|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Ba, ngày 07 tháng 03, 2023 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập II – Thiên Nhân Duyên Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (b) - Phẩm Kalāra – Vị Sát Đế Lỵ (S. ii, 50)
Bài 32.
Kinh Kaḷāra (Kaḷārasuttaṃ)
-THẬT BIẾT THÌ HỎI THẾ NÀO CŨNG TRẢ LỜI ĐƯỢC.
Có lần Tôn giả
Ananda, bấy giờ còn là bậc sơ quả,
bạch Phật về sự hoan hỷ do thấy rõ lý duyên khởi. Đức
Phật cảnh giác là giáo lý duyên khởi không đơn giản để hiểu.
Nhưng đối với Tôn giả Sāriputta thì Đức Phật dạy rằng dù
Ngài có hỏi thế nào về duyên khởi thì Tôn giả Sāriputta vẫn
có thể trả lời do sự tuệ giác quán triệt của một bậc đại trí
thượng thủ thinh văn. Như một người sống quá lâu và quá biết
về một lâu đài nếu có ai hỏi cách nào về những lối đi ra vào
thì đều có thể trả lời vì không phải do nghe mà nói lại mà
vì bản đã sống trong toà lâu đài nhiều năm và thật sự thông
hiều các lối ra vào. Cái biết do tự thân chứng nghiệm rất
khác với cái biết do nghe lại hay do suy diễn.
Sāvatthiyaṃ viharati. Atha kho kaḷārakhattiyo bhikkhu
yenāyasmā sāriputto tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmatā
sāriputtena saddhiṃ sammodi. Sammodanīyaṃ kathaṃ sāraṇīyaṃ
vītisāretvā ekamantaṃ nisīdi. Ekamantaṃ nisinno kho
kaḷārakhattiyo bhikkhu āyasmantaṃ sāriputtaṃ etadavoca –
‘‘moḷiyaphagguno, āvuso sāriputta, bhikkhu sikkhaṃ
paccakkhāya hīnāyāvattoti. Na hi nūna so āyasmā imasmiṃ
dhammavinaye assāsamalatthāti. Tena hāyasmā sāriputto
imasmiṃ dhammavinaye assāsaṃ patto’’ti?
‘‘Na khvāhaṃ, āvuso, kaṅkhāmī’’ti. ‘‘Āyatiṃ, panāvuso’’ti?
‘‘Na khvāhaṃ, āvuso, vicikicchāmī’’ti.
Ngự ỏ
Sāvatthi.
Bấy giờ
tỳ khưu Kaḷārakhattiya
(Kalāra giòng sát đế lỵ) ,
đi đến Tôn giả Sāriputta.
Sau khi nói lên những lời thăm hỏi thân thiện ngồi xuống một
bên.
Tỳ khưu
Kaḷārakhattiya
nói với Tôn giả Sāriputta:
-- Hiền giả Sāriputta,
tỳ khưu
Moliyaphagguna đã từ
bỏ
tu tập
và hoàn tục.
-- Vậy vị ấy không tìm được sự an ủi trong Pháp và Luật
này
-- Vậy Tôn giả Sāriputta đã đạt được sự an ủi trong Pháp
và Luật này?
-- Này Hiền giả, tôi không có nghi ngờ gì
-- Này Hiền giả, còn đối với tương lai?
-- Tôi không có băn khoăn, này Hiền giả.
Atha kho kaḷārakhattiyo bhikkhu uṭṭhāyāsanā yena bhagavā
tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṃ abhivādetvā
ekamantaṃ nisīdi. Ekamantaṃ nisinno kho kaḷārakhattiyo
bhikkhu bhagavantaṃ etadavoca – ‘‘āyasmatā, bhante,
sāriputtena aññā byākatā – ‘khīṇā jāti, vusitaṃ
brahmacariyaṃ, kataṃ karaṇīyaṃ, nāparaṃ itthattāyā’ti
pajānāmī’’ti.
Rồi
tỳ khưu
Kaḷārakhattiya đi đến Đức Thế Tôn.
Sau khi đến, đảnh lễ Đức
Thế Tôn và
ngồi xuống một bên.
Tỳ khưu Kaḷārakhattiya
bạch với Đức
Thế Tôn:
--
Bạch Đức
Thế Tôn,
con được biết Tôn giả Sāriputta tuyên bố
tuệ giác như sau: "Sanh
đã tận,
phạm hạnh đã thành, những
gì nên làm đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa".
Atha kho bhagavā aññataraṃ bhikkhuṃ āmantesi – ‘‘ehi tvaṃ,
bhikkhu, mama vacanena sāriputtaṃ āmantehi – ‘satthā taṃ,
āvuso sāriputta, āmantetī’’’ti. ‘‘Evaṃ, bhante’’ti kho so
bhikkhu bhagavato paṭissutvā yenāyasmā sāriputto
tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṃ sāriputtaṃ etadavoca
– ‘‘satthā taṃ, āvuso sāriputta, āmantetī’’ti. ‘‘Evaṃ,
āvuso’’ti kho āyasmā sāriputto tassa bhikkhuno
paṭissutvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā
bhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ nisīdi. Ekamantaṃ nisinnaṃ
kho āyasmantaṃ sāriputtaṃ bhagavā etadavoca – ‘‘saccaṃ kira
tayā, sāriputta, aññā byākatā – ‘khīṇā jāti, vusitaṃ
brahmacariyaṃ, kataṃ karaṇīyaṃ, nāparaṃ itthattāyā’ti
pajānāmī’’ti? ‘‘Na kho, bhante, etehi padehi etehi
byañjanehi attho vutto’’ti. ‘‘Yena kenacipi, sāriputta,
pariyāyena kulaputto aññaṃ byākaroti, atha kho byākataṃ
byākatato daṭṭhabba’’nti. ‘‘Nanu ahampi, bhante, evaṃ vadāmi
– ‘na kho, bhante, etehi padehi etehi byañjanehi attho
vutto’’’ti.
Rồi Đức
Thế Tôn gọi
một
tỳ khưu:
-- Này
tỳ khưu, hãy đi và nhân danh Ta
gọi Sāriputta: "Hiền giả Sāriputta, bậc Ðạo Sư gọi Hiền
giả".
--
Dạ vâng, bạch Thế Tôn.
Tỳ khưu ấy vâng đáp Đức
Thế Tônvà
đi đến Tôn giả
Sāriputta
nói rằng: "Bậc Ðạo
Sư cho Hiền giả".
--
Vâng, Hiền giả.
Tôn giả Sāriputta
trả lời
sau đó đi đến và
đảnh lễ Thế Tôn rồi
ngồi xuống một bên.
Đức
Thế Tôn nói với Tôn giả Sāriputta:
-- Này Sāriputta, có đúng sự thật chăng
Thầy tuyên bố tuệ giác như sau: "Sanh đã tận,
phạm hạnh đã thành, những gì nên làm đã làm, không còn trở
lại trạng thái này nữa".
-- Bạch Thế Tôn,
con vốn
không nói điều ấy với câu nói và cách nói như vậy.
-- Vậy với cách nào, này Sāriputta,
một thiện nam tử nói
lên sự
chứng đắc tuệ giác tối hậu và lời tuyên bố cần được hiểu như
vậy?
-- Bạch Đức Thế Tôn, con đã thưa “con vốn không nói điều ấy
với câu nói và cách nói như vậy”.
‘‘Sace maṃ, bhante, evaṃ puccheyyuṃ – ‘kathaṃ jānatā pana
tayā, āvuso sāriputta, kathaṃ passatā aññā byākatā – khīṇā
jāti vusitaṃ brahmacariyaṃ kataṃ karaṇīyaṃ nāparaṃ
itthattāyāti pajānāmī’ti; evaṃ puṭṭhohaṃ, bhante, evaṃ
byākareyyaṃ – ‘yaṃnidānā, āvuso, jāti, tassa nidānassa khayā
khīṇasmiṃ khīṇāmhīti viditaṃ. Khīṇāmhīti viditvā – khīṇājāti
vusitaṃ brahmacariyaṃ kataṃ karaṇīyaṃ nāparaṃ itthattāyāti
pajānāmī’ti. Evaṃ puṭṭhohaṃ, bhante, evaṃ byākareyya’’nti.
-- Này
Sāriputta,
nếu họ hỏi Thầy:
Thấy thế nào, biết thế nào để tuyên bố tuệ giác tối hậu:
"Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành,
những gì nên làm đã làm, không còn trở lại trạng thái này
nữa"?. Thì Thầy trả lời thế nào?
-- Bạch Đức Thế Tôn,
nếu họ hỏi con: Thấy thế nào, biết thế nào để tuyên bố tuệ
giác tối hậu: "Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những gì nên
làm đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa"?. Con sẽ
trả lời: “Với sự đoạn diệt nhân tập khởi của sự sanh, tôi
hiểu rằng: Khi (nhân) diệt, thời (hệ quả) cũng diệt. Hiểu
điều nầy thì tôi cũng hiểu: "Sanh
đã tận, phạm hạnh đã thành, những gì nên làm đã làm, không
còn trở lại trạng thái này nữa". Đó là câu trả lời khi con
được hỏi.
‘‘Sace pana taṃ, sāriputta, evaṃ puccheyyuṃ – ‘jāti panāvuso
sāriputta, kiṃnidānā kiṃsamudayā kiṃjātikā kiṃpabhavā’ti?
Evaṃ puṭṭho taṃ, sāriputta, kinti byākareyyāsī’’ti? ‘‘Sace
maṃ, bhante, evaṃ puccheyyuṃ – ‘jāti panāvuso sāriputta,
kiṃnidānā kiṃsamudayā kiṃjātikā kiṃpabhavā’ti? Evaṃ
puṭṭhohaṃ, bhante, evaṃ byākareyyaṃ – ‘jāti kho, āvuso,
bhavanidānā bhavasamudayā bhavajātikā bhavappabhavā’ti. Evaṃ
puṭṭhohaṃ, bhante, evaṃ byākareyya’’nti.
-- Này Sāriputta, nếu họ hỏi Thầy: "Này Hiền giả
Sāriputta, sanh do gì
làm nhân tập khởi, do gì làm năng
duyên, do gì tạo
thành? Thầy trả lời thế nào?
-- Bạch Đức Thế Tôn, nếu họ hỏi con: Sanh do gì làm nhân tập khởi, do gì là năng duyên, do gì tạo
thành? Con sẽ trả lời: Sanh do hữu làm nhân tập khởi, do
hữu làm năng duyên, do hữu tạo thành.
‘‘Sace pana taṃ, sāriputta, evaṃ puccheyyuṃ – ‘bhavo
panāvuso sāriputta, kiṃnidāno kiṃsamudayo kiṃjātiko
kiṃpabhavo’ti? Evaṃ puṭṭho tvaṃ, sāriputta, kinti
byākareyyāsī’’ti? ‘‘Sace maṃ, bhante, evaṃ puccheyyuṃ –
‘bhavo panāvuso sāriputta, kiṃnidāno kiṃsamudayo kiṃjātiko
kiṃpabhavo’ti? Evaṃ puṭṭhohaṃ, bhante, evaṃ byākareyyaṃ –
‘bhavo kho, āvuso, upādānanidāno upādānasamudayo
upādānajātiko upādānappabhavo’ti. Evaṃ puṭṭhohaṃ, bhante,
evaṃ byākareyya’’nti.
-- Này
Sāriputta, nếu họ hỏi Thầy: "Này Hiền giả Sāriputta,
hữu
do gì làm nhân tập khởi
, do gì làm năng
duyên,
do
gì tạo thành? Thầy trả lời thế nào?
-- Bạch Đức Thế Tôn, nếu họ hỏi con:
Hữu
do gì làm nhân tập khởi
, do gì là năng
duyên, do gì tạo thành? Con sẽ trả lời:
Hữu
do
thủ
làm nhân tập khởi
, do
thủ
làm năng duyên,
do
thủ
tạo thành.
‘‘Sace pana taṃ, sāriputta, evaṃ puccheyyuṃ – ‘upādānaṃ
panāvuso...pe... sace pana taṃ, sāriputta, evaṃ puccheyyuṃ –
taṇhā panāvuso sāriputta, kiṃnidānā kiṃsamudayā kiṃjātikā
kiṃpabhavā’ti? Evaṃ puṭṭho tvaṃ, sāriputta, kinti
byākareyyāsī’’ti? ‘‘Sace maṃ, bhante, evaṃ puccheyyuṃ –
taṇhā panāvuso sāriputta, kiṃnidānā kiṃsamudayā kiṃjātikā
kiṃpabhavā’ti? Evaṃ puṭṭhohaṃ, bhante, evaṃ byākareyyaṃ –
‘taṇhā kho, āvuso, vedanānidānā vedanāsamudayā vedanājātikā
vedanāpabhavā’ti. Evaṃ puṭṭhohaṃ, bhante, evaṃ
byākareyya’’nti.
-- Này Sāriputta, nếu họ hỏi Thầy: "Này Hiền giả
Sāriputta,
thủ do gì làm nhân tập khởi
, do gì làm năng duyên, do gì tạo
thành? Thầy trả lời thế nào?
-- Bạch Đức Thế Tôn, nếu họ hỏi con:
Thủ do gì làm nhân tập khởi
, do gì là năng
duyên, do gì tạo thành? Con sẽ trả lời:
Thủ
do ái làm nhân tập khởi
, do thủ làm năng duyên, do thủ tạo
thành.
-- Này
Sāriputta, nếu họ hỏi Thầy: "Này Hiền giả Sāriputta,
ái do gì làm nhân tập khởi
, do gì làm năng duyên, do gì tạo
thành? Thầy trả lời thế nào?
-- Bạch Đức Thế Tôn, nếu họ hỏi con: Ái do gì làm nhân tập khởi
, do gì là năng duyên, do gì tạo
thành? Con sẽ trả lời:
Ái
do
thọ làm nhân tập khởi
, do
thọ làm năng duyên, do thọ tạo thành.
‘‘Sace pana taṃ, sāriputta, evaṃ puccheyyuṃ – ‘kathaṃ jānato
pana te, āvuso sāriputta, kathaṃ passato yā
vedanāsu nandī sā na
upaṭṭhāsī’ti. Evaṃ puṭṭho tvaṃ, sāriputta, kinti
byākareyyāsī’’ti? ‘‘Sace maṃ, bhante, evaṃ puccheyyuṃ –
‘kathaṃ jānato pana te, āvuso sāriputta, kathaṃ passato yā
vedanāsu nandī sā na upaṭṭhāsī’ti evaṃ puṭṭhohaṃ, bhante,
evaṃ byākareyyaṃ – ‘tisso kho imā, āvuso, vedanā. Katamā
tisso? Sukhā vedanā, dukkhā vedanā, adukkhamasukhā vedanā.
Imā kho, āvuso, tisso vedanā aniccā. Yadaniccaṃ taṃ
dukkhanti viditaṃ, yā vedanāsu nandī sā na upaṭṭhāsī’ti.
Evaṃ, puṭṭhohaṃ, bhante, evaṃ byākareyya’’nti.
-- Này Sāriputta, nếu họ hỏi Thầy: "Này Hiền giả
Sāriputta,
làm thế nào để biết sự thích thú
đối với cảm thọ không hiện hữu ở hiền giả?”
-- Bạch Đức Thế Tôn, nếu họ hỏi
con:
“Làm thế nào để biết sự thích thú đối với cảm thọ không hiện
hữu ở hiền giả?” Con
sẽ trả lời: Chư Hiền giả, có ba cảm thọ là thọ khổ, thọ lạc,
và thọ xả. Cả ba cảm thọ đều vô thường, cái gì vô thường là
khổ. Một khi điều nầy được hiểu thì sự thích thú đối với cảm
thọ không hiện hữu nơi tôi.
‘‘Sādhu sādhu, sāriputta. Ayampi kho, sāriputta, pariyāyo,
etasseva atthassa saṃkhittena veyyākaraṇāya – ‘yaṃ kiñci
vedayitaṃ taṃ dukkhasmi’’’nti.
-- Lành
thay, lành thay, này Sāriputta!
cảch trả lời nầy có thể nói ngắn gọn:
Cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ.
‘‘Sace pana taṃ, sāriputta, evaṃ puccheyyuṃ – ‘kathaṃ
vimokkhā pana tayā, āvuso sāriputta, aññā byākatā – khīṇā
jāti vusitaṃ brahmacariyaṃ kataṃ karaṇīyaṃ nāparaṃ
itthattāyāti pajānāmī’ti? Evaṃ puṭṭho tvaṃ, sāriputta, kinti
byākareyyāsī’’ti? ‘‘Sace maṃ, bhante, evaṃ puccheyyuṃ –
‘kathaṃ vimokkhā pana tayā, āvuso sāriputta, aññā byākatā –
khīṇā jāti vusitaṃ brahmacariyaṃ kataṃ karaṇīyaṃ nāparaṃ
itthattāyāti pajānāmī’ti. Evaṃ puṭṭhohaṃ, bhante, evaṃ
byākareyyaṃ – ‘ajjhattaṃ vimokkhā khvāhaṃ, āvuso,
sabbupādānakkhayā tathā sato viharāmi yathā sataṃ viharantaṃ
āsavā nānussavanti, attānañca nāvajānāmī’ti. Evaṃ puṭṭhohaṃ,
bhante, evaṃ byākareyya’’nti.
-- Này Sāriputta, nếu họ hỏi Thầy: "Này Hiền giả
Sāriputta,
với sự giải thoát thế nào để có
thể tuyên bố: "Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những gì nên
làm đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa"?. Thì Thầy
trả lời thế nào?
-- Bạch Đức Thế Tôn, nếu họ hỏi con: "Này Hiền giả
Sāriputta, với sự giải thoát thế nào để có thể tuyên bố:
"Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những gì nên làm đã làm,
không còn trở lại trạng thái này nữa"?. Con sẽ trả lời: Với
sự giải thoát nội tại, chấp thủ đoạn tận. Tôi trú chánh niệm
trong trạng thái các lậu hoặc không luân lưu, và không tự
khinh.
‘‘Sādhu sādhu, sāriputta. Ayampi kho sāriputta, pariyāyo
etasseva atthassa saṃkhittena veyyākaraṇāya – ye āsavā
samaṇena vuttā tesvāhaṃ na kaṅkhāmi, te me pahīnāti na
vicikicchāmī’’ti. Idamavoca bhagavā. Idaṃ vatvā sugato
uṭṭhāyāsanā vihāraṃ pāvisi.
-- Lành thay, lành thay, này Sāriputta!
cảch trả lời nầy có thể nói ngắn gọn: Tôi
không còn nghi ngờ gì đối với các lậu hoặc được nói bởi Bậc
Sa Môn; tôi không có nghi hoặc với những gì đã đoạn diệt.
Tatra kho āyasmā sāriputto acirapakkantassa bhagavato
bhikkhū āmantesi – ‘‘pubbe appaṭisaṃviditaṃ maṃ, āvuso,
bhagavā paṭhamaṃ pañhaṃ apucchi, tassa me ahosi
dandhāyitattaṃ. Yato ca kho me, āvuso, bhagavā paṭhamaṃ
pañhaṃ anumodi, tassa mayhaṃ, āvuso, etadahosi – divasaṃ
cepi maṃ bhagavā etamatthaṃ puccheyya aññamaññehi padehi
aññamaññehi pariyāyehi, divasampāhaṃ bhagavato etamatthaṃ
byākareyyaṃ aññamaññehi padehi aññamaññehi pariyāyehi.
Rattiṃ cepi maṃ bhagavā etamatthaṃ puccheyya aññamaññehi
padehi aññamaññehi pariyāyehi, rattimpāhaṃ bhagavato
etamatthaṃ byākareyyaṃ aññamaññehi padehi aññamaññehi
pariyāyehi. Rattindivaṃ cepi maṃ bhagavā etamatthaṃ
puccheyya aññamaññehi padehi aññamaññehi pariyāyehi,
rattindivampāhaṃ bhagavato etamatthaṃ byākareyyaṃ
aññamaññehi padehi aññamaññehi pariyāyehi. Dve rattindivāni
cepi maṃ bhagavā etamatthaṃ puccheyya...pe... dve
rattindivānipāhaṃ bhagavato etamatthaṃ byākareyyaṃ...pe...
tīṇi rattindivāni cepi maṃ bhagavā etamatthaṃ
puccheyya...pe... tīṇi rattindivānipāhaṃ bhagavato
etamatthaṃ byākareyyaṃ...pe... cattāri rattindivāni cepi maṃ
bhagavā etamatthaṃ puccheyya...pe... cattāri
rattindivānipāhaṃ bhagavato etamatthaṃ byākareyyaṃ...pe...
pañca rattindivāni cepi maṃ bhagavā etamatthaṃ
puccheyya...pe... pañca rattindivānipāhaṃ bhagavato
etamatthaṃ byākareyyaṃ...pe... cha rattindivāni cepi maṃ
bhagavā etamatthaṃ puccheyya...pe... cha rattindivānipāhaṃ
bhagavato etamatthaṃ byākareyyaṃ...pe... satta rattindivāni
cepi maṃ bhagavā etamatthaṃ puccheyya aññamaññehi padehi
aññamaññehi pariyāyehi, satta rattindivānipāhaṃ bhagavato
etamatthaṃ byākareyyaṃ aññamaññehi padehi aññamaññehi
pariyāyehī’’ti.
Sau khi dạy như vậy, Đức
Thế Tôn từ
chỗ ngồi đứng dậy đi vào tịnh thất.
Sau khi Thế Tôn đi
không bao
lâu, Tôn giả Sāriputta, ,
nói với chư tỳ khưu:
-- Này chư Hiền giả,
khi Đức
Thế Tôn hỏi
tôi câu hỏi thứ nhất điều mà
tôi chưa từng nghĩ tới nên có do dự. Khi Đức Thế Tôn chuẩn
thuận câu trả lời tôi đã nghĩ: Nếu Đức Thế Tôn hỏi với điều
nầy với nhiều câu nói khác nhau, nhiều cách nói khác nhau dù
trọn cả ngày mình cũng có thể trả lời. Nếu Ngài hỏi cả đêm,
hay trọn đêm ngày, hoặc hai, ba, bốn, năm, sáu, bảy ngày đêm
thì mình vẫn có thể trả lời.
Atha kho kaḷārakhattiyo bhikkhu uṭṭhāyāsanā yena bhagavā
tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṃ abhivādetvā
ekamantaṃ nisīdi. Ekamantaṃ nisinno kho kaḷārakhattiyo
bhikkhu bhagavantaṃ etadavoca – ‘‘āyasmatā, bhante,
sāriputtena sīhanādo nadito – pubbe appaṭisaṃviditaṃ maṃ,
āvuso, bhagavā paṭhamaṃ pañhaṃ apucchi, tassa me ahosi
dandhāyitattaṃ. Yato ca kho me, āvuso, bhagavā paṭhamaṃ
pañhaṃ anumodi, tassa mayhaṃ, āvuso, etadahosi – divasaṃ
cepi maṃ bhagavā etamatthaṃ puccheyya aññamaññehi padehi
aññamaññehi pariyāyehi, divasampāhaṃ bhagavato etamatthaṃ
byākareyyaṃ aññamaññehi padehi aññamaññehi pariyāyehi;
rattiṃ cepi...pe... rattindivaṃ cepi maṃ bhagavā...pe... dve
rattindivāni cepi maṃ bhagavā...pe... tīṇi... cattāri...
pañca... cha... satta rattindivāni cepi maṃ bhagavā
etamatthaṃ puccheyya aññamaññehi padehi aññamaññehi
pariyāyehi, satta rattindivānipāhaṃ bhagavato etamatthaṃ
byākareyyaṃ aññamaññehi padehi aññamaññehi pariyāyehī’’ti.
Rồi tỳ khưu Kaḷārakhattiya đi đến Đức Thế Tôn. Sau khi
đến, đảnh lễ Đức Thế Tôn và
ngồi xuống một bên.
Tỳ khưu Kaḷārakhattiya bạch với Đức Thế Tôn:
-- Bạch Đức Thế Tôn, Tôn giả Sāriputta đã
cất tiếng sư tử
hống
như sau: Này
chư Hiền giả, khi Đức Thế Tôn hỏi tôi câu hỏi thứ nhất điều
mà tôi chưa từng nghĩ tới nên có do dự. Khi Đức Thế Tôn
chuẩn thuận câu trả lời tôi đã nghĩ: Nếu Đức Thế Tôn hỏi với
điều nầy với nhiều câu nói khác nhau, nhiều cách nói khác
nhau dù trọn cả ngày mình cũng có thể trả lời. Nếu Ngài hỏi
cả đêm, hay trọn đêm ngày, hoặc hai, ba, bốn, năm, sáu, bảy
ngày đêm thì mình vẫn có thể trả lời.
‘‘Sā hi, bhikkhu, sāriputtassa dhammadhātu suppaṭividdhā,
yassā dhammadhātuyā suppaṭividdhattā divasaṃ cepāhaṃ
sāriputtaṃ etamatthaṃ puccheyyaṃ aññamaññehi padehi
aññamaññehi pariyāyehi, divasampi me sāriputto etamatthaṃ
byākareyya aññamaññehi padehi aññamaññehi pariyāyehi. Rattiṃ
cepāhaṃ sāriputtaṃ etamatthaṃ puccheyyaṃ aññamaññehi padehi
aññamaññehi pariyāyehi, rattimpi me sāriputto etamatthaṃ
byākareyya...pe... rattindivaṃ cepāhaṃ sāriputtaṃ etamatthaṃ
puccheyyaṃ, rattindivampi me sāriputto etamatthaṃ
byākareyya... dve rattindivāni cepāhaṃ sāriputtaṃ etamatthaṃ
puccheyyaṃ, dve rattindivānipi me sāriputto etamatthaṃ
byākareyya... tīṇi rattindivāni cepāhaṃ sāriputtaṃ
etamatthaṃ puccheyyaṃ, tīṇi rattindivānipi me sāriputto
etamatthaṃ byākareyya... cattāri rattindivāni cepāhaṃ
sāriputtaṃ etamatthaṃ puccheyyaṃ, cattāri rattindivānipi me
sāriputto etamatthaṃ byākareyya... pañca rattindivāni
cepāhaṃ sāriputtaṃ etamatthaṃ puccheyyaṃ, pañca
rattindivānipi me sāriputto etamatthaṃ byākareyya... cha
rattindivāni cepāhaṃ sāriputtaṃ etamatthaṃ puccheyyaṃ, cha
rattindivānipi me sāriputto etamatthaṃ byākareyya... satta
rattindivāni cepāhaṃ sāriputtaṃ etamatthaṃ puccheyyaṃ
aññamaññehi padehi aññamaññehi pariyāyehi, satta
rattindivānipi me sāriputto etamatthaṃ byākareyya
aññamaññehi padehi aññamaññehi pariyāyehī’’ti. Dutiyaṃ.
-- Này
Tỳ khưu.
Sāriputta đã
thâm nhập nguyên lý các pháp với sự quán triệt mà nếu Ta hỏi
với nhiều câu nói khác khác nhau, với nhiều cách nói khác
nhau dù trọn cả ngày Sāriputta cũng có thể trả lời. Nếu Ta
hỏi cả đêm, hay trọn đêm ngày, hoặc hai, ba, bốn, năm, sáu,
bảy ngày đêm thì Sāriputta vẫn có thể trả lời.
Chú Thích
Tỳ khưu Kaḷārakhattiya
được nhắc tới trong Tam Tạng một lần duy nhất trong bài kinh
nầy, Không có chi tiết được đề cập về vị nầy. Tên
Kaḷārakhattiya có nghĩa là Kaḷāra dòng sát đế lỵ. Viết chung
để tiện gọi không cần lập đi lập lại về dòng tộc.
Tỳ khưu
Moḷiyaphagguna
từng được đề cập trong bài kinh trước đây khi hỏi về “ai là
người cảm thọ”. Vị nầy cũng được biết là khi xuất gia thân
thiết quá đáng với chư tỳ khưu ni. (Trung Bộ I, Kakacūpama
Sutta)
Chữ hīnāyāvatto - trở lui đời sống tầm thường – là thuật ngữ
chỉ cho sự hoàn tục của một người xuất gia.
Theo Sớ giải khi Tôn giả Sāriputta nói “tôi không có nghi
ngờ (na kaṅkhāmi)” vì Ngài đã đạt được tuệ giác đáo bỉ ngạn
của bậc thánh đệ tử (sāvakapāramīñāṇa).
Đối với tương lai (āyatiṃ)
chỉ cho kiếp lai sinh. Câu
hỏi tỳ khưu
Kaḷārakhattiya hàm ý: Ngài đã chứng đắc quả vị giải thoát
hoàn toàn chưa? Thuật
ngữ aññā - tuệ giác tối hậu hay viên giác - chỉ cho quả vị a
la hán. Theo
Sớ Giải thì Tỳ khưu Kaḷārakhattiya bạch với Đức Thế Tôn về
sự đại ngộ của Tôn giả Sāriputta chỉ vì sự hoan hỳ. Và do sự
hoan hỷ mà lời nói không lập lại đúng như cách nói của Tôn
giả Sāriputta. Câu
trả lời của Tôn giả Sāriputta là cách trả lời rất khéo của
chư vị a la hán không nói là “tôi đã đắc chứng đạo quả” mà
chỉ nói “thế nào là sự đắc chứng đạo quả”. Theo Sớ giải thì
Đức Phật hỏi Tôn giả Sāriputta với ý nghĩ là vị đệ tử nầy sẽ
không nói về sở đắc của mình mà chỉ nói về pháp tánh giác
ngộ dựa trên câu hỏi của bậc Đạo Sư Các
bậc thượng thủ thinh văn như Tôn giả Sāriputta thành tựu tuệ
giác tối hậu giống như chư vị toàn giác là quán chiếu duyên
khởi. Vì đó là cảnh giới (savisaya) của của đại trí. Cụm từ
vedanāsu nandī – thích thú cảm thọ - hàm ý là tìm sự an lạc
qua cảm thọ. Mà cảm thọ, dù thọ khổ, thọ lạc, thọ xả, đều vô
thường. Không hiểu điểm nầy rất khó lãnh hội sự an lạc không
cảm thọ. Câu
Yaṃ kiñci vedayitaṃ
taṃ dukkhasmiṃ - cái gì vô thường là khổ - có nghĩa là cái
gì có sanh có diệt thì bất toàn và bất an. Tất cả cảm thọ là
vô thường nên cảm thọ nằm trong giới vức của khổ đau. Sự
giải thoát nội tại (ajjhattaṃ vimokkho) chỉ cho sự giác ngộ
do quán chiếu thân tâm chính mình. Theo
Sớ giải câu”các lậu hoặc không luân lưu (āsavā
nānussavanti)” chỉ cho phiền não thô tế đối với sáu căn, sáu
cảnh, sáu thức. Câu
“không tự khinh chính mình (attānañ ca nāvajānāmi) theo Sớ
giải chỉ cho sự tự tại không khinh rẻ (omāna) (mà cũng không
bám víu) thân tâm. Bản dịch của HT Minh Châu là “không chấp
nhận tự ngã” mang ý nghĩa hoàn toàn khác với chánh văn. Không
biết trước câu hỏi (Pubbe appaṭisaṃviditaṃ) nên do dự trả
lời vì Tôn giả Sāriputta muốn biết dụng ý của Đức Phật. Theo
Sớ giải câu “đã thâm nhập nguyên lý các pháp
(dhammadhātu) chỉ cho
sự quán triệt duyên khởi bằng tuệ giác của bậc đại đệ tử
Phật (paccayākārassa
vivaṭabhāvadassanasamatthaṃ sāvakapāramīñāṇaṃ). Tỳ kheo Giác Đẳng soạn dịch.
-ooOoo- |