|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Tư, ngày 08 tháng 03, 2023 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập II – Thiên Nhân Duyên Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (b) - Phẩm Kalāra – Vị Sát Đế Lỵ (S. ii, 56)
Bài 33. Kinh Chủng Trí (Ñāṇavatthusuttaṃ)
-THẮP SÁNG TUỆ GIÁC.
Trí tuệ có thể thí dụ như ngọn lửa: cho dù đốt bằng nhiên
liệu gì thì lửa vẫn là lửa. Đối với các duyên khởi, dù pháp
nào nếu được quán chiếu quan bốn phương diện: bản chất, nhân
tập khởi, sự chấm dứt, và con đường đưa tới chấm dứt thì đều
là những nền tảng sanh tuệ giác. Đó là sự giác ngộ truyền
thống dùng có truyền thừa hay không. Pháp tánh nhất như vốn
không thay đổi dù được biết hay không được biết; dù được
giác ngộ trong quá khứ, hiện tại, hay tương lai. Bài kinh
nẩy là một áo nghĩa về sự kết hợp tứ đế và thập nhị duyên
khởi; về tương quan pháp học và pháp hàn; về tuệ giác và
thực tại.
Sāvatthiyaṃ...pe... ‘‘catucattārīsaṃ vo, bhikkhave,
ñāṇavatthūni desessāmi, taṃ suṇātha, sādhukaṃ manasi
karotha; bhāsissāmī’’ti. ‘‘Evaṃ, bhante’’ti kho te bhikkhū
bhagavato paccassosuṃ. Bhagavā etadavoca –
‘‘Katamāni [katamāni ca (syā. kaṃ. pī. ka.)], bhikkhave,
catucattārīsaṃ ñāṇavatthūni? Jarāmaraṇe ñāṇaṃ,
jarāmaraṇasamudaye ñāṇaṃ, jarāmaraṇanirodhe ñāṇaṃ,
jarāmaraṇanirodhagāminiyā paṭipadāya ñāṇaṃ; jātiyā ñāṇaṃ,
jātisamudaye ñāṇaṃ, jātinirodhe ñāṇaṃ, jātinirodhagāminiyā
paṭipadāya ñāṇaṃ; bhave ñāṇaṃ, bhavasamudaye ñāṇaṃ,
bhavanirodhe ñāṇaṃ, bhavanirodhagāminiyā paṭipadāya ñāṇaṃ;
upādāne ñāṇaṃ, upādānasamudaye ñāṇaṃ, upādānanirodhe ñāṇaṃ,
upādānanirodhagāminiyā paṭipadāya ñāṇaṃ; taṇhāya ñāṇaṃ,
taṇhāsamudaye ñāṇaṃ, taṇhānirodhe ñāṇaṃ,
taṇhānirodhagāminiyā paṭipadāya ñāṇaṃ; vedanāya ñāṇaṃ,
vedanāsamudaye ñāṇaṃ, vedanānirodhe ñāṇaṃ,
vedanānirodhagāminiyā paṭipadāya ñāṇaṃ; phasse ñāṇaṃ...pe...
saḷāyatane ñāṇaṃ... nāmarūpe ñāṇaṃ... viññāṇe ñāṇaṃ...
saṅkhāresu ñāṇaṃ, saṅkhārasamudaye ñāṇaṃ, saṅkhāranirodhe
ñāṇaṃ, saṅkhāranirodhagāminiyā paṭipadāya ñāṇaṃ. Imāni
vuccanti, bhikkhave, catucattārīsaṃ ñāṇavatthūni.
Tại
Sāvatthi.
--
Này
chư Tỳ Khưu,
Ta sẽ thuyết cho các
thầy
về bốn mươi bốn chủng
trí. Hãy
lắng
nghe và suy
nghiệm, Ta sẽ nói.
Chư tỳ khưu
trả lời:
--
Dạ
vâng, bạch Đức
Thế Tôn.
Đức
Thế Tôn nói như sau:
-- Này chư Tỳ Khưu, thế nào là bốn mươi bốn
chủng
trí?
Trí nhận rõ
già chết; trí nhận rõ nhân tập khởi
già chết; trí nhận rõ sự chấm dứt già chết; trí nhận rõ con
đường dẫn đến chấm dứt già chết. Trí nhận rõ hữu … Trí nhận rõ thủ.. Trí nhận rõ ái… Trí nhận rõ thọ… Trí nhận rõ xúc … Trí nhận rõ lục nhập… Trí nhận rõ danh sắc… Trí nhận rõ thức…
Trí nhận rõ hành; trí nhận rõ nhân tập khởi hành; trí nhận
rõ sự chấm dứt hành; trí nhận rõ con đường dẫn đến chấm dứt
hành.
--
Này
chư Tỳ Khưu,
đây là bốn mươi bốn
chủng
trí.
‘‘Katamañca, bhikkhave, jarāmaraṇaṃ? Yā tesaṃ tesaṃ sattānaṃ
tamhi tamhi sattanikāye jarā jīraṇatā khaṇḍiccaṃ pāliccaṃ
valittacatā āyuno saṃhāni indriyānaṃ paripāko, ayaṃ vuccati
jarā. Yā tesaṃ tesaṃ sattānaṃ tamhā tamhā sattanikāyā cuti
cavanatā bhedo antaradhānaṃ maccu maraṇaṃ kālakiriyā
khandhānaṃ bhedo kaḷevarassa nikkhepo. Idaṃ vuccati maraṇaṃ.
Iti ayañca jarā, idañca maraṇaṃ; idaṃ vuccati, bhikkhave,
jarāmaraṇaṃ.
‘‘Jātisamudayā jarāmaraṇasamudayo; jātinirodhā
jarāmaraṇanirodho; ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo
jarāmaraṇanirodhagāminī paṭipadā, seyyathidaṃ –
sammādiṭṭhi...pe... sammāsamādhi.
‘‘Yato kho, bhikkhave, ariyasāvako evaṃ jarāmaraṇaṃ
pajānāti, evaṃ jarāmaraṇasamudayaṃ pajānāti, evaṃ
jarāmaraṇanirodhaṃ pajānāti, evaṃ jarāmaraṇanirodhagāminiṃ
paṭipadaṃ pajānāti, idamassa dhamme ñāṇaṃ. So iminā dhammena
diṭṭhena viditena akālikena pattena pariyogāḷhena
atītānāgatena yaṃ neti.
‘‘Ye kho keci atītamaddhānaṃ samaṇā vā brāhmaṇā vā
jarāmaraṇaṃ abbhaññaṃsu, jarāmaraṇasamudayaṃ abbhaññaṃsu,
jarāmaraṇanirodhaṃ abbhaññaṃsu, jarāmaraṇanirodhagāminiṃ
paṭipadaṃ abbhaññaṃsu, sabbe te evameva abbhaññaṃsu,
seyyathāpāhaṃ etarahi.
‘‘Yepi hi keci anāgatamaddhānaṃ samaṇā vā brāhmaṇā vā
jarāmaraṇaṃ abhijānissanti, jarāmaraṇasamudayaṃ
abhijānissanti, jarāmaraṇanirodhaṃ abhijānissanti,
jarāmaraṇanirodhagāminiṃ paṭipadaṃ abhijānissanti, sabbe te
evameva abhijānissanti, seyyathāpāhaṃ etarahīti. Idamassa
anvaye ñāṇaṃ.
Này chư Tỳ Khưu, thế nào là già, chết? Sự lão hoá của chúng
sanh trong nhiều
sanh loại với già nua, tóc bạc, da nhăn, răng rụng, sức lực
cùng kiệt, các căn suy
yếu. Cái chết của chúng sanh ở nhiều sanh loại chính là sự
tiêu vong, mệnh chung,
sinh mạng kết thúc, tuổi thọ không còn, các uẩn biến hoại,
thân xác quăng bỏ.
Đây gọi chung la chết già chết.
Do sanh tập khởi nên già chết tập khởi. Do sanh
chấm dứt
nên già chết
chấm dứt.
Ðây là
thánh đạo tám chi phần
đưa đến
chấm dứt
già chết tức là chánh tri kiến,
chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh
tinh tấn, chánh niệm,
chánh định.
Này chư Tỳ Khưu, vị
thánh
đệ tử
nhận
biết
già
chết như vậy,
nhận
biết
nhân
tập khởi già chết như vậy, biết
sự chấm dứt
già chết
như vậy,
biết con đường đưa đến
sự chấm dứt
già chết như vậy.
Ðây là pháp trí của vị ấy.
Vị ấy với
cơ sở
này
do thấy, do chứng, do hiểu, do thâm nhập trực tiếp, từ đó,
hướng đến cái nhìn đối với quá khứ và tương lai:
Những sa môn, bà la môn nào trong quá khứ đã trực nhận già
chết, nhân tập khởi già chết, sự chấm dứt già chết, con
đường đưa đến chấm dứt già chết đều trực nhận giống như ta.
Những sa môn, bà la môn nào trong tương lai sẽ liễu ngộ già
chết, nhân tập khởi già chết, sự chấm dứt già chết, con
đường đưa đến chấm dứt già chết đều trực nhận giống như ta.
Ðây tức là
tục diệm trí
của vị ấy.
Này chư Tỳ Khưu, vị
thánh
đệ tử
thanh tịnh hoá, thuần tịnh hoá hai thứ trí là pháp trí và
tục diệm trí vị ấy gọi là thánh đệ tử viên mãn tri kiến. Vị
thánh đệ tử ấy được gọi là đạt tri kiến, đạt tầm nhìn, đã
đạt được chân diệu pháp này, thấy được chân diệu pháp này;
đã đầy đủ hữu học trí, đã đầy đủ hữu học minh, đã nhập pháp
lưu, là bậc thánh minh tuệ giác, đã đứng ngay tại Cửa Bất
Tử.
‘‘Katamā ca, bhikkhave, jāti...pe... katamo ca, bhikkhave,
bhavo... katamañca, bhikkhave, upādānaṃ... katamā ca,
bhikkhave taṇhā... katamā ca, bhikkhave, vedanā... katamo
ca, bhikkhave, phasso... katamañca, bhikkhave,
saḷāyatanaṃ... katamañca, bhikkhave, nāmarūpaṃ ...
katamañca, bhikkhave, viññāṇaṃ... katame ca, bhikkhave,
saṅkhārā? Tayome, bhikkhave, saṅkhārā – kāyasaṅkhāro,
vacīsaṅkhāro, cittasaṅkhāroti. Ime vuccanti, bhikkhave,
saṅkhārā.
‘‘Avijjāsamudayā saṅkhārasamudayo; avijjānirodhā
saṅkhāranirodho; ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo
saṅkhāranirodhagāminī paṭipadā, seyyathidaṃ –
sammādiṭṭhi...pe... sammāsamādhi.
‘‘Yato kho, bhikkhave, ariyasāvako evaṃ saṅkhāre pajānāti,
evaṃ saṅkhārasamudayaṃ pajānāti, evaṃ saṅkhāranirodhaṃ
pajānāti, evaṃ saṅkhāranirodhagāminiṃ paṭipadaṃ pajānāti,
idamassa dhamme ñāṇaṃ. So iminā dhammena diṭṭhena viditena
akālikena pattena pariyogāḷhena atītānāgatena yaṃ neti.
‘‘Ye kho keci atītamaddhānaṃ samaṇā vā brāhmaṇā vā saṅkhāre
abbhaññaṃsu, saṅkhārasamudayaṃ abbhaññaṃsu, saṅkhāranirodhaṃ
abbhaññaṃsu, saṅkhāranirodhagāminiṃ paṭipadaṃ abbhaññaṃsu,
sabbe te evameva abbhaññaṃsu, seyyathāpāhaṃ etarahi.
‘‘Yepi hi keci anāgatamaddhānaṃ samaṇā vā brāhmaṇā vā
saṅkhāre abhijānissanti, saṅkhārasamudayaṃ abhijānissanti,
saṅkhāranirodhaṃ abhijānissanti, saṅkhāranirodhagāminiṃ
paṭipadaṃ abhijānissanti, sabbe te evameva abhijānissanti,
seyyathāpāhaṃ etarahi. Idamassa anvaye ñāṇaṃ.
‘‘Yato kho, bhikkhave, ariyasāvakassa imāni dve ñāṇāni
parisuddhāni honti pariyodātāni – dhamme ñāṇañca anvaye
ñāṇañca. Ayaṃ vuccati, bhikkhave, ariyasāvako diṭṭhisampanno
itipi, dassanasampanno itipi, āgato imaṃ saddhammaṃ itipi,
passati imaṃ saddhammaṃ itipi, sekkhena ñāṇena samannāgato
itipi, sekkhāya vijjāya samannāgato itipi, dhammasotaṃ
samāpanno itipi, ariyo nibbedhikapañño itipi, amatadvāraṃ
āhacca tiṭṭhati itipī’’ti. Tatiyaṃ. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hữu?... Và này các Tỷ-kheo, thế nào là thủ?... Và này các Tỷ-kheo, thế nào là ái?... Và này các Tỷ-kheo, thế nào là thọ?... Và này các Tỷ-kheo, thế nào là xúc?... Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sáu xứ?... Và này các Tỷ-kheo, thế nào là danh sắc?... Và này các Tỷ-kheo, thế nào là thức?...
[xem Kinh Phân Tích Duyên Sinh (Vibhaṅgasuttaṃ)Tập II –
Thiên Nhân Duyên – Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (a) - Phẩm
Phật Đà (S. ii, 2)]
Này chư Tỳ Khưu, thế nào là hành? Này các Tỷ-kheo, có ba
hành này: thân hành, khẩu hành, ý hành. Này các Tỷ-kheo, đây
gọi là hành.
Do vô minh tập khởi, hành tập khởi. Do vô minh diệt, hành
diệt. Ðây là Thánh đạo tám chi phần đưa đến đoạn diệt hành
tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh
nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.
Này chư Tỳ Khưu, vị thánh đệ tử nhận biết hành như vậy, nhận
biết nhân tập khởi hành như vậy, biết sự chấm dứt hành như
vậy, biết con đường đưa đến sự chấm dứt hành như vậy.
Ðây là pháp trí của vị ấy.
Vị ấy với cơ sở này do thấy, do chứng, do hiểu, do thâm nhập
trực tiếp, từ đó, hướng đến cái nhìn đối với quá khứ và
tương lai:
Những sa môn, bà la môn nào trong quá khứ đã trực nhận hành,
nhân tập khởi hành, sự chấm dứt hành, con đường đưa đến chấm
dứt hành đều trực nhận giống như ta.
Những sa môn, bà la môn nào trong tương lai sẽ liễu ngộ
hành, nhân tập khởi hành, sự chấm dứt hành, con đường đưa
đến chấm dứt hành đều trực nhận giống như ta.
Ðây tức là tục diệm trí của vị ấy.
Này chư Tỳ Khưu, vị thánh đệ tử thanh tịnh hoá, thuần tịnh
hoá hai thứ trí là pháp trí và tục diệm trí vị ấy gọi là
thánh đệ tử viên mãn tri kiến. Vị thánh đệ tử ấy được gọi là
đạt tri kiến, đạt tầm nhìn, đã đạt được chân diệu pháp này,
thấy được chân diệu pháp này; đã đầy đủ hữu học trí, đã đầy
đủ hữu học minh, đã nhập pháp lưu, là bậc thánh minh tuệ
giác, đã đứng ngay tại Cửa Bất Tử.
Chú Thích
Đức Phật thuyết bài kinh nầy với nguyên văn dài gồm 11 phân
đoạn đề cập 44 chủng trí.
Vì chánh kinh quá dài nên nguyên văn trong chánh tạng
ghi rõ đoạn đầu về già chết và đoạn cuối về hành. 9 phân
khúc ở giữa: sanh, hữu, thủ, ái, thọ, xúc, lục nhập, danh
sắc, và thức cần được hiểu như đoạn đầu về già chết và đoạn
cuối về hành.
Khi giảng cho thực hành Đức Phật nói lên từng chi pháp vì ở
mỗi chi pháp một số chư tỳ khưu có thể lãnh hội liễu chứng.
Đây là sự khác biệt trong cách trình bày giữa pháp học và
pháp hành. Về lý thuyết thì có thể nói nhanh gọn, nhưng về
thực hành thì cần nêu rõ từng pháp một.
Chữ vatthu có nhiều nghĩa trong Phạm ngữ: nền tảng, cơ sở,
trường hợp, câu chuyện, nền nhà… Ở đây chữ ñāṇavatthu dịch
là “chủng trí” với nghĩa là những thứ trí tuệ dựa trên nền
tảng nào đó.
Định nghĩa từng chi phần của duyên khởi có thể tìm thấy ở
Kinh Phân Tích Duyên Sinh (Vibhaṅgasuttaṃ) Tập II – Thiên
Nhân Duyên – Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (a) - Phẩm Phật
Đà (S. ii, 2)
44 chủng trí gồm sự hiểu biết 11 pháp (già chết, sanh, hữu,
thủ, ái, thọ, xúc, lục nhập, danh sắc, thức, và hành) với
bốn khía cạnh (thực trạng, nhân tập khởi, sự chấm dứt, và
con đường dẫn đến chấm dứt .
Vô minh được đề cập trong phân đoạn hành nhưng cũng hàm ý là
sự không hiểu về tất cả duyên sinh, nhân tập khởi duyên
sinh, sự chấm dứt các duyên sinh, và còn đường dẫn đến chấm
dứt các duyên sinh. Ngược lại sự hiểu biết qua bốn khía cạnh
trên gọi là minh.
Thuật ngữ dhamme
ñāṇa
– pháp trí - ở đây chỉ cho sự hiểu biết các duyên sinh qua
bốn khía cạnh của hệ luận tứ đế.
Thuật ngữ anvaye ñāṇa - tục diệm trí - chỉ cho trí tuệ nhận
biết tính đồng nhất tự nhiên trong sự liễu ngộ duyên sinh
của các bậc giác ngộ dù trong quá khứ, hiện tại, tương lai.
Anvaye có nghĩa là truyền thừa nên dịch là tục diệm. Dù là
tự thân nhận hiểu nhưng tương thích với truyền thống không
sai khác (cũng gọi là nhất như) như ánh trăng hôm nay cũng
giống ánh trăng của ngàn năm trước.
Sự đại ngộ phải bao gồm cả hai pháp trí và tục diệm trí.
Theo Sớ giải câu “Iminā dhammena diṭṭhena viditena akālikena
pattena pariyogāḷhena (do thấy, do chứng, do hiểu, do thâm
nhập trực tiếp (tri kiến nầy) tương ứng với sự mô tả vể pháp
nhãn (dhammacakkhu): thấy pháp (diṭṭhadhammo), chứng pháp
(pattadhammo), hiểu pháp (viditadhammo), thâm nhập pháp
(pariyogāḷhadhammo)
Tỳ kheo Giác Đẳng soạn dịch.
-ooOoo- |