|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Bảy, ngày 26 tháng 03, 2022 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYACHƯƠNG IV. TƯƠNG ƯNG ÁC MA, PHẨM THỨ BA (S.i,119)
Bài
2. Kinh Samiddhi (Samiddhisuttaṃ)-TRỰC DIỆN VỚI MA.
Có bức tường vô hình giữa cái biết và cái không biết.
Điều nầy trùng hợp cả đối với thiên tử ma cũng như phiền não
ma. Khi Ác ma bị nhận diện thì tự biến mất. Phiền não ma
cũng vậy. Tâm lý học Tây Phương có phương cách trị liệu đối
với những sợ hãi do ám ảnh (phobia) bằng cách đối diện trực
tiếp với những gì tạo nên sợ hãi như chuột, gián hay cao độ
..v.v.. Trong trường hợp nầy Ác ma dùng tiếng động đáng sợ
để chi phối tâm của Tôn giả Samiddhi. Đức Phật dạy nên trở
về chỗ cũ và trực diện với ma cả ngoại tại cũng như nội tại.
Cuối cùng tuệ giác bừng khai.
Ekaṃ samayaṃ bhagavā
sakkesu viharati silāvatiyaṃ.
Thuở ấy Đức Thế Tôn trú giữa những người Sakya tại Silāvatī.
Tena kho pana samayena āyasmā samiddhi bhagavato avidūre
appamatto ātāpī pahitatto viharati.
Bấy giờ gần Đức Thế Tôn có tôn giả
Samiddhi sống nhiệt tâm, tinh cần, không xao lãng.
Atha kho āyasmato samiddhissa rahogatassa paṭisallīnassa
evaṃ cetaso parivitakko udapādi – ‘‘lābhā vata me, suladdhaṃ
vata me, yassa me satthā arahaṃ sammāsambuddho. Lābhā vata
me, suladdhaṃ vata me, yvāhaṃ evaṃ svākkhāte dhammavinaye
pabbajito. Lābhā vata me, suladdhaṃ vata me, yassa me
sabrahmacārino sīlavanto kalyāṇadhammā’’ti.
Rồi Tôn giả Samiddhi trong lúc độc cư tịnh mặc khởi lên
ý nghĩ: “Quả thật lợi ích cho ta; quả
thật lợi ích thù diệu cho ta khi đạo sư của ta là bậc
Ứng cúng, Chánh đẳng chánh giác; quả
thật lợi ích cho ta; quả thật lợi ích thù diệu cho ta khi ta
được xuất gia trong pháp và luật khéo giảng dạy; quả
thật lợi ích cho ta; quả thật lợi ích thù diệu cho ta khi
các bạn đồng phạm tu là những bậc giới hạnh và hiền thiện”
Atha kho māro pāpimā āyasmato samiddhissa cetasā
cetoparivitakkamaññāya yenāyasmā samiddhi tenupasaṅkami;
upasaṅkamitvā āyasmato samiddhissa avidūre mahantaṃ
bhayabheravaṃ saddamakāsi, apissudaṃ pathavī maññe
undrīyati.
Bấy giờ Ác ma với tâm của mình biết được suy nghĩ của
Tôn giả Samiddhi liền đi tới Tôn giả Samiddhi và tạo nên một
âm thanh khủng khiếp như địa chấn cực mạnh.
Atha kho āyasmā samiddhi yena bhagavā tenupasaṅkami;
upasaṅkamitvā bhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ nisīdi.
Ekamantaṃ nisinno āyasmā samiddhi bhagavantaṃ etadavoca –
Rồi Tôn giả Samiddhi đi đến Đức Thế Tôn, sau khi đảnh lễ
bạch rằng:
‘‘idhāhaṃ, bhante, bhagavato avidūre appamatto ātāpī
pahitatto viharāmi. Tassa mayhaṃ, bhante, rahogatassa
paṭisallīnassa evaṃ cetaso parivitakko udapādi – ‘lābhā vata
me, suladdhaṃ vata me, yassa me satthā arahaṃ
sammāsambuddho. Lābhā vata me, suladdhaṃ vata me, yvāhaṃ
evaṃ svākkhāte dhammavinaye pabbajito. Lābhā vata me,
suladdhaṃ vata me, yassa me sabrahmacārino sīlavanto
kalyāṇadhammā’ti. Tassa mayhaṃ, bhante, avidūre
mahābhayabheravasaddo ahosi, apissudaṃ pathavī maññe
undrīyatī’’ti.
Bạch Thế Tôn,
con sống gần Đức Thế Tôn với
nhiệt tâm, tinh cần, không xao lãng.
Rồi trong lúc độc cư tịnh mặc khởi lên ý nghĩ: “Quả
thật lợi ích cho ta; quả thật lợi ích thù diệu cho ta khi
đạo sư của ta là bậc Ứng cúng, Chánh đẳng chánh giác; quả
thật lợi ích cho ta; quả thật lợi ích thù diệu cho ta khi ta
được xuất gia trong pháp và luật khéo giảng dạy; quả thật
lợi ích cho ta; quả thật lợi ích thù diệu cho ta khi các bạn
đồng phạm tu là những bậc giới hạnh và hiền thiện”. Khi ấy
có một âm thanh khủng khiếp như địa chấn cực mạnh.
‘‘Nesā, samiddhi, pathavī undrīyati. Māro eso pāpimā
tuyhaṃ vicakkhukammāya āgato. Gaccha tvaṃ, samiddhi,
tattheva appamatto ātāpī pahitatto viharāhī’’ti.
--
Này Samiddhi, không phải
là địa chấn. Ðó là Ác ma đã đến để làm
mờ loạn thầy. Này Samiddhi,
Thầy hãy
trở lại chỗ ấy và sống
nhiệt tâm, tinh cần, không xao lãng.
‘‘Evaṃ, bhante’’ti kho āyasmā samiddhi
bhagavato paṭissutvā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṃ abhivādetvā
padakkhiṇaṃ katvā pakkāmi.
-- Thưa vâng, bạch Thế
Tôn.
Tôn giả Samiddhi vâng đáp
Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy đảnh lễ Thế Tôn, thân bên phải hướng về Ngài, rồi ra
đi.
Dutiyampi kho āyasmā samiddhi tattheva appamatto ātāpī
pahitatto vihāsi. Dutiyampi kho āyasmato samiddhissa
rahogatassa paṭisallīnassa...pe... dutiyampi kho māro pāpimā
āyasmato samiddhissa cetasā cetoparivitakkamaññāya...pe...
apissudaṃ pathavī maññe undrīyati.
Lần thứ hai tôn giả Samiddhi sống nhiệt tâm, tinh cần,
không xao lãng. Lần thứ hai Tôn
giả Samiddhi trong lúc độc cư tịnh mặc khởi lên ý nghĩ: “Quả
thật lợi ích cho ta; quả thật lợi ích thù diệu cho ta khi
đạo sư của ta là bậc Ứng cúng, Chánh đẳng chánh giác …. Lần
thứ hai Ác ma với tâm của mình biết được suy nghĩ của Tôn
giả Samiddhi liền đi tới Tôn giả Samiddhi và tạo nên một âm
thanh khủng khiếp như địa chấn cực mạnh.
Atha kho āyasmā samiddhi māraṃ pāpimantaṃ gāthāya
ajjhabhāsi –
Rồi Tôn giả Samiddhi, sau khi biết: "Ðây là Ác ma" liền
nói Ác ma kệ
ngôn:
‘‘Saddhāyāhaṃ pabbajito, agārasmā anagāriyaṃ;
Xuất gia với niềm tin
Atha kho māro pāpimā ‘‘jānāti maṃ samiddhi bhikkhū’’ti
dukkhī dummano tatthevantaradhāyīti.
Rồi Ác ma biết được: "Tỷ-kheo Samiddhi biết ta",
nên buồn và thất vọng
liền biến mất tại chỗ ấy.
‘‘Saddhāyāhaṃ pabbajito = Ta xuất gia với niềm tin
Chữ buddhā
trong kệ ngôn của Tôn giả Samiddhi được tìm thấy trong
Trưởng Lão Tăng Kệ là cách viết khác của chữ vudḍḥā nghĩa
là thuần thục. Trong bản Sớ giải thì nói rằng chữ buddhā ở
đây chỉ cho
ñātā, mà Hậu Sớ Giải định nghĩa từ nầy là sự tỏ ngộ bởi
thánh đạo với năng lực của tuệ giác (Tā
ariyamaggena jānanasamatthanabhāvena avabuddhā).
Cũng theo Sớ giải, không lâu sau sự kiện nầy Tôn giả
Samiddhi chứng quả A la hán.
Dịch giả: Hoà Thượng Thích Minh Châu
-ooOoo- |