|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Tư, ngày 23 tháng 03, 2022 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYACHƯƠNG IV. TƯƠNG ƯNG ÁC MA, PHẨM THỨ BA (S.i,117)
Bài
1. Kinh Số Nhiều (Sambahulasuttaṃ)-HIỆN THỰC VÀ XA VỜI.
Đây là câu
chuyện chư tỳ kheo gặp Ma mà không biết. Tuy vậy nhờ sự hiểu
biết và lòng tin kiên cố ở Phật nên không bị Ma chi phối.
Điều mà Ác ma nói vốn rất thấu tình đạt lý theo quan niệm
người đời: trẻ sống thụ hưởng, già thì lo tu. Nhưng Phật
Pháp cho một cái nhìn khác: hưởng thụ dục lạc vui ít, khổ
nhiều, nguy hiểm nhiều hơn và sự thật nầy không nằm khung
thời gian già hay trẻ. Thật ra không phải dễ để nhận thức
được cái gì thiết thực cho cuộc sống giữa trăm muôn ngàn thứ
phải làm trong cuộc sống. Người có trí lãnh hội lời Phật dạy
tìm được giá trị đích thực ngay trong hiện tại.
Evaṃ me sutaṃ –
Tôi được nghe như vầy
ekaṃ samayaṃ bhagavā sakkesu viharati silāvatiyaṃ.
Thuở ấy Đức Thế
Tôn trú giữa những người Sakya tại Silāvatī.
Tena kho pana samayena sambahulā bhikkhū bhagavato avidūre
appamattā ātāpino pahitattā viharanti.
Bấy giờ gần Đức Thế Tôn có nhiều tỷ khưu sống nhiệt tâm,
tinh cần, không xao lãng.
Atha kho māro pāpimā brāhmaṇavaṇṇaṃ abhinimminitvā mahantena
jaṭaṇḍuvena ajinakkhipanivattho jiṇṇo gopānasivaṅko
ghurughurupassāsī udumbaradaṇḍaṃ gahetvā yena te bhikkhū
tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā te bhikkhū etadavoca –
Rồi Ác ma biến thành một ông lão bà la môn có búi tóc lớn,
mặc áo bằng da linh dương, thân hình gầy cong như rui mè nhà
cũ, hơi thở phều phào, tay cầm gậy udumbara. Ác ma đi tới
các tỳ khưu và nói rằng:
‘‘daharā bhavanto pabbajitā susū kāḷakesā bhadrena yobbanena
samannāgatā paṭhamena vayasā anikkīḷitāvino kāmesu.
Bhuñjantu bhavanto mānusake kāme. Mā sandiṭṭhikaṃ hitvā
kālikaṃ anudhāvitthā’’ti.
Chư Tôn giả xuất gia thời
niên thiếu, tóc còn đen, thanh xuân tràn đầy, trong thời
sung mãn của cuộc đời lại không hưởng thụ dục lạc. Hãy vui
hưởng hạnh phúc kiếp người, chớ bỏ rơi cái trước mắt để mưu
cầu những gì xa xôi.
‘‘Na kho mayaṃ, brāhmaṇa, sandiṭṭhikaṃ hitvā kālikaṃ anudhāvāma.
Kālikañca kho mayaṃ, brāhmaṇa, hitvā sandiṭṭhikaṃ
anudhāvāma. Kālikā hi, brāhmaṇa, kāmā vuttā bhagavatā
bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo. Sandiṭṭhiko
ayaṃ dhammo akāliko ehipassiko opaneyyiko paccattaṃ
veditabbo viññūhī’’ti.
-- Này Bà-la-môn, chúng tôi không bỏ rơi cái trước mắt để
mưu cầu những gì xa xôi. Chúng tôi từ bỏ truy cầu cái xa xôi
mà tập trung vào cái trước mắt. Đức Thế Tôn dạy rằng các dục
tiêu ngốn thời gian, đầy dẫy đau khổ, nhiều hệ luỵ, hiểm hoạ
càng nhiều hơn. Chánh pháp nầy thiết thực hiện tại, vượt
ngoài thời gian, đến để chứng nghiệm, có khả năng hướng
thượng, người trí tự mình tỏ ngộ.
Evaṃ vutte, māro pāpimā sīsaṃ okampetvā jivhaṃ nillāletvā
tivisākhaṃ nalāṭe nalāṭikaṃ vuṭṭhāpetvā daṇḍamolubbha
pakkāmi.
Khi nghe nói vậy Ác ma lắc đầu, le
lưỡi, trán hiện ba nếp nhăn, chống gậy bỏ đi.
Atha kho te bhikkhū yena bhagavā tenupasaṅkamiṃsu;
upasaṅkamitvā bhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ nisīdiṃsu.
Ekamantaṃ nisinnā kho te bhikkhū bhagavantaṃ etadavocuṃ –
Rồi các Tỷ-kheo
ấy đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn, ngồi xuống
một bên. Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
‘‘idha mayaṃ, bhante, bhagavato avidūre appamattā ātāpino
pahitattā viharāma. Atha kho, bhante, aññataro brāhmaṇo
mahantena jaṭaṇḍuvena ajinakkhipanivattho jiṇṇo
gopānasivaṅko ghurughurupassāsī udumbaradaṇḍaṃ gahetvā yena
mayaṃ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā amhe etadavoca –
‘daharā bhavanto pabbajitā susū kāḷakesā bhadrena yobbanena
samannāgatā paṭhamena vayasā anikkīḷitāvino kāmesu.
Bhuñjantu bhavanto mānusake kāme. Mā sandiṭṭhikaṃ hitvā
kālikaṃ anudhāvitthā’ti.
Evaṃ vutte, mayaṃ, bhante, taṃ brāhmaṇaṃ etadavocumha –
‘na kho mayaṃ, brāhmaṇa, sandiṭṭhikaṃ hitvā kālikaṃ
anudhāvāma. Kālikañca kho mayaṃ, brāhmaṇa, hitvā
sandiṭṭhikaṃ anudhāvāma. Kālikā hi, brāhmaṇa, kāmā vuttā
bhagavatā bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo.
Sandiṭṭhiko ayaṃ dhammo akāliko ehipassiko opaneyyiko
paccattaṃ veditabbo viññūhī’ti.
Evaṃ vutte, bhante, so brāhmaṇo sīsaṃ okampetvā jivhaṃ
nillāletvā tivisākhaṃ nalāṭe nalāṭikaṃ vuṭṭhāpetvā
daṇḍamolubbha pakkanto’’ti.
Bạch Thế Tôn, chúng con sống
gần Đức Thế Tôn với sống nhiệt tâm, tinh cần, không
xao lãng.
Có một ông lão bà la môn có búi tóc lớn, mặc áo bằng da linh
dương, thân hình gầy cong như rui mè nhà cũ, hơi thở phều
phào, tay cầm gậy udumbara đi tới chúng con và nói rằng:
-
Chư Tôn giả xuất gia thời
niên thiếu, tóc còn đen, thanh xuân tràn đầy, trong thời
sung mãn của cuộc đời lại không hưởng thụ dục lạc. Hãy vui
hưởng hạnh phúc kiếp người, chớ bỏ rơi cái trước mắt để mưu
cầu những gì xa xôi.
-
Này Bà-la-môn, chúng
tôi không bỏ rơi cái trước mắt để mưu cầu những gì xa xôi.
Chúng tôi không màng đến cái xa xôi mà tập trung vào cái
trước mắt. Đức Thế Tôn dạy rằng các dục tiêu ngốn thời gian,
đầy dẫy đau khổ, nhiều hệ luỵ, hiểm hoạ càng nhiều hơn.
Chánh pháp nầy thiết thực hiện tại, vượt ngoài thời gian,
đến để chứng nghiệm, có khả năng hướng thượng, người trí tự
mình tỏ ngộ.
Khi nghe nói vậy ông lão bà la môn lắc đầu, le lưỡi, trán
hiện ba nếp nhăn, chống gậy bỏ đi.
‘‘Neso, bhikkhave, brāhmaṇo. Māro eso pāpimā tumhākaṃ
vicakkhukammāya āgato’’ti.
-- Này các Tỳ khưu, người ấy không phải là Bà-la-môn, chính
là Ác ma đi đến để làm mờ mắt các thầy.
Atha kho bhagavā etamatthaṃ viditvā tāyaṃ velāyaṃ imaṃ gāthaṃ
abhāsi –
Rồi ngay khi ấy
Thế Tôn nghĩ đến ý nghĩa nầy nói lên kệ ngôn:
‘‘Yo dukkhamaddakkhi yatonidānaṃ,
Ai thấy cội
nguồn khổ
‘‘Yo dukkhamaddakkhi yatonidānaṃ = Khi một người thấy được đau khổ đến từ đâu
Gậy
bằng gỗ udumbara được các vị bà la môn sử dụng trong các
buổi tế lễ. Loại gậy gỗ nầy là biểu tượng của đời sống tu
hành thiểu dục (appicchabhāva). Cụm
từ “lắc
đầu, le lưỡi, trán hiện ba nếp nhăn, chống gậy bỏ đi”
được tìm thấy trong nhiều bài kinh chỉ cho tâm thái chản nản
bỏ cuộc.
Trong bài kinh nầy Ác ma có lời khuyên dựa trên quan niệm
rất phổ biến trong đạo Bà la môn là thời trẻ lập gia đình
hưởng thụ dục lạc, rồi khi tới tuổi lão niên tập trung cho
đời sống tinh thần.
Dịch giả: Hoà Thượng Thích Minh Châu
-ooOoo- |