một giai đoạn của dòng chảy vô
thường. Kusinara, theo lời Phật dạy, từng là kinh đô hoa lệ
của một chuyển luân đại đế.
Hình 100
Cũng có
những lý do khác trong sự lựa chọn địa điểm viên tịch mà
trong đó có nguyên nhân sâu xa là khả năng thoả hiệp để phân
chia xá lợi Phật trong hoà bình.
Bấy giờ cả mười sáu quốc độ vùng trung thổ đểu quy người Tam
Bảo. Họ đều cương quyết có được xá lợi của Đức Phật dù phải
động binh can qua. Ban đầu vua xứ Malla cương quyết bảo vệ
để tới cùng để giữ trọn xá lợi. Sau nầy nhờ sự vận động của
bà la môn Doṇa về tinh thần từ bi của Đức Phật và giáo pháp
nên các phe phía đồng quyết định phân chia xá lợi và tránh
được nạn đao binh.
Di Huấn
Ngày cuối
cùng của Đức Phật Ngài thọ trai ở nhà người thợ rèn tên
Cunda và đi bộ hành trình 15 kilometre cùng với đại chúng tỳ
kheo đến ngự viên
của vua xứ Mallā.
Nằm trên phiến đá giữa hai cây sālā, Đức Phật với tâm từ bi
vô lượng đã nhắc lên vài việc “tương đối nhỏ nhưng đầy ý
nghĩa” như phước báu cao quý của người cúng dường bữa cơm
cuối cùng (thí chủ Cunda); cách xưng hô thích hợp giữa chư
tỳ kheo; Tăng chúng cần làm gì đối với tỳ kheo Channa (Xa
Nặc).
Trong những
giờ phút sau Đức Thế Tôn cũng vẫn làm một số việc trong vai
trò của một bậc chân sư.
Ngài đã cho xuất gia người đệ tử cuối cùng tên Subhadda
xuất gia khi người nầy tha thiết đến gặp để hỏi những ai là
bậc giác giả. Đức Thế Tôn cũng dạy việc thờ phượng xá lợi
nên để cho người cư sĩ còn các vị xuất gia hãy chuyên tâm tu
tập. Ngài cũng tạo cơ hội cho Tăng chúng nêu nên những câu
hỏi nếu có về giáo pháp.
Hình 101
Những di
huấn tối hậu của Đức Phật vẫn là khuyến khích những đệ tử
toàn tâm hành trình trên đường giác ngộ giải thoát.
Ngài dạy rằng: hoa sālā nởi sái mùa cúng Phật, nhưng những
ai hành trì giáo pháp là cúng dường Như Lai bằng cách cao
quý nhất. Đức Phật cũng nói rõ: Sau khi Như Lai viên tịch
Pháp và Luật sẽ là thầy của các con. Lời sau cùng của Đức Từ
Phụ: - Này các Tỷ-kheo, nay Ta khuyên dạy các ngươi: "Các
pháp hữu vi là vô thường, hãy tinh tấn, chớ có xao lãng".
Di Sản
Mặc dù nhị vị thượng thủ thinh văn viên tịch trước Đức Thế
Tôn 6 tháng nhưng vẫn còn có những “thạch trụ tòng lâm” để
gìn giữ giềng mối chánh pháp sau khi Đức Thế Tôn viên tịch.
Đức Phật không tuyển
cử một trưởng lão nào để lãnh đạo Tăng chúng. Thay vào đó là
chư tỳ kheo tôn kính nhau theo hạ lạp và đức độ. Nếu có gì
cần giải quyết thì y cứ vào Kinh Luật. Một số những bậc tôn
túc cả hai chúng tỳ kheo, tỳ kheo ni vẫn còn. Chính những vị
nầy đóng vai trò rất quan trọng để truyền thừa giáo pháp Đức
Phật và những thế hệ tiếp nối sau nầy.
Hình 103
Ba tháng sau khi Bậc Đạo Sư viên tịch một đại hội “Kết tập
Tam Tạng” được tổ chức tại Rājagaha, Magadha với sự chủ toạ
của Tôn giả Māhakassapa và sự tuyên đọc pháp ngữ của nhị vị
tôn giả Ananda và Upāli. Lời dạy của Đức Phật cùng với một số của các
đệ tử Phật được sắp xêp có hệ thống với sự phân loại chuẩn
mực cho dễ dàng học và ghi nhớ theo cách truyền khẩu. Sau
lần kết tập nầy có năm lần trùng tuyên cho đến nay. Trong kỳ
kết tập nầy tiếng Magadha được lựa chọn làm “ngôn ngữ chép
kinh” nên là Pāli. Thời gian đầu, kinh điển được chia thành
hai phần Pháp (Dhamma) và Luật (Vinaya). Sau nầy Pháp được
chia thành hai là Kinh (sutta) và Thắng Pháp (Abhidhamma)
tạo nên Tam Tạng Giáo Điển được lưu truyền cho tới nay.
Hình 108
Hơn hai trăm năm sau sự viên tịch của Đức Phật, một đại đế
tên Asoka của triều đại Mauriyan (Khổng Tước) đã có những
đóng góp to lớn để duy trì và
truyền bá Phật Pháp.
Vua Asoka đã bảo trợ Đại hội Trùng tuyên Tam
Tạng tại Patna và chấn chính nội bộ Tăng chúng. Nhà vua cũng thỉnh cử những pháp
đoàn hoằng pháp đi sang các quốc gia khác để truyền báo Phật
Pháp. Nhiều tháp thờ Xá lợi Phật được tôn tạo khắp nơi để
thờ phượng. Đặc biệt là vua Asoka đã tạo nên những “pháp dụ”
như hiến pháp y cứ trên Phật Pháp. Những pháp dụ nầy được
khắc trên bia đá khắp nơi trong lãnh thổ rộng lớn mang cả
hai hiệu lực pháp quyền và giáo quyền. (Còn tiếp) Biên soạn giáo trình: Tỳ kheo Giác Đẳng |