|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Tư, ngày 01 tháng 03, 2023 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYATập II – Thiên Nhân Duyên Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (a) - Phẩm Mười Lực (S. ii, 41)
Bài 26. Kinh
Upavāṇa (Upavāṇasuttaṃ)
Nội dung kinh
nầy giống như phần đầu bài trước, Kinh Bhūmija
(Bhūmijasuttaṃ) chỉ khác một chi tiết rất nhỏ không quan
trọng là không nói các vị sa môn, bà la môn theo lập thuyết
nghiệp báo (kammavādā).
Tôn giả Upavāṇa có lúc là thị giả của Đức Phật trong giai
đoạn ngắn hạn. Tập II – Thiên Nhân Duyên Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (a) - Phẩm Mười Lực (S. ii, 42)
Bài 27. Kinh Duyên (Paccayasuttaṃ)
-QUÁN TRIỆT DUYÊN KHỞI LÀ CHỨNG TUỆ GIÁC.
Sống và hiểu rõ cuộc sống là hai việc khác nhau. Thấy được
chân tướng, nhân tập khởi, sự tịch tịnh, và con đường dẫn
đến tịch tịnh được xem là sự hiểu biết hoàn chỉnh hay viên
giác. Tứ Diệu Đế và Thập Nhị Nhân Duyên mới nghe như khác
biệt nhưng cả hai, trong lý giải tận cùng, là một. Tất cả
chư Phật toàn giác thành đạo đều với sự quán chiếu duyên
khởi. Những bậc thánh đệ tử hữu học cũng được xem là thấy
được duyên khởi với tuệ giác. Bài kinh nầy, một lần nữa, xác
định vị thế quan trọng của duyên khởi trong Phật học.
Sāvatthiyaṃ viharati...pe... ‘‘avijjāpaccayā, bhikkhave,
saṅkhārā; saṅkhārapaccayā
viññāṇaṃ...pe... evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa
samudayo hoti.
Ngự tại Sāvatthi.
Này chư Tỳ Khưu, thế nào là duyên sinh? Với vô minh là
duyên, hành sanh khởi; hành là duyên, thức sanh khởi; thức
là duyên, danh sắc sanh khởi; danh sắc là duyên, lục nhập
sanh khởi; lục nhập là duyên, xúc sanh khởi; xúc là duyên,
tho sanh khởi; thọ là duyên, ái sanh khởi; ái là duyên, thủ
sanh khởi; thủ là duyên, hữu sanh khởi; hữu là duyên, sinh
sanh khởi; sinh là duyên, già, chết, khổ, ưu, ai sanh khởi.
Như vậy là toàn bộ khổ uẩn tập khởi.
‘‘Katamañca, bhikkhave, jarāmaraṇaṃ? Yā tesaṃ tesaṃ sattānaṃ
tamhi tamhi sattanikāye jarā jīraṇatā khaṇḍiccaṃ pāliccaṃ
valittacatā āyuno saṃhāni indriyānaṃ paripāko – ayaṃ vuccati
jarā. Yā tesaṃ tesaṃ sattānaṃ tamhā tamhā sattanikāyā cuti
cavanatā bhedo antaradhānaṃ maccu maraṇaṃ kālakiriyā
khandhānaṃ bhedo kaḷevarassa nikkhepo; idaṃ vuccati maraṇaṃ.
Iti ayañca jarā idañca maraṇaṃ. Idaṃ vuccati, bhikkhave,
jarāmaraṇaṃ. Jātisamudayā jarāmaraṇasamudayo; jātinirodhā
jarāmaraṇanirodho. Ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo
jarāmaraṇanirodhagāminī paṭipadā. Seyyathidaṃ – sammādiṭṭhi,
sammāsaṅkappo, sammāvācā, sammākammanto, sammāājīvo,
sammāvāyāmo, sammāsati, sammāsamādhi.
Này chư Tỳ Khưu, thế nào là già, chết? Sự lão hoá của chúng
sanh trong nhiều sanh loại với già nua, tóc bạc, da nhăn,
răng rụng, sức lực cùng kiệt, các căn suy yếu. Cái chết của
chúng sanh ở nhiều sanh loại chính là sự tiêu vong, mệnh
chung, sinh mạng kết thúc, tuổi thọ không còn, các uẩn biến
hoại, thân xác quăng bỏ. Đây gọi là già, chết. Đây gọi chung
già và chết là lão tử.
Do sanh tập khởi, già chết tập khởi. Do sanh đoạn diệt, già
chết đoạn diệt. Ðây là Thánh đạo tám chi phần đưa đến đoạn
diệt già chết tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh
ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm,
chánh định.
‘‘Katamā ca, bhikkhave, jāti...pe... katamo ca, bhikkhave,
bhavo... katamañca, bhikkhave, upādānaṃ... katamā ca,
bhikkhave, taṇhā... katamā ca, bhikkhave, vedanā... katamo
ca, bhikkhave, phasso... katamañca, bhikkhave,
saḷāyatanaṃ... katamañca, bhikkhave, nāmarūpaṃ... katamañca,
bhikkhave, viññāṇaṃ...? Này chư Tỳ Khưu thế nào là hữu?... Này chư Tỳ Khưu thế nào là thủ?... Này chư Tỳ Khưu thế nào là ái?... Này chư Tỳ Khưu thế nào là thọ?... Này chư Tỳ Khưu thế nào là xúc?... Này chư Tỳ Khưu thế nào là lục nhập?... Này chư Tỳ Khưu thế nào là danh sắc?...
Này chư Tỳ Khưu thế nào là thức?... (xem Kinh Phân Tích
Duyên Sinh (Vibhaṅgasuttaṃ)Tập II – Thiên Nhân Duyên =
Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (a) - Phẩm Phật Đà (S. ii,
2))
‘‘Katame ca, bhikkhave, saṅkhārā? Tayome, bhikkhave,
saṅkhārā – kāyasaṅkhāro, vacīsaṅkhāro, cittasaṅkhāro. Ime
vuccanti, bhikkhave, saṅkhārā. Avijjāsamudayā
saṅkhārasamudayo; avijjānirodhā saṅkhāranirodho. Ayameva
ariyo aṭṭhaṅgiko maggo saṅkhāranirodhagāminī paṭipadā.
Seyyathidaṃ – sammādiṭṭhi...pe... sammāsamādhi.
Này chư Tỳ Khưu,
thế nào là hành? Này các Tỷ-kheo, có ba hành này: thân hành,
khẩu hành, ý hành. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hành.
Ðây là Thánh đạo tám chi phần đưa đến đoạn diệt hành tức là
chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh
mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.
‘‘Yato kho, bhikkhave, ariyasāvako evaṃ paccayaṃ pajānāti,
evaṃ paccayasamudayaṃ pajānāti, evaṃ paccayanirodhaṃ
pajānāti, evaṃ paccayanirodhagāminiṃ paṭipadaṃ pajānāti.
Ayaṃ vuccati, bhikkhave, ariyasāvako diṭṭhisampanno itipi,
dassanasampanno itipi, āgato imaṃ saddhammaṃ itipi, passati
imaṃ saddhammaṃ itipi, sekkhena ñāṇena samannāgato itipi,
sekkhāya vijjāya samannāgato itipi, dhammasotaṃ samāpanno
itipi, ariyo nibbedhikapañño itipi, amatadvāraṃ āhacca
tiṭṭhati itipī’’ti. Sattamaṃ.
Này chư Tỳ Khưu, do vị thánh đệ tử biết duyên như vậy, duyên
tập khởi như vậy, duyên đoạn diệt như vậy; biết rõ con đường
đưa đến đoạn diệt như vậy, vị thánh đệ tử ấy được gọi là đạt
tri kiến, đạt tầm nhìn, đã đạt được chân diệu pháp này, thấy
được chân diệu pháp này; đã đầy đủ hữu học trí, đã đầy đủ
hữu học minh, đã nhập
pháp lưu, là bậc thánh minh tuệ giác, đã đứng ngay
tại Cửa Bất Tử.
Chú Thích Tên
bài kinh nầy trùng với một bài trước đây. Nội
dung khi nầy phần lớn trùng với với Kinh Phân Tích Duyên
Sinh (Vibhaṅgasuttaṃ)Tập II – Thiên Nhân Duyên = Chương I.
Tương Ưng Nhân Duyên (a) - Phẩm Phật Đà (S. ii, 2). Phần
khác biệt là ở đoạn sau cùng Đức Phật khẳng định một người
quán triệt duyên khởi là một thánh đệ tử thành tựu tuệ giác.
Theo Sớ Giải thì sự hiểu biết đích thực giáo lý duyên khởi
là quán triệt các duyên sinh theo hệ luận tứ đế: chân tướng,
nhân tập khởi, sự đoạn diệt, con đường đưa đến đoạn diệt. Bậc
hữu học – sekha - chỉ cho 7 tầng thánh: sơ đạo, sơ quả, nhị
đạo, nhị quả, tam đạo, tam quả, và tứ đạo. Bậc tứ quá là quả
vị A la hán. Hiểu đại lược bậc hữu học là bậc đang trên hành
trình dẫn đến viên giác. Bậc vô học là bậc viên giác. Hữu
học và vô học ở đây hiểu theo cổ văn Hán ngữ hoàn toàn khác
với cách dùng hiện hành. Câu
“amatadvāraṃ āhacca tiṭṭhati - dịch đầy đủ là người đứng gõ
cửa bất tử - dựa trên một thành ngữ được hiểu là “đứng ngay
tại cửa bất tử”. Động tự “gõ - āhacca ” trong câu không có ý
nghĩa như trong bản Sớ Giải một bài kinh trước (II 238,5,
16-17) Bất
tử - amata - chỉ cho niết bàn.
Chuyển dịch và biên soạn Giáo trình: Tỳ kheo Giác Đẳng
-ooOoo- |