|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Bảy, ngày 18 tháng 03, 2023 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYATập II – Thiên Nhân Duyên Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (b) - Phẩm Kalārakhattiya (S. ii, 65).
Bài 38. Kinh Tư Niệm (Cetanāsuttaṃ)
-SỰ PHỨC TẠP CỦA TÂM THỨC.
Tâm thức đóng vai trò then chốt trong sự tồn tại của dòng
sanh tử. Tâm thức sanh khởi và tồn tại do những tác động
trực tiếp hay gián tiếp. Vô minh và ái phủ bóng cả hành
trình dài trong cuộc luân hồi. Ngay trong mỗi tâm thức tạo
tác thì tư niệm đóng vai trò đầu não. Ngày nào còn tư niệm
tạo tác thì còn vẽ vời chuyện tương lai, dù hay hoặc dở, dù
tốt hay xấu. Trong bài kinh nầy Đức Phật dạy về duyên sinh
khởi từ tư niệm tạo tác. Một lần nữa cho thấy sự tế nhị vô
cùng trong minh hoạ giáo lý duyên khởi.
Sāvatthinidānaṃ. ‘‘Yañca, bhikkhave, ceteti yañca pakappeti
yañca anuseti, ārammaṇametaṃ
hoti viññāṇassa ṭhitiyā. Ārammaṇe sati patiṭṭhā viññāṇassa
hoti. Tasmiṃ patiṭṭhite
viññāṇe virūḷhe āyatiṃ punabbhavābhinibbatti hoti. Āyatiṃ
punabbhavābhinibbattiyā sati āyatiṃ jāti jarāmaraṇaṃ
sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā sambhavanti. Evametassa
kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo hoti’’.
Ngự ở Sāvatthi.
-- Này chư Tỳ Khưu, cái gì một người chủ tâm tạo tác, có
toan tính, và có bất cứ
khuynh hướng tiềm miên nào thì cái đó trở thành cơ sở
cho thức trú. Khi có cơ sở thì thức được thiết lập. Khi thức
thiết lập thì tăng trưởng và sanh hữu ở tương lai đưọc tạo
thành. Khi sanh hữu ở tương lai tạo thành thì già chết, sầu,
bi, khổ, ưu, ai sanh khởi. Như vậy là sự tập khởi của toàn
bộ khổ uẩn này.
‘‘No ce, bhikkhave, ceteti no ce pakappeti, atha ce anuseti,
ārammaṇametaṃ hoti viññāṇassa ṭhitiyā. Ārammaṇe sati
patiṭṭhā viññāṇassa hoti. Tasmiṃ patiṭṭhite viññāṇe virūḷhe
āyatiṃ punabbhavābhinibbatti hoti. Āyatiṃ
punabbhavābhinibbattiyā sati āyatiṃ jātijarāmaraṇaṃ
sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā sambhavanti. Evametassa
kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo hoti.
-- Này chư Tỳ Khưu, một người không có chủ tâm tạo tác,
không có toan tính, nhưng có khuynh hướng tiềm miên thì vẫn
có cơ sở cho thức trú. Khi có cơ sở thì thức được thiết lập.
Khi thức thiết lập thì tăng trưởng và sanh hữu ở tương lai
đưọc tạo thành. Khi sanh hữu ở tương lai tạo thành thì già
chết, sầu, bi, khổ, ưu, ai sanh khởi. Như vậy là sự tập khởi
của toàn bộ khổ uẩn này.
‘‘Yato ca kho, bhikkhave, no ceva ceteti no ca pakappeti no
ca anuseti, ārammaṇametaṃ na hoti viññāṇassa ṭhitiyā.
Ārammaṇe asati patiṭṭhā viññāṇassa na hoti. Tadappatiṭṭhite
viññāṇe avirūḷhe āyatiṃ punabbhavābhinibbatti na hoti.
Āyatiṃ punabbhavābhinibbattiyā asati āyatiṃ jātijarāmaraṇaṃ
sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā nirujjhanti. Evametassa
kevalassa dukkhakkhandhassa nirodho hotī’’ti. Aṭṭhamaṃ.
-- Này chư Tỳ Khưu, một người không có chủ tâm tạo tác,
không có toan tính, không có khuynh hướng tiềm miên thì
không có có cơ sở cho thức trú. Khi có cơ sở cho
thức được thiết lập.
Khi thức không thiết lập và tăng trưởng thì sanh hữu ở tương
lai không đưọc tạo thành. Khi sanh hữu ở tương lai không tạo
thành thì già chết, sầu, bi, khổ, ưu, ai sanh khởi. Như vậy
là chấm dứt toàn bộ khổ uẩn này.
Chú Thích
Phật ngôn trong bài kinh nầy đề cập tới duyên khởi nhưng
không dùng từ ngữ thường dùng trong thập nhị nhân duyên.
Tiến trình cấu tạo nên dòng sanh tử luân hồi được Phật dạy
như sau:
a.
Do khuynh
hướng tiềm ẩn, mà theo Sớ giải, đặc biệt là vô minh tiềm
miên và ái tiềm miên chi phối chủ tâm tạo tác hay tư niệm.
b.
Tư niệm
bhi phối bởi ái chấp và kiến chấp
c.
Chính tư
niệm ấy tàm duyên tạo nên thức hay tâm tạo nghiệp.
d.
Khi tâm
tạo tác, ở đây gọi là thức, hiện khởi thì tạo quả tái sanh
trong tương lai, và như vậy, toàn bộ khổ uẩn tập khởi. Một
số từ vựng trong bài kinh nầy cần đặc biệt lưu ý để hiểu ý
nghĩa:
Theo Sớ giải thì chữ ceteti là chủ tâm tạo tác, hay tư niệm,
bao gồm cả thiện và bất thiện trong tam giới. Chữ
pakappeti – toan tính – chỉ cho sự thêu dệt do ái chấp và
kiến chấp (taṇhādiṭṭhikappā). Chữ
anuseti – khuynh hướng tiềm ẩn - chỉ cho các pháp tiềm miên
(anusaya) Cụm
từ ārammaṇam
etaṃ hoti mang nghĩa “là duyên tạo” dù thông thường, đặc
biệt là trong Thắng Pháp, ārammaṇa chỉ cho cảnh hay sở
duyên. Cụm
từ patiṭṭhā viññāṇassa chỉ cho
sự thiết lập thức trong lúc cụm từ viññāṇassa ṭhitiyā là sự
duy trì thức. Chữ viññāṇa - thức - ở đây là nghiệp thức tức
những tâm bất thiện và tâm thiện hiệp thế chứ không phải là
quả thức (thường hiểu là thức tái sanh khi nói về duyên
khởi). Như
vậy vô minh và ái được xem là khuynh hướng tiềm ẩn vì mặc dù
có khi không hiện khởi nhưng vẫn chi phối tất cả nghiệp hữu.
Chủ tâm tạo tác hay tư niệm được xem là hành và thức trong
duyên khởi. Từ đó tạo nên hệ quả và sự tái tục dòng sinh tử
trong tương lai.
Đoạn thứ hai nói về mãnh lực của vô minh và ái dù không có
mặt trong các tâm thiện hiệp thế nhưng vẫn chi phối.
Đoạn thứ ba nói về vị a la hán hoàn toàn không tạo nghiệp và
tạo ra quả luân hồi sanh tử vì tư niệm tạo tác không còn và
những khuynh hướng tiềm miên, đặc biệt là vô minh và ái,
hoàn chấm dứt. Một
điểm quan trọng khác của bài kinh nầy là khi nói về tư niệm
và sự toan tính thì đều liên hệ tới tương lai. Ở đây là một
khía cạnh để hiểu tại sao niết bàn là pháp vượt thời gian. Tỳ kheo Giác Đẳng soạn dịch.
-ooOoo- |