|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Ba, ngày 29 tháng 03, 2022 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYACHƯƠNG IV. TƯƠNG ƯNG ÁC MA, PHẨM THỨ BA (S.i,120)
Bài
3. Kinh Godhika (Godhikasuttaṃ)-MỘT KIẾP NGƯỜI, HAI SỰ KẾT LIỄU.
Bài kinh nầy đầy
kịch tính và mang nhiều ý nghĩa tế nhị. Tôn giả Godhika đạt
thiền chứng nhưng thối thất nhiều lần do thân bệnh. Cuối
cùng vị nầy chọn cách quyên sinh khi tâm thiền chưa mất.
Ngay giây phút mệnh chung tuệ quán sanh khởi chứng thánh quả
vô sinh. Ác ma, với bản chất cố hữu, muốn Tôn giả Godhika
tiếp tục sống, sống trong cương toả của Ma nên muốn dùng sự
can thiệp của Đức Phật. Đức Phật không bao giờ khuyến khích
sự tự sát như một phương cách để chấm dứt sanh tử nhưng Ngài
ghi nhận có những trường hợp hiếm hoi một người vừa kết liễu
mạng sống đồng thời đoạn tận kiết sử, viên tịch niết bàn.
Cái chết trong dòng trầm luân sanh tử và sự viên tịch niết
bàn không dễ dàng cho phàm phu phân biệt. Ác ma không bao
giờ tìm được hướng đi của bậc vô tích.
Evaṃ me sutaṃ
Tôi được nghe như vầy
ekaṃ samayaṃ bhagavā rājagahe viharati veḷuvane
kalandakanivāpe.
Thuở ấy Đức Thế
Tôn trú ở Rājagaha, tại Trúc Lâm, chỗ Kalandakanivāpa (nơi
cho sóc ăn).
Tena kho pana samayena āyasmā godhiko isigilipasse viharati
kāḷasilāyaṃ.
Lúc bấy giờ, Tôn giả Godhika trú
tại
triền núi Isigili,
Hắc Thạch.
Atha kho āyasmā godhiko appamatto ātāpī pahitatto viharanto
sāmayikaṃ cetovimuttiṃ phusi. Atha kho āyasmā godhiko tamhā
sāmayikāya cetovimuttiyā parihāyi.
Rồi Tôn giả Godhika sống
nhiệt tâm, tinh cần,
không xao lãng
chứng được
tâm
thái
giải thoát
nhất thời
(nhưng vì thân bệnh nên)
Tôn giả Godhika lại thối thất tâm thái giải thoát nhất thời ấy.
Dutiyampi kho āyasmā godhiko appamatto ātāpī pahitatto
viharanto sāmayikaṃ cetovimuttiṃ phusi. Dutiyampi kho āyasmā
godhiko tamhā sāmayikāya cetovimuttiyā parihāyi.
Lần thứ hai, Rồi Tôn giả Godhika sống
nhiệt tâm, tinh cần,
không xao lãng
chứng được tâm
thái
giải thoát nhất thời.
Lằn thứ hai
Tôn giả Godhika lại thối thất tâm
thái giải thoát
nhất thời ấy.
Tatiyampi kho āyasmā godhiko appamatto ātāpī pahitatto
viharanto sāmayikaṃ cetovimuttiṃ phusi. Tatiyampi kho āyasmā
godhiko tamhā...pe... parihāyi.
Lần thứ ba, Tôn giả Godhika
…thối thất tâm thái giải thoát nhất thời ấy.
Catutthampi kho āyasmā godhiko appamatto...pe... vimuttiṃ
phusi. Catutthampi kho āyasmā godhiko tamhā...pe...
parihāyi.
Lần thứ tư, Tôn giả Godhika
…thối thất tâm thái giải thoát nhất thời ấy.
Pañcamampi kho āyasmā godhiko...pe... cetovimuttiṃ phusi.
Pañcamampi kho āyasmā...pe... vimuttiyā parihāyi.
Lần thứ năm, Tôn giả Godhika
…thối thất tâm thái giải thoát nhất thời ấy.
Chaṭṭhampi kho āyasmā godhiko appamatto ātāpī pahitatto
viharanto sāmayikaṃ cetovimuttiṃ phusi. Chaṭṭhampi kho
āyasmā godhiko tamhā sāmayikāya cetovimuttiyā parihāyi.
Lần thứ sáu, Tôn giả Godhika
…thối thất tâm thái giải thoát nhất thời ấy.
Sattamampi kho āyasmā godhiko appamatto ātāpī pahitatto
viharanto sāmayikaṃ cetovimuttiṃ phusi. Atha kho āyasmato
godhikassa etadahosi – ‘‘yāva chaṭṭhaṃ khvāhaṃ sāmayikāya
cetovimuttiyā parihīno. Yaṃnūnāhaṃ satthaṃ āhareyya’’nti.
Lần thứ
bảy, Rồi Tôn giả Godhika sống
nhiệt tâm,
tinh cần,
không xao lãng
chứng được
tâm
thái
giải thoát
nhất thời.
Bấy giờ Tôn giả
Godhika suy nghĩ: "Cho đến lần thứ sáu, ta bị thối thất nhất
thời tâm giải thoát. Vậy nay ta hãy
dùng dao cạo (tự sát)".
Atha kho māro pāpimā āyasmato godhikassa cetasā
cetoparivitakkamaññāya yena bhagavā tenupasaṅkami;
upasaṅkamitvā bhagavantaṃ gāthāhi ajjhabhāsi –
Rồi Ác ma với tâm mình biết được
suy nghĩ của Tôn giả Godhika, liền đi đến Thế Tôn
nói với Ngài bằng kệ ngôn:
‘‘Mahāvīra mahāpañña, iddhiyā yasasā jala;
Bậc Đại Hùng,
Đại Trí
‘‘Kathañhi bhagavā tuyhaṃ, sāvako sāsane rato;
Sao thế, bạch Thế Tôn,
Tena kho pana samayena āyasmato godhikena satthaṃ āharitaṃ hoti.
Ngay lúc ấy Tôn
giả Godhika đã dùng dao cạo tự sát.
Atha kho bhagavā ‘‘māro ayaṃ pāpimā’’ iti viditvā māraṃ
pāpimantaṃ gāthāya ajjhabhāsi –
Rồi Thế Tôn biết: "Ðây là Ác ma", liền nói lên
kệ ngôn:
‘‘Evañhi dhīrā kubbanti, nāvakaṅkhanti jīvitaṃ;
Tịnh giả làm như vậy
Atha kho bhagavā bhikkhū āmantesi –
Rồi Thế Tôn gọi
chư tỳ
khưu:
‘‘āyāma, bhikkhave, yena isigilipassaṃ kāḷasilā
tenupasaṅkamissāma yattha godhikena kulaputtena satthaṃ
āharita’’nti.
-- Này các Tỳ khưu, chúng ta hãy đi đến
triền núi Isigili,
Hắc Thạch, tại chỗ
thiện nam tử Godhika đã tự sát bằng dao cạo.
‘‘Evaṃ, bhante’’ti kho te bhikkhū bhagavato paccassosuṃ.
Chư tỳ khưu trả lời: Thưa vâng, bạch Thế Tôn
Atha kho bhagavā sambahulehi bhikkhūhi saddhiṃ yena
isigilipassaṃ kāḷasilā tenupasaṅkami. Addasā kho bhagavā
āyasmantaṃ godhikaṃ dūratova mañcake vivattakkhandhaṃ
semānaṃ.
Tena kho pana samayena dhūmāyitattaṃ timirāyitattaṃ
gacchateva purimaṃ disaṃ, gacchati pacchimaṃ disaṃ, gacchati
uttaraṃ disaṃ, gacchati dakkhiṇaṃ disaṃ, gacchati uddhaṃ,
gacchati adho, gacchati anudisaṃ.
Đức Thế Tôn cùng đại chúng
tỳ khưu đi đến
triền núi Isigili,
Hắc Thạch. Từ xa
Đức Thế Tôn trong thấy Tôn giả Godhika nằm trên giường với
vai xoay nghiêng.
Lúc
ấy một làn khói đen
lượn
quanh đi về phía đông; đi về phía
tây; đi về phía
bắc; đi về phía
nam, đi về phía
trên, đi về phía
dưới.
Atha kho bhagavā bhikkhū āmantesi –
Đức Thế Tôn
nói với chư tỳ
khưu:
‘‘passatha no tumhe, bhikkhave, etaṃ dhūmāyitattaṃ
timirāyitattaṃ gacchateva purimaṃ disaṃ, gacchati pacchimaṃ
disaṃ, gacchati uttaraṃ disaṃ, gacchati dakkhiṇaṃ disaṃ,
gacchati uddhaṃ, gacchati adho, gacchati anudisa’’nti?
Này chư tỳ khưu, có thấy
một làn khói đen
lượn quanh đi về phía đông; đi về phía
tây; đi về phía
bắc; đi về phía
nam, đi về phía
trên, đi về phía
dưới.
‘‘Evaṃ, bhante’’.
Bạch Ngài, quả
như vậy.
‘‘Eso kho, bhikkhave, māro pāpimā godhikassa kulaputtassa
viññāṇaṃ samanvesati – ‘kattha godhikassa kulaputtassa
viññāṇaṃ patiṭṭhita’nti? Appatiṭṭhitena ca, bhikkhave,
viññāṇena godhiko kulaputto parinibbuto’’ti.
Này chư tỳ khưu,
đó chính là Ác ma đang truy tìm thần thức của thiện nam tử
Godhika: “Thần thức của thiện nam tử đang trụ ở đâu?”. Hỡi
chư tỳ khưu, thiện nam tử Godhika đã viên tịch với thức vô
sở trụ.
Atha kho māro pāpimā beluvapaṇḍuvīṇaṃ ādāya yena bhagavā
tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṃ gāthāya ajjhabhāsi
–
Rồi Ác ma tay ôm thất huyền cầm màu vàng đi đến Thế Tôn
nói lên kệ ngôn:
‘‘Uddhaṃ adho ca tiriyaṃ, disā anudisā svahaṃ;
Trên, dưới và chiều ngang,
‘‘Yo [so (sī. pī.)] dhīro dhitisampanno, jhāyī jhānarato
sadā;
(Thế Tôn):
Bậc Tịnh giả tịnh lặng
‘‘Tassa sokaparetassa, vīṇā kacchā abhassatha;
Tato so dummano yakkho, tatthevantaradhāyathā’’ti
[tatthevantaradhāyithāti (syā. kaṃ.), tattheva antaradhāyīti
(ka.)].
Với vô vàn sầu
muộn, huyền cầm rơi khỏi nách, Dạ Xoa thất vọng lập tức biến
mắt tại ấy.
‘‘Mahāvīra mahāpañña = Thưa bậc Đại Hùng, Đại Trí Cụm từ sāmayikā cetovimutti – tâm thái giải thoát nhất thời
- chỉ cho thiền chứng hiệp thế (lokiya-samāpatti) là trạng
thái thiền chỉ tịnh. Tôn giả Gidhika chứng thiền nhưng do
thân bệnh nên không an trú lâu được trong thiền. Kinh điển
ghi nhận một số trường hợp sự tu tập của tâm bị chi phối bởi
điều kiện của thân (…) Cụm từ sattham āhareyyam – đem lại con dao – là thành ngữ chỉ
cho sự quyên sinh. Theo Sớ giải thì Tôn giả Godhika sau
nhiều lần trồi sụt trong thiền chứng đã quyết định tự sát
khi tâm thiền chưa thối thất. Theo Sớ giải thì Ác ma nghĩ rằng:Vị nầy chẳng màng sự sống và
thân xác nên có thể chứng quả A la hán vậy dùng sự can thiệp
của Bậc Đạo Sư để ngăn cản. Cụm từ jane sutā ti jane vissuta – vang danh thiên hạ - được
Ác ma dùng theo cách đãi bôi để ca ngợi Phật cũng như nhiều
mỹ từ xưng tán khác trong bài kinh. Ác ma thường gọi Phật là
Sa môn. Sớ giải dùng thuật ngữ jīvitasamasīsī chỉ cho sự kết liễu song
song của kiếp sống và phiền não (Ngài Tịnh Sự dịch là đắc
đạo tột mạng). Nói cách khác là có ít vị chấm dứt sanh tử
đồng thời với mạng sống. Sớ giải cũng giải thích sự trạng Vivattakkhandhan ti
parivattakkhandham chỉ cho di thể của Tôn giả Godhika trong
tư thế phần dưới nằm ngữa, phần trên nằm nghiêng. Nằm giữa
khi tự sát và nằm nghiêng là cách nằm chánh niệm thường
ngày. Sớ giải ghi rõ viññāna - ở đây dịch là thần thức - chỉ cho
thức tái sanh (patiṣandhicitta). Thuật ngữ Appatittḥena - ở đây dịch là vô sở trụ - chỉ cho sự
không sanh khởi của thức tái sanh một cách nói chỉ cho sự
tịch tịnh niết bàn. Không nên hiểu là có một thứ tâm thức vô
sở trụ. Thuật ngữ yakkha - thường phiên âm là Dạ xoa - chỉ cho loài
hoá sanh có uy lực kể cả thiên chủ Đế Thích và Ác ma.
Dịch giả: Hoà Thượng Thích Minh Châu
-ooOoo- |