|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Tư, ngày 30 tháng 03, 2022 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYACHƯƠNG IV. TƯƠNG ƯNG ÁC MA, PHẨM THỨ BA (S.i,122)
Bài
4. Kinh Bảy Năm Theo Dõi (Sattavassānubandhasuttaṃ)
-MA TÌM LỖI Ở PHẬT.
Các bậc Chánh
Đẳng Chánh Giác được gọi là những Đấng Trọn Lành vì các Ngài
không có bất cứ sở hành sai quấy nào dù sống một mình nơi
thanh vắng. Ngay cả những tập tính không đẹp từ nhiều tiền
kiếp (tiền khiên tật) cũng không có ở chư Phật. Ác ma không
phải chỉ theo dõi sát Đức Phật từ lúc thành đạo mà kể từ
Ngài rời khỏi hoàng cung xuất gia. Có lẽ trong thế gian nầy
không ai khác có thể làm điều như Ác ma đã làm đối với Đức
Phật là bám sát để tìm lỗi trong thời gian dài. Thế nhưng Ác
ma đã thất vọng vì không thể tìm một khuyết điểm nhỏ nhặt
nào ở Bậc Ứng Cúng hoàn toàn thanh tịnh. Một điểm nên lưu ý
của bài kinh nầy là một bậc không còn ngã chấp hay tầm cầu
sở y thì không có sở hành bất thiện.
Evaṃ me sutaṃ –
Như vầy tôi nghe.
ekaṃ samayaṃ bhagavā uruvelāyaṃ viharati najjā nerañjarāya
tīre ajapālanigrodhe.
Một thuở Đức Thế
Tôn trú ở Uruvelā trên bờ sông nerañjarā, dưới Cây Đa Của
Những Người Chăn Dê.
Tena kho pana samayena māro pāpimā sattavassāni
bhagavantaṃ anubandho hoti otārāpekkho otāraṃ alabhamāno.
Bấy giờ Ác ma đi
theo Thế Tôn
suốt bảy năm với hy vọng tìm ra khuyết điểm nhưng không tìm
được.
Atha kho māro pāpimā yena bhagavā tenupasaṅkami;
upasaṅkamitvā bhagavantaṃ gāthāya ajjhabhāsi –
Rồi Ác ma đi đến Thế Tôn nói với Ngài kệ ngôn:
‘‘Sokāvatiṇṇo nu vanamhi jhāyasi,
Ưu sầu thiền trong rừng
‘‘Sokassa mūlaṃ palikhāya sabbaṃ,
(Thế Tôn):
Gốc ưu sầu nhổ sạch
‘‘Yaṃ vadanti mama yidanti, ye vadanti mamanti ca;
(Ác ma)
Cái họ gọi “của tôi”
‘‘Yaṃ vadanti na taṃ mayhaṃ, ye vadanti na te ahaṃ;
(Thế Tôn)
Cái họ gọi “của tôi”
‘‘Sace maggaṃ anubuddhaṃ, khemaṃ
amatagāminaṃ;
(Ác ma):
Nếu Ngài đã liễu đạo
‘‘Amaccudheyyaṃ pucchanti, ye janā
pāragāmino;
(Thế Tôn):
Những người đến bĩ ngạn
‘‘Seyyathāpi, bhante, gāmassa vā nigamassa vā avidūre
pokkharaṇī. Tatrassa kakkaṭako. Atha kho, bhante, sambahulā
kumārakā vā kumārikāyo vā tamhā gāmā vā nigamā vā
nikkhamitvā yena sā pokkharaṇī tenupasaṅkameyyuṃ;
upasaṅkamitvā taṃ kakkaṭakaṃ udakā uddharitvā thale
patiṭṭhapeyyuṃ. Yaṃ yadeva hi so, bhante, kakkaṭako aḷaṃ
abhininnāmeyya taṃ tadeva te kumārakā vā kumārikāyo vā
kaṭṭhena vā kathalāya vā sañchindeyyuṃ sambhañjeyyuṃ
sampalibhañjeyyuṃ. Evañhi so, bhante, kakkaṭako sabbehi
aḷehi sañchinnehi sambhaggehi sampalibhaggehi abhabbo taṃ
pokkharaṇiṃ otarituṃ. Evameva kho, bhante, yāni kānici
visūkāyikāni [yāni visukāyikāni (sī. pī. ka.)] visevitāni
vipphanditāni, sabbāni tāni [kānici kānici sabbāni (sī. pī.
ka.)] bhagavatā sañchinnāni sambhaggāni sampalibhaggāni.
Abhabbo dānāhaṃ, bhante, puna bhagavantaṃ upasaṅkamituṃ
yadidaṃ otārāpekkho’’ti.
Thưa Ngài, giống như tại một hồ sen không xa làng hay thị
trấn có một con cua. Rồi có một nhóm bé trai, bé gái rời
làng đi tới hồ ấy. Họ bắt con cua ra khỏi nước và bỏ trên
đất. Khi con cua duổi ra càng hay chân nào thì bọn trẻ bẻ
gãy cái đó và đập nát với gậy hay đá. Đến lúc con cua không
còn càng hay chân để bò trở lại hồ nước. Cũng tương tự như
vậy, thưa Ngài, tất cả những xuyên tạc, chống phá, cáo buộc
của tôi đã bị Ngài đoạn trừ. Bây giờ tôi không thể đến gần
Ngài để tìm những khuyết điểm lỗi lầm.
Atha kho māro pāpimā bhagavato santike imā nibbejanīyā
gāthāyo abhāsi –
Rồi Ác ma, trước mặt Thế Tôn, trong nỗi thất vọng, nói lên
kệ ngôn:
‘‘Medavaṇṇañca pāsāṇaṃ, vāyaso anupariyagā;
Như quạ liệng hư không,
Atha kho māro pāpimā bhagavato santike imā nibbejanīyā
gāthāyo abhāsitvā tamhā ṭhānā apakkamma bhagavato avidūre
pathaviyaṃ pallaṅkena nisīdi tuṇhībhūto maṅkubhūto
pattakkhandho adhomukho pajjhāyanto appaṭibhāno kaṭṭhena
bhūmiṃ vilikhanto.
Sau khi nói lên những kệ ngôn trước mặt Thế
Tôn, Ác ma từ chỗ ấy bỏ đi. Đến
ngồi một không xa Đức Thế Tôn, trong tư thế kiết già thụt
vai, cúi đầu, rũ rượi, xấu hổ, im lặng, dùng gậy cào trên
đất.
‘‘Sokāvatiṇṇo nu vanamhi jhāyasi = Có phải vì sầu muộn Ngài thiền định trong rừng?
vāyasetto apakkame = con quạ bỏ ra đi
Sớ
giải nói về con số bảy năm gồm sáu năm Đức Bồ Tát tu khổ
hạnh và năm thứ nhất sau khi thành đạo. Nói chính xác thì
câu chuyện nầy xẩy ra vào tuần lễ thứ năm sau khi Đức Thế
Tôn thành đạo. Chữ
otārāpekkho
ít
khi tìm thấy trong kinh điển mang ý nghĩa tiếp cận tìm lỗi
để chỉ trích. Sớ giải chỉ rằng otāra mang nghĩa vivara
(khiếm khuyết)
Đoạn cuối cùng của bài kinh nầy có dị bản thú vị. Theo Tam
Tạng Tích Lan thì đoạn nầy khởi đầu cho bài kinh theo (Kinh
Ma Nữ), còn Tam Tạng Miến Điện thì ghi là thuộc phần sau
cùng bài kinh nầy. Không có sai biệt trong kinh văn. Hai bài
kinh có thể gom chung thành một câu chuyện (…)
Dịch giả: Hoà Thượng Thích Minh Châu
-ooOoo- |