|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Tư, ngày 22 tháng 03, 2023 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYATập II – Thiên Nhân Duyên Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (b) - Phẩm Kalārakhattiya (S. ii, 66).
Bài 40. Kinh Tư Niệm III (Tatiyacetanāsuttaṃ)
-VÔ SANH VÔ TỬ VÔ KHỨ LAI.
Theo Phật Pháp
thì tâm thái trong giờ phút lâm chung đóng vai trò quyết
định cho cảnh giới tái sanh. Chính vì vậy tư niệm thiện rất
quan trọng cho sự sanh vào cảnh giới an lạc. Người hiểu Phật
Pháp luôn cố gắng từ bỏ những ác niệm hay tư niệm phiền não
vì nếu cái chết đến đột ngột thì cõi tái sanh không phải
cảnh giới an lạc. Tất nhiên cứu cánh của đệ tử Phật không là
sự tầm cầu sanh tử ở bất cứ chốn nào trong tam giới. Hiểu
rốt ráo là khi vô minh và ái dục đoạn tật thì trầm luân sanh
tử không còn. Điểm tế nhị nầy chỉ có thể cảm nhận quan sự
hiểu biết về duyên khởi của toàn bộ khổ uẩn.
Sāvatthiyaṃ viharati...pe... ‘‘yañca, bhikkhave, ceteti
yañca pakappeti yañca anuseti ārammaṇametaṃ hoti viññāṇassa
ṭhitiyā. Ārammaṇe sati patiṭṭhā viññāṇassa hoti. Tasmiṃ
patiṭṭhite viññāṇe virūḷhe nati hoti. Natiyā sati āgatigati
hoti. Āgatigatiyā sati cutūpapāto hoti. Cutūpapāte sati
āyatiṃ jātijarāmaraṇaṃ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā
sambhavanti. Evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo
hoti’’.
Ngự ở Sāvatthi. -- Này chư
Tỳ Khưu,
cái gì một người
tư niệm, tư lường,
có khuynh hướng
tiềm ẩn nào thì cái đó trở thành cơ sở cho thức được thiết
lập.
Khi thức được thiết lập và tăng trưởng thì có
thiên chấp . Có thiên chấp thì có khứ lai. Có khứ lai thì có
tử sanh. Có tử sanh, có tái sanh thì có
già
chết, sầu, bi, khổ, ưu, ai sanh khởi. Như vậy là sự tập khởi
của toàn bộ khổ uẩn này.
‘‘No ce, bhikkhave, ceteti no ce pakappeti atha ce
anuseti, ārammaṇametaṃ hoti viññāṇassa ṭhitiyā. Ārammaṇe
sati patiṭṭhā viññāṇassa hoti. Tasmiṃ patiṭṭhite viññāṇe
virūḷhe nati hoti. Natiyā sati āgatigati hoti. Āgatigatiyā
sati cutūpapāto hoti. Cutūpapāte sati āyatiṃ jātijarāmaraṇaṃ
sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā sambhavanti. Evametassa
kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo hoti.
-- Này chư Tỳ
Khưu, một người không có tư niệm, không có tư lường, nhưng
có khuynh hướng
tiềm ẩn nào thì vẫn có cơ sở cho thức được thiết lập. Khi
thức được thiết lập và tăng trưởng thì có thiên chấp . Có
thiên chấp thì có khứ
lai. . Có khứ lai thì có tử sanh. Có tử sanh, có tái sanh
thì có già chết, sầu, bi, khổ, ưu, ai sanh khởi. Như vậy là
sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.
‘‘Yato ca kho, bhikkhave, no ceva ceteti no ca pakappeti
no ca anuseti, ārammaṇametaṃ na hoti viññāṇassa ṭhitiyā.
Ārammaṇe asati patiṭṭhā viññāṇassa na hoti. Tadappatiṭṭhite
viññāṇe avirūḷhe nati na hoti. Natiyā asati āgatigati na hoti. Āgatigatiyā asati
cutūpapāto na hoti. Cutūpapāte asati āyatiṃ jāti jarāmaraṇaṃ
sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā nirujjhanti. Evametassa
kevalassa dukkhakkhandhassa nirodho hotī’’ti. Dasamaṃ.
-- Này chư Tỳ Khưu, một người không có tư niệm, không có
tư lường,
không khuynh hướng tiềm ẩn
thì không cơ sở cho
thức được thiết lập. Khi thức không được thiết lập
và tăng trưởng thì không có khuynh hướng.
Không có khuynh hướng
thì không có khứ lai. Không có khứ lai thì không có tử sanh.
Không có tử sanh, không có tái sanh thì không có già chết,
sầu, bi, khổ, ưu, ai sanh khởi. Như vậy là sự chấm dứt của
toàn bộ khổ uẩn này.
Chú Thích
Bài kinh nầy, cũng giống như hai bài kinh trước, duyên sinh
được khởi từ tư niệm trong chi hành và kết thúc với sự tập
khởi của toàn bộ khổ uẩn. Tuy vậy phần ở giữa lại đặc biệt
đề cập đến những gì xảy ra trong dòng tâm thức ở giây phút
cận tử.
Theo Sớ Giải chữ nati – thiên chấp – là sự nghiêng nặng hay
thiên về là khuynh hướng đặt nặng cái gì đó
(namanaṭṭhena) như
hướng tới điều mình thích hay mong muốn.
Cũng theo Sớ Giải thì cụm từ āgatigati - khứ lai – chỉ cho
ba hiện tướng làm cảnh của giòng tâm thức cận tử là nghiệp,
nghiệp tướng, và thú tướng.
Cụm từ cutūpapāte (cutu +upapāte) - chết và tái sanh ở đây
chỉ cho sự kết thúc một kiếp sống rồi tái sanh vào kiếp kế
tiếp. Tỳ kheo Giác Đẳng soạn dịch.
-ooOoo- |