|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Ba, ngày 21 tháng 03, 2023 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYATập II – Thiên Nhân Duyên Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (b) - Phẩm Kalārakhattiya (S. ii, 66).
Bài 39. Kinh Tư Niệm II (Dutiyacetanāsuttaṃ)
-KHỞI TỪ TƯ NIỆM.
Tư niệm – cetanā
– là chủ tâm tạo tác. Thường được biết là ý niệm hay khởi
niệm. Đức Phật dạy đó chính là nghiệp trong ý nghĩa uyên
nguyên nhất. Tư niệm thể hiện qua sở hành để rồi từ đó tạo
nên dây chuyền năng sở của dòng sinh tử. Mặc dù thuộc tánh
tư (cetanā cetasika) có mặt trong tất cả tâm nhưng chỉ có
thuộc tánh tư trong các tâm thiện hiệp thế hay bất thiện mới
tạo quả dị thục. Và theo duyên khởi thì tất cả tâm tạo quả
dị thục đều bị chi phối bởi “khuynh hướng tiềm ẩn” là vô
minh và ái. Còn tạo tác là còn bị hai thức tiềm miên đó chi
phối. Và có nghĩa là còn sanh tử. Những gì được tạo thành do
tác động của vô minh và ái đều bất toàn và đầy hệ luỵ. Điều
nầy không thể lãnh hội đơn giản nếu không nhận rõ tác động
dây chuyền.
Sāvatthiyaṃ viharati...pe... ‘‘yañca, bhikkhave, ceteti
yañca pakappeti yañca anuseti, ārammaṇametaṃ hoti viññāṇassa
ṭhitiyā. Ārammaṇe sati patiṭṭhā viññāṇassa hoti. Tasmiṃ
patiṭṭhite viññāṇe virūḷhe nāmarūpassa avakkanti hoti. Nāmarūpapaccayā saḷāyatanaṃ;
saḷāyatanapaccayā phasso; phassapaccayā vedanā...pe...
taṇhā... upādānaṃ... bhavo... jāti... jarāmaraṇaṃ
sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā sambhavanti. Evametassa
kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo hoti’’.
Ngự ở Sāvatthi. -- Này chư Tỳ Khưu, cái gì một người tư niệm, tư lường, và có bất
cứ khuynh hướng
tiềm ẩn nào thì cái đó trở thành cơ sở cho thức trú. Khi có
cơ sở thì thức được thiết lập. Khi thức thiết lập thì danh
sắc hạ sanh. Với danh sắc là duyên, xúc hiện khởi. Với xúc…
Với thọ…. Với ái… Với thủ… Với hữu …Với sanh làm duyên
già chết, sầu, bi,
khổ, ưu, ai sanh khởi. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ
khổ uẩn này.
‘‘No ce, bhikkhave, ceteti no ce pakappeti, atha ce
anuseti, ārammaṇametaṃ hoti viññāṇassa ṭhitiyā. Ārammaṇe
sati patiṭṭhā viññāṇassa hoti. Tasmiṃ patiṭṭhite viññāṇe
virūḷhe nāmarūpassa avakkanti hoti. Nāmarūpapaccayā
saḷāyatanaṃ...pe... evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa
samudayo hoti.
-- Này chư Tỳ Khưu, một người
không có tư niệm,
không có
tư lường, và
nhưng
có bất cứ
khuynh hướng tiềm ẩn nào thì cái đó trở thành cơ sở
cho thức trú. Khi có cơ sở thì thức được thiết lập. Khi thức
thiết lập thì danh sắc hạ sanh. Với danh sắc là duyên, xúc
hiện khởi. Với xúc… Với thọ…. Với ái… Với thủ… Với hữu …Với
sanh làm duyên
già chết, sầu, bi, khổ, ưu, ai sanh khởi. Như vậy là sự tập
khởi của toàn bộ khổ uẩn này.
‘‘Yato ca kho, bhikkhave, no ceva ceteti no ca pakappeti
no ca anuseti, ārammaṇametaṃ na hoti viññāṇassa ṭhitiyā.
Ārammaṇe asati patiṭṭhā viññāṇassa na hoti. Tadappatiṭṭhite
viññāṇe avirūḷhe nāmarūpassa avakkanti na hoti.
Nāmarūpanirodhā saḷāyatananirodho...pe... evametassa
kevalassa dukkhakkhandhassa nirodho hotī’’ti. Navamaṃ.
-- Này chư Tỳ Khưu, một người không có tư niệm, không có
tư lường, và
không có bất cứ
khuynh hướng tiềm ẩn nào thì
không có cơ sở cho thức trú. Không có cơ sở thì thức không được thiết lập. Khi thức
không thiết lập
thì danh sắc
không
hạ sanh. Với
danh sắc
chấm dứt, xúc
chấm dứt. Với xúc…
Với thọ…. Với ái… Với thủ… Với hữu …Với sanh
chấm dứt, già chết,
sầu, bi, khổ, ưu, ai
chấm dứt. Như vậy là sự
chấm dứt của toàn bộ khổ uẩn này.
Chú Thích Bài kinh nầy, nói một cách tổng quát, thì ý nghĩa tương tự như
bài kinh trước và cũng gần giống bài kinh sau chỉ có điều là
từ tư niệm đến già chết, sầu, bi, khổ, ưu, ai được nêu rõ
từng phần của duyên khởi như hành duyên thức, thức duyên
danh sắc, danh sắc duyên lục nhập.
Sự tuyên thuyết duyên khởi trong pháp thoại nầy của Đức Phật
cho thấy duyên khởi có thể đề cập từ bất cứ mắt xích nào dù
là già chết hay ái hoặc xúc… Ngay cả một chủng tử trong hành
là tư niệm (cetana). Đó là cách nói cái hỗn độn một thứ lớp
(being chaotic orderly). Thực tại là vậy. Sự minh hoạ thực
tại cũng vậy. Nếu hiểu duyên khởi chỉ có một khởi đầu và cứ
thế sanh khởi một cách thứ lớp trật tự thì giống như quan
niệm một trận đánh đấm diễn ra theo thứ tự của một bài
quyền. Nhưng không phải vì vậy mà không nói về những tác
động trực tiếp của từng duyên sinh. Chữ avakkanti trong câu nāmarūpassa avakkanti hoti được dịch
là hạ sinh mang hàm nghĩ nói đến danh sắc là nói đến chủng
loại của chúng sanh. Sanh làm chư thiên, nhân loại, bàng
sinh … dù có mắt, tai, mũi. lưỡi… nhưng các giác quan không
giống nhau do ở chủng loại (These aggregates are also
conditioned by the nature of the particular plane of
existence, depending on birth say as a human being, an
animal, or a celestial being. Buddhadhamma, Payutto p. 332).
Thức duyên danh sắc, danh sắc duyên lục nhập là những mấu
chốt thường không được hiểu chính xác. Tỳ kheo Giác Đẳng soạn dịch.
-ooOoo- |